Vai trò của vi khuẩn trong chăn nuôi - Pdf 26

TIỂU LUẬN
Môn: Vi sinh vật chăn nuôi
Họ và tên: Nguyễn Văn Chung
Tên chuyên đề: Vai trò của vi khuẩn trong chăn nuôi hiện nay.
Bài làm
I. Đặt vấn đề:
Vi khuẩn có thể có ích hoặc có hại cho môi trường và động vật, kể cả con
người. Vi khuẩn là tác nhân gây bệnh về đường ruột rất quan trọng, một số là
tác nhân gây bệnh (pathogen) gây ra các bệnh như: uốn ván, sốt thương hàn,
giang mai, tả, bệnh lây qua thực phẩm và lao. Nhiễm khuẩn huyết, là hội chứng
nhiễm khuẩn toàn cơ thể gây sốc và giãn mạch, hay bộ phận gây ra bởi các vi
khuẩn như streptococcus, staphylococcus hay nhiều loài Gram âm khác.
Trong đất, các vi khuẩn sống trong nốt rễ (rhizosphere) biến nitơ thành
ammoniac bằng các enzyme của chính mình. Một số khác lại dùng phân tử khí
nitơ làm nguồn đạm cho mình, chuyển nitơ thành các hợp chất của nitơ; quá
trình này gọi là quá trình cố định đạm. Nhiều vi khuẩn được tìm thấy sống cộng
sinh trong cơ thể người hay các sinh vật khác. Ví dụ như sự hiện diện của các vi
khuẩn cộng sinh trong ruột già giúp ngăn cản sự phát triển của các vi sinh vật có hại.
Vi khuẩn có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ một cách đáng kinh
ngạc. Một số nhóm vi sinh "chuyên hóa" đóng một vai trò rất quan trọng trong
việc hình thành các khoáng chất từ một số nhóm hợp chất hữu cơ. Ví dụ, sự
phân giải cellulose, một trong những thành phần chiếm đa số trong mô thực vật,
được thực hiện chủ yếu bởi các vi khuẩn hiếu khí thuộc chi Cytophaga. Khả
năng này cũng được con người ứng dụng trong công nghiệp và trong cải thiện
sinh học (bioremediation). Các vi khuẩn có khả năng phân hủy hydrocarbon
trong dầu mỏ thường được dùng để làm sạch các vết dầu loang v.v.
Vi khuẩn cùng với nấm men và nấm mốc được dùng để chế biến
các thực phẩm lên men như phô-mai, dưa chua, nước tương, dưa cải bắp
(sauerkraut), giấm, rượu, và yoghurt. Sử dụng công nghệ sinh học, các vi khuẩn
có thể được "thiết kế" (bioengineer) để sản xuất thuốc trị bệnh như insulin, hay
để cải thiện sinh học đối với các chất thải độc hại làm giảm nguy cơ gây ô nhiễm

không phát hiện vi khuẩn gây bệnh. Nếu tiếp tục dùng kháng sinh để nhằm mục
đich điều trị thì sẽ gây nhiều tác hại hơn. Trong trường hợp này, phải ngừng các
kháng sinh, dùng thuốc chống nấm men nếu loại này phát triển mạnh, thậm chí
bổ sung lại hệ vi khuẩn có lợi để gây lại thế cân bằng của các vi khuẩn.
Trường hợp của bé nhà bạn đã xác định rõ là rối loạn tiêu hoá do nấm, bác sĩ sẽ
cho bé uống thuốc diệt nấm đường ruột, thuốc hoàn toàn không ngấm vào máu,
chỉ có tác dụng tại ruột vì thế không ảnh hưởng gì nhiều đến sức khoẻ của bé.
3
Điều quan trọng là bạn hãy tuân thủ tốt đơn trị liệu của bác sĩ điều trị để có thể
giúp cho bé mau lành bệnh. Cho trẻ đi khám lại nếu thấy bệnh không đỡ.
2.2. Các chế phẩm bổ sung vi khuẩn:
Như chúng ta đã biết sữa tươi là một loại thực phẩm quý, giàu chất dinh
dưỡng như đạm, đường, khoáng, vitamin và các chất khoáng….Sự lên men
lactic được sử dụng rộng rãi trong việc chế biến sữa thành các loại sản phẩm
như sữa chua, bơ, fomai…, vừa tăng giá trị dinh dưỡng, vừa có tính chất chữa
bệnh đường ruột giúp ta ăn ngon miệng, dễ tiêu hóa mà còn có tác dụng bảo
quản lâu hơn sữa tươi.Lên men lactic là quá trình chuyển hóa đường thành acid
lactic nhờ vi sinh vật trong điều kiện yếm khí. Sự lên men lactic đã được biết và
ứng dụng từ lâu đời trong dân gian như lên men chua rau quả, làm sữa chua, sữa đông.
Trong quá trình lên men lactoza, nhiều chủng vi khuẩn không chỉ sản sinh
ra acid lactic mà còn cho hàng loạt các sản phẩm khác như các acid hữu cơ
(axetic, propionic, suxinic…), rượu, este, CO2…Lên men lactic là quá trình lên
men chủ yếu của các sản phẩm sữa.Trong công nghiệp chế biến sữa, vi khuẩn
lactic là nhóm vi khuẩn quan trọng nhất. Chúng thường có dạng hình cầu (hoặc
hình ovan) và hình que. Vi khuẩn lactic lên men được mono và disacarit, nhưng
không phải tất cả các vi sinh vật này đều sử dụng được bất kỳ loại disacarit nào.
Các vi khuẩn lactic không lên men được tinh bột và các polysacarit khác (chỉ có
loài L. delbrueckii là đồng hóa được tinh bột). Một số khác sử dụng được
pentoza và acid xitric mà chủ yếu là các vi khuẩn lên men lactic dị hình. Các vi
khuẩn lactic ngoài việc tạo thành acid còn có một số loài tạo chất thơm

lên niêm mạc đường tiêu hóa của vi khuẩn probiotic được xem là cơ chế quan
trọng để ngăn các tác nhân gây bệnh.
Sản phẩm dùng trong chăn nuôi:
Probio-S: Từ bã khoai mì mà ngay cả động vật cũng chê, các chuyên gia
thuộc Viện Sinh Học Nhiệt Đới đã tạo ra thức ăn kích thích tăng trưởng cho mọi
vật nuôi kể cả thủy sản. ProBio-S lại là chế phẩm dạng lỏng, được sản xuất bằng
cách cho bã tươi vào những bao tải lớn rồi cấy chế phẩm EM-S chứa nhiều
chủng vi sinh vật hữu ích như Bacillus sp., Lactobacillus sp., Saccharomyces sp.
Với tỷ lệ 1lít EM-S/25kg bã (1ml chứa 1010 tế bào vi sinh vật hữu ích).
Ba ngày ủ làm cho lượng vi sinh vật tăng mạnh. Với những chủng vi sinh vật
hữu dụng nói trên, chế phẩm ProBio-S giúp cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật
đường ruột của vật nuôi cũng như giảm lượng vi sinh vật có hại. Nhờ thế mà vật
nuôi tiêu hoá tốt hơn, giảm tỷ lệ bệnh đường ruột, tăng trọng nhanh hơn.
Sản phẩm dùng cho người:
5
Lacclean Gold LAB: là sự kết hợp synbiotic, giữa 5 chủng probiotic có
lượng tế bào sống cao với prebiotic, bổ sung các vitamin. Là thiết kế đặc biệt tốt
cho tiêu hóa, phục hồi nhanh chóng khi bị tiêu chảy và các triệu chứng rối loạn
đường ruột khác.
Chế phẩm Viabiovit dành cho người: Sản phẩm được phối hợp 3 chủng vi
khuẩn trong họ Lactobacillus rất có lợi cho đường ruột. Với hàm lượng vi khuẩn
lớn và dạng đông khô nên khả năng sống bảo tồn lâu khi được bảo quản ở nhiệt
độ thường. các chủng vi sinh vật này sẽ giúp cân bằng hệ thống vi khuẩn có ích
trong đường ruột, giúp thúc đẩy quá trình tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng.
Mỹ phẩm dùng probiotic: Xu hướng probiotics đang ngày càng thịnh
hành. Dòng thực phẩm probiotics sẽ ngày càng phong phú. Những công dụng
của probiotics không chỉ xảy ra ở tế bào ruột. Trong các cuộc nghiên cứu gần
đây, các nhà vi sinh vật học của mỹ phẩm Biotherm còn phát hiện tinh chất PTP
(Pure Thermal Plankton) là một thành phần tự nhiên có tác động mạnh lên các tế
bào da, chúng kích thích và điều chỉnh tế bào da tương tự như các probiotic đã

C rồi chuyển đến bồn rót. Từ nhiệt độ lên men 42 ÷ 60
0
C giảm đột ngột
xuống 10 – 25
0
C sẽ kìm hãm quá trình lên men tiếp tục của vi sinh vật.
2.2.3. Sản xuất Bơ:
Là sản phẩm chế biến từ chất béo sữa và có sử dụng lên men lactic. Chất
béo được tách khỏi sữa trên cơ sở khác nhau về tỷ trọng giữa sữa và chất béo
bằng phương pháp ly tâm. D chất béo = 0, 93 , D sữa = 1, 036. Chất béo sau khi
tách acid và khử trùng Pasteur, để nguội và cấy vi khuẩn lactic thuần khiết để
lên men lactic. Sau khi lên men ta thu được bơ chín có vị hơi chua, mùi thơm dễ
chịu. Bơ chín được đánh nhuyễn, nhào cho đồng nhất, tách nước ra khỏi bơ
thành phẩm. Tùy theo khẩu vị của từng nước có thể thêm muối ăn vào bơ với tỷ
lệ khác nhau tối đa 10%. Sản phẩm được bảo quản ở nhiệt độ lạnh.
2.2.4. Sản xuất Phomai:
Phomai là sản phẩm chế biến từ sữa có sử dụng quá trình lên men lactic.
Đây là môt thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, bảo quản được lâu, rất phổ biến
và thích hợp khẩu vị người châu Âu, châu Mỹ. Quá trình chế biến phomai gồm
những giai đoạn sau:
Giai đoạn lên men sữa, kết tủa casein:
Sữa sau khi đã thanh trùng Pasteur ở 85 – 95
0
C từ 15 - 20 phút, dùng chế
phẩm men Renin và vi khuẩn lactic để kết tủa sữa. Vi khuẩn lactic lên men sinh
ra acid lactic, làm giảm pH môi trường tạo điều kiện thuận lợi để casein kết tủa
và emzym Renin giúp cho giúp cho sự kết tủa cazein tốt hơn, cazein lắng xuống
và thu được Phomai. Ngoài tác dụng kết tủa, Renin còn thủy phân một phần
cazein thành pepton, acid amin…
* Giai đoạn ép nén tách huyết thanh:

năng tạo ra nhiều chất khác là axit acetic (giấm), etanol (rượu ) và vài chất
đường khác. Sự lên men dị chất này thường rất tai hại nhất là làm dưa bị "khú".
Dưa chua có tác dụng kích thích tiêu hoá nhờ có men lactic, ăn ngon miệng
hơn, tốt hơn cho cơ thể. Tuy nhiên nếu ai đó có thói quen ăn dưa muối còn cay,
đặc biệt là dưa khú thì hãy cảnh giác. Bình thường trong rau cải hàm lượng nitrit
chỉ ở dạng vết nhưng khi muối dưa thì hàm lượng nitrit tăng lên trong vài ngày
đầu do quá trình vi sinh khử nitrat có trong rau thành nitrit, nhưng nitrit giảm
dần và mất hẳn khi dưa đã chua vàng. Khi dưa bị khú thì hàm lượng nitrit tăng
cao. Khi nitrit vào cơ thể sẽ có tác dụng với amin bậc hai có trong một số thức
8
ăn như tôm, cá… đặc biệt là mắm tôm sẽ tạo thành hợp chất nitrozamin (chất
nitrozamin có khả năng gây ung thư trên động vật thí nghiệm).
2.3 Vi Khuẩn với loài nhai lại (Hệ vi sinh vật trong dạ cỏ)
Hệ vi sinh vật trong dạ cỏ bò bao gồm bacteria, protozoa và nấm. Số lượng
bacteria 10
9
- 10
10
trong 1 rnl chất chứa, có trên 60 loài đã được xác định số
lượng bacteria. Số lượng bacteria của từng loài phụ thuộc rất lớn vào khẩu phần
ăn của động vật nhai lại. Protozoa có số lượng ít hơn nhiều so với số lượng
bacteria, chúng chỉ có 106 trong 1 ml chất chứa, nhưng vì có kích thước lớn hơn
nên tổng sinh khối tương tự như bacteria.
Vai trò của hệ vi sinh vật trong dạ cỏ của động vật nhai lại rất quan trọng
trong việc tiêu hoá thức ăn thô xơ để biến chúng thành những sản phẩm có giá
trị dinh dưỡng cao, dễ hấp thu cho gia súc. Có thể nói nôm na công lao chế biến
rơm, cỏ và các loài phụ phầm thành sữa, thịt ở bò chính là nhờ hệ vi sinh vật
phong phú này, chính vì vậy mà người chăn nuôi nên có những hiểu biết về hệ
vi sinh vật dạ cỏ để bảo vệ hệ vi sinh vật dạ cỏ trong chăn nuôi động vật nhai lại.
* Tiêu hoá thức ăn nhờ hệ vi sinh vật ở động vật nhai lại:

Tiêu hoá protein: Các loại rơm, cỏ và phụ phẩm có hàm lượng protein rất
thấp: giá trị dinh dưỡng cũng không cao vì chứa ít axit amin không thay thế.
Nhưng nhờ vi sinh vật dạ cỏ tiêu thụ lượng protein thực vật ít ỏi này, biến nó
thành protein động vật có giá trị dinh dưỡng cao trong cơ thể chúng. Hệ vi sinh
vật này theo dịch thức ăn đi xuống dạ múi khế và ruột non, do môi trường không
thích hợp nên chúng bị chết đi, trở thành nguồn prolein động vật cho trâu bò.
Nhờ đó, phần lớn 60-80%) prolein thực vật trong rơm, cỏ, phụ phẩm được
chuyển biến thành protein vi sinh vật. Phần protein thực vật không được vi sinh
vật lên men và chuyển hoá sẽ được đưa xuống dạ múi khế và ruột non để tiêu
hoá. (Như vậy, nguồn protein ở ruột non sẽ có hai loại: protein của vi sinh vật và
protein "nguyên xi" trong thức ăn).
Vi sinh vật dạ cỏ có khả năng biến các chất chứa ni tơ không phải protein
như urê, muối amon cabamit thành protein động vật trong bản thân chúng. Do
đó, người ta thường bổ sung urê vào khẩu phần cho trâu bò, hoặc xử lý rơm rạ,
thân cây ngô sau thu hoạch với urê để tăng tỷ lệ đạm trong khẩu phần. Vi sinh
vật phân giải urê nhờ tác dụng của men ureaza, và thải ra NH
3
-C0
2
. Lượng NH
3
này được vi sinh vật sử dụng để biến thành protein. Nếu NH
3
dư thừa sẽ được
hấp thu vào máu đến gan. Ở gan NH
3
được tổng hợp thành urê, urê này một phần
được bài tiết qua nước tiểu, một phần đi vào tuyến nước bọt và lại được nuốt
xuống dạ cỏ, trờ thành nguồn cung cấp ni tơ cho vi sinh vật chuyển hoá thành
protein. Đây chính là cơ sở khao học cho viêc bổ sung ure cho động vật nhai lại

trại khác.
Để ứng dụng chế phẩm sinh học vào sản xuất trên diện rộng và bền vững,
năm 2010, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN đã tổ chức tuyên truyền, phổ
biến sử dụng các chế phẩm sinh học trong trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm
và nuôi thủy sản cho hơn 400 lượt người. Anh Nguyễn Văn Cừ, ở thôn Phượng,
xã Nam Dương (Nam Trực) cho biết: Gia đình tôi thường xuyên nuôi 5 con lợn
nái, 50 con lợn thịt đã dùng chế phẩm EM hòa vào thức ăn và nước uống cho
lợn theo tỷ lệ quy định, tùy thuộc vào từng thời điểm và đối tượng nuôi, đồng
thời phun vệ sinh chuồng trại. Kết quả cho thấy, đàn lợn sinh trưởng tốt, chất
11
lượng thịt đảm bảo do giảm hẳn việc sử dụng thuốc thú y, các loại thuốc kháng
sinh trong quá trình nuôi, đồng thời ngăn chặn mùi hôi trong chuồng trại, làm
giảm ruồi muỗi và côn trùng gây hại.
Xu hướng quay trở lại nền nông nghiệp hữu cơ với việc tăng cường sử dụng
chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ trong quá trình sản xuất không chỉ mang lại
hiệu quả kinh tế, tái tạo nguồn tài nguyên mà còn thúc đẩy nhanh việc ứng dụng
tiến bộ KHCN trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập cho
nông dân.
2.4.1. Chế phẩm vi sinh EMC
Chế phẩm sinh học xử lý phân gia súc, gia cầm, rác thải, phế thải
Nông nghiệp làm phân bón hữu cơ và xử lý ô nhiễm môi trường
EMC là tập hợp nhiều vi sinh vật hữu hiệu đặc biệt là vi khuẩn có tác dụng:
- Phân giải nhanh các chất thải hữu cơ trong phân gia súc, gia cầm, rác thải,
phế thải nông nghiệp thành các chất dinh dưỡng cho cây
- Làm mất mùi hôi của phân, rác, nước thải và ức chế sinh trưởng các vi sinh
vật gây thối.
-Tạo chất kháng sinh để tiêu diệt một số vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng.
- Chuyển hoá nhanh phân lân khó tiêu thành dạng dễ tiêu.
- Hình thành các chất kích thích sinh trưởng thực vật, giúp cây phát triển tốt.
* CÁC ỨNG DỤNG CỦA CHẾ PHẨM EMC DẠNG BỘT

3- Khử mùi hôi rác thải, phế thải: Sử dụng chế phẩm đã pha phun đều vào rác
thải, phế thải khi tập kết để khử mùi hôi thối và xua đuổi ruồi muỗi.
* Ủ PHÂN HỮU CƠ TỪ PHẾ THẢI NÔNG NGHIỆP
1. Nguyên liêu ủ.
- Nguồn phế thải nông, lâm nghiệp và công nghiệp thực phẩm.
+ Cỏ, rơm rạ, ngô, đậu, lạc, bèo, cây phân xanh….
+ Vỏ cà phê, lạc, trấu….
Chú ý: Khi ủ nên tránh các loại cỏ như cỏ gấu, cỏ tranh.
- Các loại mùn: Than mùn (than bùn dùng trong sản xuất phân bón), mùn
mía, mùn cưa, mùn giấy, mùn thuốc lá….
- Phân chuồng: gia súc, gia cầm.
Khi ủ rác, lá, vỏ bào nên bổ sung 25- 50% mùn và phân chuồng để giữ ẩm và
tăng nguồn dinh dưỡng cho vi sinh vật.
2. Cách ủ phân hữu cơ từ phế thải nông nghiệp.
- Ủ ở những nơi thuận tiện cho việc sử dụng, có nền đất nện, khô ráo.
- Nên ủ phế thải khô như rơm rạ, rác lá nên tưới ẩm trước khi ủ ít nhất 12 giờ
để nước ngấm vào làm mềm nguyên liệu.
13
- Kích thước nguyên liệu càng nhỏ càng tốt.
- Sử dụng 1 gói EMC (150g) cho 1 tấn nguyên liệu.
- Hoà EMC vào nước, lượng nước phụ thuộc vào độ ẩm của nguyên vật liệu ủ,
làm sao để khi ủ, nguyên vật liệu đạt độ ẩm 50%. Nên bổ sung thêm 1- 3% rỉ
đường.
- Rải phân rác thành từng lớp trong luống ủ có chiều rộng khoảng 2m, chiều
dài tuỳ theo lượng rác nhiều hay ít. Độ cao mỗi lớp khoảng 25- 30 cm. Ta tưới
chế phẩm đã hòa vào đều từng lớp, sao cho độ ẩm đạt 50%. Cách kiểm tra độ
ẩm khi ủ: Nếu thấy nước ngấm đều trong rác nguyên liệu và khi cầm vào thấy
mềm là đạt độ ẩm cần thiết. Tiếp tục rải cho đến khi chiều cao của đống ủ khoảng 1,2-
1,5m.
- Sau khi ủ xong, ta cho đậy đống ủ bằng bao tải dứa, rơm rạ hoặc mái lợp.

chitinase, một số vitamin thiết yếu hoặc axit amin và chất khoáng nhằm kích
thích hoạt tính ban đầu của vi sinh vật của chế phẩm và xúc tác cho sự hoạt động
của enzym trong môi trường. Các vi sinh vật được lựa chọn làm probiotic phải
có đặc điểm sau đây:
- Không sinh độc tố, không gây bệnh cho vật chủ và không ảnh hưởng xấu
tới hệ sinh thái môi trường.
- Có khả năng bám dính niêm mạc đường tiêu hóa và các mô khác của vật
chủ, cạnh tranh vị trí bám với các vi sinh vật gây bệnh, không cho chúng tiếp
xúc trực tiếp với các cơ quan của cơ thể.
- Có khả năng sinh các chất ức chế, ngăn cản sự sinh trưởng mạnh mẽ của
các vi sinh vật gây bệnh. Các chất này gồm nhiều loại có thể tác động đơn lẻ
phối hợp với nhau, bao gồm các chất kháng sinh, bacteriocin, siderophore,
lysozym, protease, hydroperoxit
- Có khả năng sinh trưởng nhanh, cạnh tranh thức ăn, hóa chất, năng lượng
với các vi sinh vật có hại. Ví dụ vi khuẩn probiotic có khả năng sinh siderphore,
liên kết với ion sắc, làm cho vi sinh vật gây hại không sinh trưởng được vì thiếu sắt.
- Tăng cường khả năng miễn dịch, tăng cường đáp ứng miễn dịch tự nhiên ở
tôm và khả năng tạo thành kháng thể ở cá.
- Có khả năng cải thiện chất lượng nước ao nuôi do sự hình thành hàng loạt
enzym phân giải các chất hữu cơ, làm giảm hàm lượng BOD, giảm các khí độc
như: amoniac, H2S, Không những thế, sản phẩm trao đổi chất của vi sinh vật
probiotic còn cung cấp enzyem, các nguyên tố đa, vi lượng cho vật chủ, giúp
chúng sử dụng thức ăn hiệu quả hơn và do đó tăng trưởng tốt hơn.
Rõ ràng mối lo lắng về sự xuất hiện các vi khuẩn kháng thuốc từ ao nuôi trồng
15
thủy sản do sử dụng hóa chất, kháng sinh, có thể truyền gen kháng thuốc cho cac
vi khuẩn gây hại cho người (tồn tạo ngay trong ao nuôi tôm), làm cho kháng
sinh không còn hiệu nghiệm để điều trị bệnh cho người nữa, sẽ được giải tỏa nếu
thay thế bằng biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học. Hiện nay, việc sử dụng chế
phẩm sinh học là giải pháp ưu việt nhất để có được năng suất, chất lượng, hiệu

nuôi chung. Vi khuẩn có thể có ích hoặc có hại cho môi trường và động vật, kể
cả con người. Một số là tác nhân gây bệnh (pathogen) gây ra các bệnh như: uốn
ván, sốt thương hàn, giang mai, tả, bệnh lây qua thực phẩm và lao. Nhiễm khuẩn
huyết, là hội chứng nhiễm khuẩn toàn cơ thể gây sốc và giãn mạch, hay bộ phận
gây ra bởi các vi khuẩn như streptococcus, staphylococcus hay nhiều loài Gram
âm khác.
Vi khuẩn có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ một cách đáng kinh
ngạc. Một số nhóm vi sinh "chuyên hóa" đóng một vai trò rất quan trọng trong
việc hình thành các khoáng chất từ một số nhóm hợp chất hữu cơ. Ví dụ, sự
phân giải cellulose, một trong những thành phần chiếm đa số trong mô thực vật,
được thực hiện chủ yếu bởi các vi khuẩn hiếu khí thuộc chi Cytophaga. Khả
năng này cũng được con người ứng dụng trong công nghiệp và trong cải thiện
sinh học (bioremediation). Các vi khuẩn có khả năng phân hủy hydrocarbon
trong dầu mỏ thường được dùng để làm sạch các vết dầu loang v.v.
Những ích lợi bắt nguồn từ các vi sinh vật và các hoạt động của chúng. Nói
chung, với năng lực chuyển hoá mạnh mẽ và khả năng sinh sản nhanh chóng của
các vi sinh vật cho thấy tầm quan trọng to lớn của chúng trong thiên nhiên cũng
như trong các hoạt động cải thiện chất lượng sống của con người nhờ hiểu biết
về các hoạt động sống của chúng .

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status