1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Nuôi trồng Thuỷ sản (NTTS) đã và đang là nghành kinh tế mũi nhọn góp
phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Với diện tích nuôi trồng
rộng lớn cùng với thời tiết, khí hậu thuận lợi nên nuôi trồng thuỷ sản nước ta phát
triển khá mạnh với nhiều hình thức nuôi và nhiều đối tượng nuôi.
Vùng ven biển nước ta trước nay thường nuôi đối tượng có giá trò kinh tế lớn
là tôm, nhưng với tình hình khó khăn của tôm như hiện nay thì người nuôi đã chuyển
hướng sang nuôi cua biển. Cua biển là một trong những loài có giá trò kinh tế cao và
là loại thực phẩm đươc ưa chuộng trên thò trường trong và ngoài nước vì vậy nên có
giá trò xuất khẩu rất cao.
Hiện nay nghề nuôi cua ở nước ta đang phát triển mạnh ở các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long, các tỉnh và thành phố như Hải Phòng, Nam Đònh, Ninh Bình, Thái
Bình, Huế, Phú Yên, Khánh Hoà…. Hình thức nuôi chủ yếu chỉ dừng lại ở nuôi
quảng canh hoặc quảng canh cải tiến. Tuy nhiên người nuôi cũng gặp rất nhiều khó
khăn về con giống cũng như sự hao hụt nhiều trong quá trình nuôi. Nguồn cua giống
có được chủ yếu là do khai thác từ tự nhiên, nguồn cua giốâng có được trong việc sản
xuất nhân tạo vẫn còn rất hạn chế vì tỷ lệ sống của ấu trùng cua trong các đợt ương
nuôi ấu trùng là rất thấp.
Việc sản xuất giống cua biển thành công và việc phát triển rộng rãi nghề sản
xuất cua giống nhân tạo trên toàn quốc hiện nay là một thành tựu lớn góp phần phát
triển đa dạng nghề nuôi thuỷ sản ở Việt Nam. Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu
tiếp theo nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất nhân tạo giống cua biển. Có nhiều
nguyên nhân khiến cho tỷ lệ sống đến cua giống còn thấp, trong đó nguyên nhân
quan trọng là tỷ lệ chết cao ở giai đoạn Zoea3 – Zoea5. Theo một số tác giả ấu
trùng Zoea3 – Zoea5 chết đã phân lập được nhiều chủng vi khuẩn nhưng chưa xác
lập được mối quan hệ. Sự hoạt động của vi khuẩn đã ảnh hưởng tới ấu trùng cua
khiến ấu trùng cua chết hàng loạt. Như vậy vai trò của vi khuẩn đến hiện tượng chết
PHẦN 2: TỔNG LUẬN
2.1.Vài nét về đối tượng nghiên cứu.
Hệ thống phân loại của cua biển.
Nghành : Arthropoda
Lớp : Crustacea
Bộ : Decapoda
Họ : Porturidae
Giống : Scylla
Loài :
Tên tiếng Anh : Blue crab, Mud crab, Mangrove crab…
Tên tiếng Việt : Cua xanh, cua bùn, cua biển
2.1.1. Đặc điểm hình thái:
Cua Xanh (còn gọi là cua biển) có kích thước tương đối lớn có thể đạt khối
lượng 2kg cua có màu xanh lục hoặc mầu vàng sẫm, mặt bụng thường có màu sáng
hơn mặt lưng. Cơ thể dẹp theo hướng lưng bụng và chia thành hai phần: phần đầu
ngực lớn nằm trong giáp đầu ngực (mai cua), phần bụng nhỏ và gập lại dưới giáp
đầu ngực (yếm cua) (Hoàng Đức Đạt 1995)
và cấu tạo thực thụ.(Hoàng Đức Đạt, 1995)
• Điều kiện sinh thái của cua biển.
Cua sống ở vùng nước lợ có pH từ 7,5 – 9,2. Thích hợp nhất từ 7,5 – 8,2. Tuy
nhiên cua có thể chòu đựng được pH thấp hơn 6,5.
- Cua có thể thích ứng cao với sự thay đổi độ mặn của nước. Độ măn thích
hợp nhất từ 28-30ppt.
- Nhiệt độ thích hợp nhất là từ 25-29
0
C. Nhiệt độ cao có ảnh hưởng xấu đến
hoạt động sinh lý của cua và là một trong những nguyên nhân gây chết cua.
5
- Cua thích sống ở những nơi có nhiều thực vật thủy sinh, có bờ để đào hang trú
ẩn. Rừng ngập mặn ven biển là nơi thích hợp cho cua sinh trưởng và phát triển.
• Tập tính hoạt động.
- Tập tính đào hang: Cua thường đào hang làm nơi trú ẩn, cua đào hang rất giỏi
có hang dài đến 1m, có thể xuyên qua bờ ao (đây là một trong những nguyên nhân
gây hao hụt cua trong quá trình nuôi ).
- Bò qua bờ, rào cản: Cua có thể bò trên cạn, qua rào chắn để thoát khỏi ao,
đầm nhất là thời kỳ thành thục.
- Tính hung dữ và khả năng tự vệ: Tính hung dữ có từ ấu trùng Megalope đến
cua trưởng thành. Khi đói, thiếu thức ăn chúng có thể ăn lẫn nhau. Con khỏe tấn
công con yếu, con mới lột xác. Bộ phận phần phụ bò mất đi của cua có thể được tái
sinh sau lần lột xác mới.
- Hoạt động bắt mồi: Cua là loài ăn thòt và thường kiếm ăn vào ban đêm, cua
bắt tích cực nhưng cũng có thể nhòn đói nhiều ngày trong điều kiện bất lợi.
• Đặc điểm sinh sản.
- Kích thước thành thục: Hầu như toàn bộ những cá thể có chiều rộng giáp đầu
ngực
≥
trùng cua xanh (Cheng; Teng 1980).
Năm 1983 Heasman và Fielder đã thử nghiệm cho đẻ ở phòng thí nghiệm và
nuôi đại trà cua xanh từ giai đoạn Zoae đến cua bột, tác giả cho rằng: cần duy trì
chất lượng nước bằng hệ thống lọc nước tuần hoàn, các điều kiện nhiệt độ nước
27
0
C, độ mặn 28 – 30ppt, mật độ thức ăn (Nauplius của Artemia) từ 5 – 30 con/lít
được coi là các điều kiện thích hợp cho quá trình ương nuôi ấu trùng. Với các điều
kiện như trên thời gian chuyển từ Zoae đến cua bột là 30 ngày, tỷ lệ sống ở giai
đoạn Zoae là 1- 4%.
Các nhà khoa học Đài Loan ương nuôi ấu trùng cua đạt tỷ lệ sống 60% do sử
dụng kháng sinh, bổ sung thức ăn bằng ấu trùng veliger của nhuyễn thểå, copepoda,
rotifer (Cowan Lynda,1984).
2.2.2.Tình hình sản xuất cua giống tại Việt Nam.
Những năm gần đây nghề nuôi tôm gặp phải nhiều khó khăn như dòch bệnh,
giá cả thò trường bấp bênh… người nuôi tôm có hướng chuyển dần sang nuôi cua
hoặc xen canh một vụ tôm một vụ cua. Mô hình nuôi một vụ cua và một vụ tôm sú
được ứng dụng rộng rãi, và đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, phần nào hạn chế dòch
bệnh tôm. Song do nhu cầu phát triển nghề nuôi cua đã nẩy sinh khó khăn lớn là
giải quyết nguồn cua giống. Nguồn cua giống chủ yếu là do khai thác ngoài tự
7
nhiên, nếu chúng ta tiếp tục khai thác nguồn cua giống tự nhiên thì có thể ảnh
hưởng đến nguồn lợi cua tự nhiên.
Để giải quyết vấn đề cua giống, Bộ Khoa Học Công Nghệ - Môi trường và
Bộ Thủy sản đã quan tâm và giao nhiệm vụ cho các viện nghiên cứu triển khai thực
hiện từ năm 1980.
Trong những năm 1980, Nguyễn Văn Chung tập trung nghiên cứu đònh loại
loài và một số đặc điểm sinh học làm cơ sở cho những nghiên cứu sau này. Trong
những năm 1990, Hoàng Đức Đạt, Đoàn Văn Đẩu và Nguyễn Cơ Thạch đã nghiên
cảm
nhiễm
Tác hại Phân bố Nguồn tài
liệu
1. Virus
Reo-like virus
disease
( RLV)
Gan, cơ,
hệ thần
kinh, hệ
bạch
huyết
Có thể gây chết
trong 3 ngày
Vònh
Chincoteague
Chesapeake
Johnson &
Bodammese
r, 1975
Rhabdo-like virus
“A”
(RHVA)
Tế bào
thần
kinh, tế
bào máu
và mô cơ
Có thể gây chết
máu
Tỷ lệ cảm nhiễm
rất cao, gây chết
trong 1-2 tháng
Vònh
Chincoteague
Asswoman
Johnson,
1983
2. Vi khuẩn
Vibrio
parahemolyticus
Hệ bạch
huyết
Gây chết cao ở
giai đoạn lột xác
trong thời gian
ngắn
Vònh
Chesapeake
Krantz 1969
Các loài vi khuẩn
Hệ bạch
huyết
Nhiễm cao Vònh
Chesapeake
Colwell
1975
3. Nấm
1978;
Couch, 1974
Hematodinium
perezi
Hệ bạch
huyết
Nhiễm cao, ở giai
đoạn tiền trưởng
thành có thể gây
chết 100%
Đại Tây
Dương
Mê- hi- cô
Newman &
Johnson,
1975
5. Helminths (worms)
Microphallus và
bệnh chấm tiêu
(Pepper-spot
disease)
Trong
các mô
Không gây chết Đại Tây
Dương
Mê-hi-cô
Overstret,
1978;
Couch,1974
này trong tự nhiên không kiểm tra được nhưng sự lây nhiễm trong thời gian dài của
RLV sẽ là một sự quan tâm lớn và quan trọng của nghề nuôi cua công nghiệp
(Johnson, 1983).
Herpeslike virus (HLV), virus này thuộc giống Baculavirus dạng không có
thể ẩn nhiễm vào hệ thống sinh dục, phá huỷ biểu mô và cơ quan cảm giác xâm
nhập vào tế bào máu và gây chết trong vòng 1-2 tháng (Anderson and Prior. 1992).
• Bệnh do vi khuẩn.
Vi khuẩn là một trong những tác nhân gây hại rất lớn đến cua nuôi cũng như
các loại động vật thủy sản khác. Vi khuẩn có thể là tác nhân trực tiếp hoặc gián tiếp
làm cho đối tượng nuôi bò chết. Bệnh do vi khuẩn là nhóm đối tượng phổ biến đối
với nuôi trồng, làm ảnh hưởng tới năng suất cũng như sản lượng nuôi. Bệnh do vi
khuẩn phổ biến ở các loài giáp xác là sự bào mòn vỏ kitin, phá hủy vỏ kitin (Benton
1935; Zoobell & Kittenberg 1938, Hock 1940, 1941; Hood & Meyrs 1974). Nhiều
11
nghiên cứu đã xác đònh được hơn 30 loài vi khuẩn là tác nhân gây bệnh hoại tử lớp
vỏ kitin của nhiều loài giáp xác, trong đó có cua.
Theo Kantz (1969) vi khuẩn có tác hại lớn nhất cho cua và thường gây nên
dòch bệnh cho cua là vi khuẩn Vibrio, chúng thường nhiễm vào máu vật chủ dẫn đến
tỷ lệ hao hụt từ 50 ÷70% có khi lên tới 100%. Vibrio parahaemolyticus tác dụng lên
máu và tế bào thần kinh của cua và gây chết chỉ trong 72h. Theo tác giả thì Vibrio
parahaemolyticus là tác nhân chính gây bệnh hoại tử và thối mai ở cua. Vibrio là
chủng vi khuẩn có khả năng tiết ra các men Kitinase, Lipase, Protease gây hiện
tượng ăn mòn, hoại tử. Khi lớp vỏ cứng bò ăn mòn mở đường cho vi khuẩn, tác nhân
khác xâm nhập và gây bệnh cho cua. Vibrio có mặt ở khắp mọi nơi trong môi trường
biển và một vài loài động vật không xương sống bò nhiễm bởi mầm bệnh hoặc bò
truyền nhiễm từ các động vật khác. Vibrio parahemolyticus được tìm thấy khi bùng
nổ dòch bệnh trong khi cua mới lột xác là điều kiện thuận lợi để mầm bệnh xâm
nhập khi vỏ cua còn mềm và gây chết cua. Mầm bệnh vi khuẩn xâm nhập vào máu
qua những chỗ bò tổn thương ở lớp vỏ kitin của cua và sinh sản trong môi trường
• Bệnh do ký sinh trùng.
Có một số ký sinh trùng đã được tìm thấy ở cua như: Giun tròn Nectonema
spp, làm vật chủ rối loạn chức năng sinh lý thoái hóa tuyến sinh dục; Bào tử nhỏ
(Microsporidia) ở trong cơ, gan tụy , tuyến sinh dục; Trùng roi Hematodinium ký
sinh trên máu; Trùng loa kèn (Zoothamnium) ký sinh trên mang cua trưởng thành
và trên toàn bộ cơ thể ấu trùng cua.
Newman and Johnson, 1975; Couch,1983 và Messick, 1994 cho rằng
Hematodinium perezi là một loài trùng roi ký sinh rất ít khi gặp nhưng cũng có thể
xảy ra dòch bệnh trên cua. Hematodinium perezi sống trong máu và tăng số lượng rất
nhanh.Trong suốt thời gian dòch bệnh thì cua lột xác chết tới 70% còn cua bình
thường chết 50%. Dòch bệnh thường bùng phát vào mùa hè và mùa thu. Khi cua bò
13
nhiễm bệnh ký sinh trùng này cua trở nên lờ đờ, ở cua bò nhiễm nặng máu có màu
trắng sữa.
Bower (2003) cũng báo cáo loại bệnh ký sinh trùng do Hematodinium perezi
và Hematodinium sp gây bệnh trong máu cua. Có rất nhiều loài cua cũng như giáp
xác khác bò nhiễm bởi ký sinh trùng này.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu bệnh cua ở Việt Nam.
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu nào về bệnh cua
được công bố chính thức.
Theo Hoàng Đức Đạt (1995) thì những biến đổi bất lợi của môi trường nước
như: nhiệt độ nước, lượng oxy hòa tan, pH, các yếu tố hóa học như kim loại nặng,
biến đổi qua giới hạn, đều là tác nhân gây bệnh cho cua. Kỹ thuật nuôi không phù
hợp, mật độ quá cao, chăm sóc quản lý kém, vận chuyển lâu và xa làm cua yếu,
không thay nước làm nước bò nhiễm bẩn, có thể làm cua bò bệnh và chết. Trong
những năm gần đây cua nuôi trong các ao đất với mật độ cao đã xuất hiện một số
loại bệnh: trên mai cua có nhiều đốm trắng, hoặc xám, đỏ, đường kính khoảng 0,2 –
0,3 cm. Bệnh phát triển làm cho cả phần vỏ lẫn phần thòt bò ung thối, bệnh lây lan
nhanh và cua chết hàng loạt.
và cả bể hoặc cả đợt sản xuất. Trứng bò nhiễm nấm với số lượng lớn có thể đưa bào
tử nấm vào môi trường ương nuôi làm ấu trùng sau này có thể bò nhiễm bệnh. Đối
với ấu trùng thì hầu hết ấu trùng bò nhiễm nấm đều bò chết. Các giai đoạn đầu của
ấu trùng dễ bò nhiễm nấm do bởi vỏ ấu trùng còn non và còn mỏng. Khả năng điều
trò của bệnh này hầu hết không có hiệu quả, chất lượng của những ấu trùng còn sống
sót rất thấp.
- Bệnh do chất huyền phù: Chất huyền phù bao gồm những xác chết của vi
khuẩn hoặc vi trùng và các chất phù dơ bẩn trong môi trườngnước, hoặc các chất
lắng đọng dưới đáy bể. Chất huyền phù bám lên trứng của cua và ấu trùng cua. Sự
tích tụ của các chất cặn bã lên trứng có thể là nguyên nhân dẫn đến việc ấp nở trứng
bò hư. Chúng tích tụ trên mang gây ảnh hưởng đến qúa trình hô hấp và chúng có thể
15
sẽ chết bởi sự làm ngạt. Sự có mặt của chất cặn bã có thể là nguyên nhân phát sinh
mầm bệnh tiềm ẩn trong môi trường ương nuôi. Chất huyền phù còn làm cản trở tới
quá trình lột xác của ấu trùng.
- Bệnh lôït xác không hoàn toàn. Sự lột xác không hoàn toàn là một bệnh
không lây lan giữa các bể ương nuôi ấu trùng mà có thể do nguyên nhân là sự thay
đổi nhiệt độ ở mức thấp. Sự lột xác không đều của lớp vỏ bên ngoài là nguyên nhân
của việc bơi không bình thường và làm tổn thương đến ấu trùng đồng thời chúng rất
dễ bò ăn thòt. Sự lột xác không hoàn toàn cũng có thể là nguyên nhân gây chết cho
ấu trùng.
- Bệnh do sinh vật đơn bào kí sinh. Do Zoothamnium, Acineta và một vài đối
tượng khác. Chúng phân bố rất rộng ở biển và môi trường nước mặn, lợ và chúng có
thể phát triển phủ kín bề mặt vật bám. Chúng làm cản trở quá trình trao đổi khí trên
bề mặt của trứng và ấu trùng, còn làm cho quá trình ấp kéo dài, nhiều sinh vật khác
nhau gắn trên bề mặt trứng. Khi mà nhiễm nặng trên các phần phụ thì làm cho ấu
trùng rất khó bơi lội. Sự lột xác đã loại bỏ hầu hết các sinh vật bám ngoài vỏ. Quá
trình lột xác chậm sẽ là cơ hội để sinh vật phát triển ở lớp vỏ.
- Bệnh do sinh vật hoại sinh và giun tròn. Các sinh vật đơn bào sống tự do
3.1. Đối tượng, thời gian và đòa điểm nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Ấu trùng cua xanh (Scylla spp) thu từ các trại sản
xuất cua giống tại Nha Trang.
Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 09/08/2005 đến ngày 30/11/2005.
Đòa điểm nghiên cứu: Công tác điều tra là phỏng vấn trực tiếp hộ sản xuất
cua giống tại Nha Trang.
Phân tích mẫu tại phòng Bệnh thuộc Viện Nghiên cứu Thuỷ sản III.
3.2. Phương pháp nghiên cứu.
Triệu
chứng
bệnh
lý.
Xác đònh
tác nhân
gây bệnh
ĐÁNH GIÁ,
NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
Đònh danh
vi khuẩn
18
3.2.1. Phương pháp điều tra hiện trạng bệnh ở ấu trùng trong các trại sản xuất
cua giống tại Nha Trang, Khánh Hoà.
- Số liệu thứ cấp: Thông qua các báo cáo tổng kết ngành Thuỷ sản đòa
phương và các cơ quan có liên quan.
- Số liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ kỹ thuật của trại theo mẫu
phiếu điều tra.
3.2.2. Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích mẫu bệnh phẩm.
* Phương pháp thu mẫu:
Mẫu thu từ những bể ấu trùng Zoea3 – Zoea5 có dấu hiệu bệnh như là yếu,
bỏ ăn, lắng đáy và chết nhiều. Mẫu ấu trùng thu là còn sống và được vận chuyển
nhanh về phòng thí nghiệm nơi tiến hành phân tích mẫu.
* Phương pháp xử lý mẫu:
Mẫu thu được ghi rõ về dấu hiệu bệnh lý, tình trạng sức khoẻ cũng như tỷ lệ
chết của mẫu.
Mẫu được kiểm tra nhanh bằng phương pháp soi tươi trên kính hiển vi.
Mẫu ấu trùng cua được đưa vào ống nghiệm thuỷ tinh, rồi được rửa qua nước
muối 2% NaCl vô trùng 2 lần, nghiền nát mẫu bằng đũa thuỷ tinh đã tiệt trùng.
+ Môi trường tổng hợp:
- Môi trường Trypticase Soya Agar (TSA) + 2% NaCl
- Môi trường Trypticase Soya Broth (TSB) +2% NaCl
- Môi trường Nutrient Agar (NA) +2% NaCl
+ Môi trường chọn lọc:
- Môi trường Thiosulphate Citrate Bilesalt Sucrose Agar (TCBS). Đây là môi
trường đặc thù, chọn lọc của vi khuẩn Vibrio.
Mẫu ấu trùng cua bệnh
Zoea3 – Zoea5
Phân lập trên môi
trường chon lọc
Nuôi tăng sinh
Nuôi cấy thuần
chủng
Thực hiện các
phản ứng sinh
hoá
Nhuộm Gram
Đònh danh vi
khuẩn
Gây nhiễm trở lại
ấu trùng cua khoẻ
Xác đònh tác
nhân gây bệnh
20
- Môi trường Cytophage Aga (CA) là môi trường đặc thù của vi khuẩn
Pseudomonas + 2% NaCl.
- Sau khi chuẩn bò xong mô hình thí nghiệm, lấy một số khuẩn lạc của vi
khuẩn cần nghiên cứu cho vào một ống nghiệm chứa NaCl 2% vô trùng, lắc nhiều
lần cho vi khuẩn phân tán đều trong nước. Sau đó so độ đục của dung dòch huyền
phù này với ống có độ đục chuẩn của Mefarlands standards để xác đònh mật độ
khuẩn có trong ống nghiệm. Dùng một ống hút vô trùng đưa vi khuẩn vào các lô thí
nghiệm vơi mật độ khác nhau, sau đó chăm sóc, quản lý và theo dõi sự xuất hiện
bệnh lý.
- Pha các dung dòch bao gồm: Nước biển tiệt trùng + các chủng vi khuẩn có
tần số bắt gặp cao từ mẫu bệnh với các nồng độ ở trên.
- Ngâm ấu trùng cua biển trong các dung dòch trên.
- Lô đối chứng chỉ gồm ấu trùng và nước biển tiệt trùng.
Chủng vi khuẩn
cần nghiên cứu
Lô I Đối
chứng
100 ấu
cho phù hợp với các nghiên cứu về vi khuẩn biển.
3.3. Phương pháp xử lý số liệu:
Sử dụng phương pháp thống kê thông dụng hiện hành.
3.4. Các công thức sử dụng:
- Sử dụng phương pháp tính giá trò trung bình:
∑
=
=
n
i
i
x
n
X
1
____
1
Trong đó: n – Số lần kiểm tra của một yếu tố nào đó (n = 1,2,3 )
X
i
– Giá trò của lần kiểm tra thứ i.
X – Giá trò trung bình của một yếu tố nào đó.
- Tính tỷ lệ sống của ấu trùng theo công thức:
100
2
×=
N
hiện ở cả giai đoạn Zoea và Megalope và gây chết từ rải rác đến hàng loạt.
Bệnh “phát sáng” và bệnh “nấm đỏ” là hai loại bệnh có dấu hiệu bệnh lý
khá đặc trưng . Người nuôi có thể dễ dàng nhận biết được trong quá trình chăm sóc.
Bệnh “hoại tử phần vỏ”,ø bệnh “ vi khuẩn dạng sợi” và bệnh “trùng loa kèn”
là nhưng bệnh khó phát hiện, cần phải có thiết bò để quan sát, theo dõi. Những trại
nhận biết được bệnh này thì người chủ trại thường là những người có chuyên môn,
kinh nghiệm và có liên quan đến lónh vực nghiên cứu thuỷ sản (họ là những người
công tác tại Viện NCTS III và trong Chi cục kiểm dòch Thuỷ sản Khánh Hoà).
Hầu hết các bệnh này sảy ra quanh năm tuy nhiên có bệnh “phát sáng”, bệnh
“nấm đỏ”, và bệnh “lộtä xác không dóc” xẩy ra ở mùa có nhiệt độ thấp (mùa mưa ở
Miền Trung). 24
Bảng 2. Một số bệnh thường gặp trong bể ương nuôi ấu trùng cua tại Nha Trang.
(tổng số phiếu điều tra: N=10)
STT
Tên bệnh
người nuôi
thường gọi
Tần số
bắt gặp
(%)
Dấu hiệu bệnh lý Giai đoạn mắc bệnh Tác hại
của bệnh
Mùa vụ
xuất hiện
bệnh
rải rác
đến hàng
loạt
Mùa mưa
4 “nấm đỏ” 30 Trên thành và đáy bể thấy xuất hiện những
đám nhỏ màu đỏ.
Xuất hiện ở giai đoạn
Zoea có cả ở Megalope.
Chết rải
rác
Mùa mưa
5 “hoại tử
phần vỏ”
50 Ấu trùng bò mòn cụt phần phụ Xuất hiện cả ở giai đoạn
Zoea và Megalope
Chết rải
rác
Quanh
năm
6 “vi khuẩn
dạng sợi”
20 Rất khó phát hiện, soi kính hiển vi 40X
thấy có nhiều sợi bám trên trứng cũng như
ấu trùng cua. Ấu trùng vận động kém.
Xuất hiện nhiều ở trứng
cũng như ở Zoea và
Megalope
Chết rải
rác
Chlorine A 20 - 100 100 Vệ sinh bể
Formol 30 – 50 50
Treplan 0.005 – 0.05 40 Xử lý nước trong
bể ương
Formol 30 – 50 40
Formol 5 – 20 50 Khử trùng
Artemia
Chlorine A 10 – 15 20
Để ngăn chặn sự xâm nhập của các mầm bệnh gây hại cho ấu trùng, các trại
sản xuất cua giống đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như: xử lý nước trước khi
đưa vào bể ương nuôi, sát trùng bể ương, tắm cua mẹ, khử trùng thức ăn tươi sống.