HƯỚNG DẪN KĨ NĂNG LỰA CHỌN VÀ VẼ BIỂU ĐỒ ĐỊA LÍ CHO HỌC SINH LỚP 9 - Pdf 26

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH TƯỜNG
TRƯỜNG THCS NGUYỄN KIẾN

BÁO CÁO
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9
ĐỀ TÀI
HƯỚNG DẪN KĨ NĂNG LỰA CHỌN
VÀ VẼ BIỂU ĐỒ ĐỊA LÍ CHO HỌC SINH LỚP 9 Người thực hiện: Phan Thị Thủy
Điện thoại: 0986466969
Email:
Vĩnh Tường, tháng 3 năm 2014
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Phần I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lí luận
1.2. Cơ sở thực tiễn
2. Phạm vi nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
Phần II. NỘI DUNG
1. THỰC TRẠNG
1.1. Về giáo viên
1.2. Về học sinh
1.3. Nguyên nhân
2. KHÁI QUÁT VỀ BIỂU ĐỒ ĐỊA LÍ
2.1.Vị trí của biểu đồ trong dạy và học môn Địa lí

dạy, học tập địa lí, giúp người học có thể ghi nhớ các số liệu dễ dàng và lâu hơn, từ
đó giúp người học học tập môn Địa lí tốt hơn. Cùng với các loại bản đồ, biểu đồ địa
lí đã trở thành một kênh hình không thể thiếu trong môn Địa lí nói chung và Địa lí ở
trường Trung học cơ sở nói riêng. Có thể nói biểu đồ là một ngôn ngữ đặc thù của
khoa học địa lí. Vì thế kĩ năng lựa chọn và vẽ biểu đồ là một yêu cầu cần thiết đối
với cả người dạy và người học Địa lí.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Kĩ năng về biểu đồ Địa lí hiện nay đã trở thành một nội dung đánh giá học
sinh trong việc học môn Địa lí. Về khái quát, trong các đề thi có thể phân ra thành
những câu hỏi lý thuyết và câu hỏi thực hành. Trong đó phần lý thuyết thường chiếm
khoảng 65- 75% tổng số điểm và phần thực hành chiếm khoảng 25- 35% tổng số
điểm, mà đối với thi học sinh giỏi lớp 9 thì phần thực hành chủ yếu là kiểm tra kĩ
thuật thể hiện biểu đồ và nhận xét, phân tích biểu đồ Chính vì vậy mà yêu cầu về kĩ
thuật vẽ biểu đồ không chỉ là rèn cho học sinh kĩ năng vẽ đúng, vẽ đẹp mà còn cả
kiến thức để lựa chọn, hiểu, thể hiện và nhận xét, phân tích biểu đồ. Đó chính là nền
tảng cho các em nâng cao kiến thức, kĩ năng về kĩ thuật vẽ biểu đồ ở cấp học cao
hơn (Trung học phổ thông, Đại học, Cao đẳng ). Tuy nhiên hiện nay kĩ năng lựa
chọn và vẽ biểu đồ địa lí của phần lớn học sinh còn nhiều hạn chế.
Hơn thế nữa, trong các nhà trường hiện nay, chưa có tài liệu quy định thống
nhất và hướng dẫn cụ thể, chi tiết về kĩ thuật thể hiện biểu đồ Địa lí. Điều đó càng
làm cho việc giảng dạy của các giáo viên và học tập của học sinh có nhiều phần lúng
túng, đặc biệt là đối với các giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi. Trên thị trường
tài liệu nói về đề tài này cũng có nhưng chủ yếu là dành cho ôn thi Đại học- Cao
đẳng. Vì thế chưa có đề tài nào chi tiết, cụ thể, xác thực tế môn học, phù hợp cấp
học Trung học cơ sở như đề tài này.
Vì những lí do trên nên tôi chọn đề tài “Hướng dẫn kĩ năng lựa chọn và vẽ
biểu đồ Địa lí cho học sinh lớp 9” để có biện pháp tốt nhất về việc rèn kĩ năng lựa
chọn và vẽ biểu đồ địa lí cho học sinh lớp 9 nhằm phục vụ cho việc dạy và học môn
Địa lí đạt hiệu quả cao hơn.
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

định.
- Nhiều giáo viên lúng túng khi gặp một số đề thi, nhất là đề thi học sinh giỏi có liên
quan tới kĩ năng lựa chọn và vẽ biểu đồ.
- Chủ đề vẽ biểu đồ địa lí được giáo viên thảo luận rất nhiều khi gặp nhau do không
có tài liệu thống nhất. Đôi khi ngay cả sách giáo khoa cũng có những biểu đồ không
được coi là tối ưu khi sử dụng thể hiện số liệu.
1.2. Về học sinh
- Thực tế, qua các bài kiểm tra thường xuyên, định kì và qua các kì thi học sinh giỏi
bộ môn Địa lí ở trường Trung học cơ sở, kĩ năng thực hành địa lí nói chung và kĩ
năng vẽ biểu đồ Địa lí nói riêng còn nhiều hạn chế. Do đó điểm thi phần thực hành
về vẽ biểu đồ Địa lí thường thấp.
- Nhiều học sinh không xác định được yêu cầu của đề bài, không xác định được loại
biểu đồ thích hợp để vẽ, không xác định được với mỗi bảng số liệu thì có thể dùng
những loại biểu đồ nào để thể hiện.
- Nhiều học sinh khi xác định được loại biểu đồ để vẽ thì lại vẽ chưa chuẩn xác,
chưa đảm bảo tính thẩm mĩ, tính khoa học, tính trực quan.
1.3. Nguyên nhân
- Một số giáo viên Địa lí còn yếu về chuyên môn và cả phương pháp dạy học hoặc
do phải dạy nhiều phân môn một lúc nên không sâu chuyên môn nào.
- Một số giáo viên không chuyên cũng phải dạy Địa lí do nhà trường thiếu giáo viên.
- Do một số giáo viên chưa nhận thức đúng đắn việc đổi mới phương pháp dạy học,
vẫn mang nặng lối dạy chay, lối dạy học thụ động nên học sinh ít được thực hành
rèn luyện kĩ năng.
- Do trong các nhà trường hiện nay chưa có tài liệu quy định thống nhất và hướng
dẫn cụ thể, chi tiết về kĩ thuật thể hiện biểu đồ Địa lí. Điều đó càng làm cho giáo
viên thêm túng túng khi dạy học sinh kĩ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp và thể hiện
các loại biểu đồ, nhất là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Do nội dung kiến thức địa lí (nhất là địa lí lớp 9 ) hiện nay rất dài, do đó giáo viên
không có nhiều thời gian để rèn cho học sinh kĩ năng về biểu đồ, thường kĩ năng này
chỉ được rèn nhiều cho học sinh thi học sinh giỏi.

- Biểu đồ kết hợp.
b. Nhóm các biểu đồ thể hiện cơ cấu của đối tượng:
- Biểu đồ hình tròn
- Biểu đồ cột chồng
- Biểu đồ miền
- Biểu đồ 100 ô vuông
3. BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỰA CHỌN VÀ VẼ BIỂU ĐỒ
TRONG MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9
* Quy trình vẽ biểu đồ địa lí nói chung gồm các bước sau:
- Bước 1: Nghiên cứu lựa chọn loại biểu đồ thích hợp.
- Bước 2: Xử lí số liệu (nếu có)
- Bước 3: Vẽ biểu đồ
- Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ: Lập bảng chú giải, viết tên biểu đồ.
* Yêu cầu :
6
Biểu đồ sau khi vẽ phải đảm bảo ba tiêu chí:
- Tính khoa học (chính xác)
- Tính trực quan (đúng, đầy đủ )
- Tính thẩm mĩ (rõ ràng, đẹp ).
3.1. Nghiên cứu lựa chọn loại biểu đồ thích hợp:
3.1.1. Tìm hiểu từ lời dẫn để chọn loại biểu đồ:
* Lời dẫn có chỉ định: Ví dụ: “Hãy vẽ biểu đồ hình tròn/cột chồng ” Với dạng
này thì ta vẽ theo chỉ định của lời dẫn
* Lời dẫn không chỉ định:
+ Với biểu đồ đường biểu diễn: thường có lời dẫn với các từ mở: “vẽ biểu đồ
thể hiện sự tăng trưởng, biến động, phát triển, qua các năm ”
+ Với biểu đồ hình cột: Thường gợi mở các từ: vẽ biểu đồ so sánh quy mô,
khối lượng, sản lượng, diện tích, trong năm và năm , qua các thời kì
+ Với biểu đồ cơ cấu: thường gợi mở bằng các từ: cơ cấu, phân theo, trong
đó, bao gồm, chia ra, chia theo Ví dụ: Giá trị hàng hoá vận chuyển phân theo các

trên biểu đồ hình tròn (vì các góc quạt sẽ quá hẹp), khi đó chuyển sang vẽ biểu đồ
cột chồng vì dễ thể hiện hơn. Đối tượng trải qua từ 1-4 thời điểm.
+ Biểu đồ miền: khi trên bảng số liệu, các đối tượng trải qua trên 3 thời điểm
7
Nhìn chung việc lựa chọn loại biểu đồ thích hợp là một kĩ năng khó, đòi hỏi
người lựa chọn phải biết phân tích, tổng hợp tất cả các căn cứ nêu trên để lựa chọn
sao cho biểu đồ đó thể hiện tối ưu nhất được đặc điểm của đối tượng địa lí theo yêu
cầu đề bài.
3.2. Kĩ thuật tính toán, xử lí số liệu
3.2.1. Tính tỉ lệ cơ cấu (%) của từng thành phần trong một tổng thể:
Số liệu tuyệt đối của thành phần A x 100
Tỉ lệ cơ cấu của thành phần A (%) =
Giá trị tổng thể
3.2.2. Tính quy đổi tỉ lệ (%) của từng thành phần ra độ góc hình quạt để vẽ biểu đồ
hình tròn: Ta dùng phép suy luận sau: 100% tương ứng với 360
0
nên 1 % tương
ứng với 3,6
0
. Vậy a% = a x 3,6
3.2.3. Tính bán kính các hình tròn :
Ta dựa vào giá trị tuyệt đối của tổng thể trong từng năm để tính. Ví dụ: Tổng giá
trị sản lượng của năm A gấp 2,4 lần tổng giá trị sản lượng của năm B. Do đó bán
kính của biểu đồ năm A =
4,2
= 1,55 lần bán kính của biểu đồ năm B.
3.2.4. Tính chỉ số phát triển ( tốc độ tăng trưởng):
Ví dụ : Cho bảng số liệu về đàn gia súc, gia cầm của nước ta qua một số năm
(đơn vị: nghìn con)
Năm Trâu Bò Lợn Gia cầm

+ Tỉ lệ xuất nhập khẩu (%) = x 100
Giá trị nhập khẩu

tỉ suất sinh (‰) - Tỉ suất tử (‰)
+ Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên (%) =
10
Tổng số dân của một điạ phương (người)
+ Tính mật độ dân số (người/ km
2)
=
Diện tích của địa phương đó (km
2
)
3.3. Kĩ thuật vẽ biểu đồ
3.3.1. Biểu đồ đường biểu diễn (đồ thị):
* Vai trò: Dùng thể hiện tiến trình, động thái phát triển của một hiện tượng theo
chuỗi thời gian. Không dùng để thể hiện sự biến động theo không gian hay theo các
thời kì (giai đoạn).
* Cách vẽ:
- Bước 1: Vẽ hệ trục tọa độ: Gồm một trục đứng Y thường thể hiện các đơn vị tính
(triệu người, ha, kg…) và một trục ngang X thường thể hiện năm, tháng. Chia tỉ lệ ở
hai trục cho hợp lí, khoa học. Đầu 2 trục cần có mũi tên và ghi danh số (đơn vị tính,
năm), các năm phải phù hợp tỉ lệ khoảng cách. Năm đầu tiên thường trùng với trục
Y. Nếu nhiều đường biểu diễn thì chú ý chia tỉ lệ cho phù hợp, tránh các đường biểu
diễn quá sát nhau, không tiện so sánh.
- Bước 2: Vẽ các đường biểu diễn. Mỗi đường cần theo trình tự:
+ Xác định các đỉnh (đánh điểm).
+ Kẻ các đoạn thẳng nối các đỉnh để thành đường biểu diễn.
Nếu có nhiều đường thì chú ý:
+ Mỗi đường cần có kí hiệu riêng.

(tr. người)
56,2 58,6 61,2 63,2 66,2 69,4 72,5 75,3 76,3
Sản lượng
(tr. tấn)
14,4 15,6 16 17 19,2 21,6 23,5 26,4 31,4
* Vẽ biểu đồ 2 đường với hai trục đứng biểu thị giá trị của hai đại lượng:
Th¸ng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Hà Nội
16,4 17 20,2 23,7 27,3 28,8 28,9 28,2 27,2 24,6 21,4 18,2
Huế
20 20,9 23,1 26 28,3 29,3 29,4 28,9 27,1 25,1 23,1 20,8
TPHCM
25,8 26,7 27,9 28,9 28,3 27,5 27,1 27,1 26,8 26,7 26,4 25,7
10
triÖu ngêi
N¨m

Ví dụ 4:
Cho bảng số liệu về dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực
theo đầu người ở Đồng bằng sông Hồng ( đơn vị: %).
Năm 1995 1998 2000 2002
Dân số 100 103.5 105.6 108.2
Sản lượng lương thực 100 117.7 128.6 131.1
Bình quân lương thực theo đầu người 100 113.8 121.8 121.2
Hãy vẽ biểu đồ thể hiện tốc độ tăng sản lượng lương thực và bình quân lương thực
theo đầu người ở Đồng bằng sông Hồng qua các năm trên.
* Vẽ biêu đồ đường chỉ số tăng trưởng: mỗi tiêu chí vẽ một đường, mỗi đường đều
xuất phát từ gốc 100% và mỗi đường có một kí hiệu riêng.
3.3.2. Biểu đồ hình cột:
* Vai trò: Thể hiện sự khác biệt về quy mô khối lượng của một hay một số đối tượng

qua các thời kì:
Thời kì Tỉ lệ % Thời kì Tỉ lệ %
1921-1926 1,86 1954-1960 3,93
1926-1931 0,69 1960-1965 2,93
1931-1936 1,39 1965-1970 3,24
1936-1939 1,09 1970-1976 3,00
1939-1943 3,06 1976-1979 2,16
1943-1951 0,50 1979-1989 2,10
1951-1954 1,10 1989-1999 1,7
* Ta vẽ biểu đồ cột đơn: chú ý các khoảng cách mốc thời gian trên trục ngang được
chia cách dều nhau (vì đây là thời kì chứ không phải là thời điểm)
Ví dụ 3: Cho bảng số liệu:
Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng lúa cả năm (nghìn tấn)
1975 4856 10293
1980 5600 11647
1985 5704 15874
1990 6028 19225
1997 7091 27545
2000 7666 32529
Hãy vẽ biểu đồ so sánh diện tích và sản lượng lúa của nước ta qua các năm trên.
* Vẽ biểu đồ cột gộp nhóm: biểu đồ có hai trục đứng (một trục thể hiện diện tích,
một trục thể hiện sản lượng), trục ngang thể hiện năm. Mỗi năm dựng hai cột, một
cột diện tích, một cột sản lượng.
Ví dụ 4: Dựa vào bảng số liệu sau, vẽ biểu đồ cột và nhận xét về giá trị sản xuất
công nghiệp ở hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc:
Giá trị sản xuất công nghiệp ở Trung du và miền núi Bắc bộ (tỉ đồng)
12
Năm 1995 2000 2002
Tiểu vùng Tây Bắc 320,5 541,1 696,2
Tiểu vùng Đông Bắc 6179,2 10657,7 14301,3

của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2002.
Ví dụ 6: Dựa vào bảng số liệu sau:
Độ che phủ rừng của các tỉnh ở Tây Nguyên năm 2003
(đơn vị: %)
Các tỉnh Kon Tum Gia Lai Đắc Lắc Lâm Đồng
Độ che phủ rừng 64 49,2 50,2 63,5
Hãy vẽ biểu đồ thanh ngang thể hiện độ che phủ rừng theo các tỉnh trên.
* Vẽ biểu đồ thanh ngang
3.3.3. Biểu đồ kết hợp (cột và đường):
* Vai trò: Thường dùng thể hiện động lực phát triển (biểu đồ đường) và cả tương
quan độ lớn (cột) giữa các đại lượng qua các thời điểm. Thường gặp ở biểu đồ nhiệt
độ - lượng mưa, chế độ mưa và lưu lượng dòng chảy…(các đối tượng có mối liên hệ
với nhau)
* Cách vẽ:
- Bước 1: Vẽ hệ trục tọa độ gồm có 2 trục đứng là Y và Y’ thể hiện 2 đại lượng có
đơn vị đo khác nhau, một trục ngang X. Chia tỉ lệ trên các trục sao cho khoa học.
13
- Bước 2: Vẽ đường biểu diễn và các cột:
+ Vẽ đường biểu diễn của đối tượng cần thể hiện bằng đường (giống như vẽ biểu đồ
đường), vẽ các cột của đối tượng cần biểu thị bằng cột.
+ Cần ghi số liệu trên đỉnh cột và đỉnh đường (nếu khoảng cách không dày quá).
- Bước 3: Lập chú giải và ghi tên biểu đồ.
Ví dụ 1: Cho bảng số liệu sau đây:
Năm 1954 1960 1965 1970 1976 1979 1989 1999 2003
Số dân (triệu
người)
23.8 30.2 34.9 41.1 49.2 52.7 64.4 76.3 80.9
Tỉ lệ gia tăng tự
nhiên (%)
1.1 3.9 2.9 3.3 3.0 2.5 2.3 1.43 1.4

Cây ăn quả, cây thực phẩm, cây khác 1366,1 2173,8
Hãy vẽ biểu đồ thể thể hiện rõ nhất cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây năm
1990 và năm 2002.
Hướng dẫn :
* Vẽ biểu đồ hình tròn (hai biểu đồ có bán kính khác nhau)
- Xử lí số liệu:
Ta có :
Bảng tỉ trọng diện tích gieo trồng phân theo nhóm cây (%)
Các nhóm cây Năm 1990 Năm 2002
Tổng số 100 100
Cây Lương thực 71,6 64,8
Cây công nghiệp 13,3 18,2
Cây ăn quả, cây thực phẩm, cây khác 15,1 17
* Tính bán kính đường tròn: Năm 2002 có tổng số diện tích trồng các nhóm cây gấp
1,4 lần tổng diện tích năm 1990. Do đó bán kính đường tròn năm 2002 = căn bậc
hai của 1,4 và bằng 1,2 lần bán kính đường tròn năm 1990. Giả sử bán kình đường
tròn năm 1990 là 2 cm thì bán kính đường tròn năm 2002 là 2x 1,2 cm = 2,4 cm.

* Vẽ hai biểu đồ tròn có bán kính khác nhau theo số liệu đã tính :
Năm 1990 Năm 2002
Biểu đồ cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây ở nước ta
15
năm 1990 và năm 2002
Ví dụ 2: Dựa vào bảng số liệu sau:
Cơ cấu dân số phân theo nhóm tuổi ở nước ta.
Năm Nhóm tuổi (%)
0 - 14 15 - 59 Từ 60 trở lên
1979 41,7 51,3 7,0
1989 38,7 54,1 7,2
1999 33,5 58,4 8,1

1995 – 2002 (đơn vị :%)
Năm 1995 2000 2002
Nông thôn 25,3 16,2 15,6
Thành thị 74,7 83,8 84,4
Tổng số 100 100 100
16
- Vẽ biểu đồ cột chồng theo số liệu đã xử lí:
Biểu đồ tỉ lệ dân số thành thị và nông thôn ở Thành Phố Hồ Chí Minh
giai đoạn 1995 – 2002 .
3.3.6. Biểu đồ miền
Có hai dạng biểu đồ miền: chồng nối tiếp và chồng từ gốc tọa độ.
a. Biểu đồ miền chồng nối tiếp (biểu đồ hình chữ nhật)
* Vai trò: Biều đồ này thường dùng để thể hiện cả cơ cấu và động thái phát triển
theo chuỗi thời gian (từ 4 mốc năm trở lên) cuả ít nhất là 2 đối tượng thành phần
trong cơ cấu. Biểu đồ này là biến thể của biểu đồ cột chồng.
* Cách vẽ:
- Bước 1: Kẻ khung biểu đồ là một hình chữ nhật trong đó trục tung thể hiện tỉ lệ %
(100%), trục hoành thể hiện năm (khoảng cách giữa các năm phải đúng theo tỉ lệ)
- Bước 2: Vẽ các miền và chú giải (tô màu hoặc dùng nét trải). Chú ý mỗi đối tượng
thành phần ta vẽ một miền chứ không phải mỗi năm vẽ một miền (lỗi này học sinh
rất hay mắc phải)
+ Thứ tự các thành phần vẽ lần lượt bắt đầu từ dưới lên.
+ Miền 2 chồng lên miền 1, miền 3 chồng lên miền 2…
+ Vẽ xong miền nào thì làm kí hiệu và lập bản chú giải ngay miền đó. Các giá trị
của các thành phần trên biểu đồ phải được ghi vào giữa mỗi miền tương ứng các
mốc thời gian (không ghi vào đường ranh giới giữa các miền).
- Bước 3: Ghi tên biểu đồ.
Ví dụ: Cho bảng số liệu sau: Cơ cấu GDP của nước ta thời kì 1991- 2002 (đv: %)
Năm 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2002
Tổng số 100 100 100 100 100 100 100

1992 30.4 6.0
1993 28.5 6.7
1995 23.9 3.9
Vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử và tình hình gia tăng dân số tự nhiên
ở nước ta thời kì 1960-1995.
* Vẽ biểu đồ miền (chồng từ gốc toạ độ):
Biểu đồ tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử và tình hình gia tăng dân số tự nhiên ở nước ta
thời kì 1960-1995
* Chú ý:
- Tỉ trọng của mỗi thành phần tại mỗi thời điểm là độ rộng của mỗi miền (chứ
không phải là độ cao của đường trần của mỗi miền). Nên phải căn cứ vào độ rộng
của miền và sự thay đổi độ rộng của miền qua thời gian để nhận xét.
- Không vẽ biểu đồ miền khi chuỗi số liệu không phải là theo các năm. Vì trục
hoành của biểu đồ miền phải là biểu điễn năm.
3.3.7. Biểu đồ hình vuông
18
* Vai trò: Thể hiện cơ cấu của đối tượng qua một số năm.
* Cách vẽ:
- Vẽ 100 ô vuông nhỏ bằng nhau (mỗi ô vuông ứng với 1%) tạo thành một hình
vuông lớn (tổng thể 100%)
- Vẽ lần lượt các thành phần theo giá trị %. Thao tác vẽ từ trên xuống dưới, từ
trái sang phải.
* Chú ý: Biểu đồ này không được dùng phổ biến vì có những hạn chế nhất định như:
vẽ tốn nhiều thời gian, khả năng truyền tải thông tin kém, không phù hợp với số liệu
lẻ thập phân. Chủ yếu chỉ thể hiện cơ cấu, chiếm nhiều không gian trên trang giấy
Ví dụ : Dựa vào bảng số liệu sau:
Cơ cấu kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002 (%)
Tổng số Nông, lâm, ngư nghiệp Công nghiệp –xây dựng Dịch vụ
100 1,7 46,7 51,6
Vẽ biểu đồ thể hiện cơ cấu kinh tế của Thành Phố Hồ Chí Minh?

- Chú ý là nhận xét phải ngắn gọn, rõ ràng, xúc tích, nêu được đặc trưng nổi bật,
sát câu hỏi của đề bài.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Đề tài “Hướng dẫn kĩ năng lựa chọn và vẽ biểu đồ Địa lí cho học sinh lớp
9” có tác dụng lớn đối với việc giảng dạy môn Địa lí lớp 9, đặc biệt là bối dưỡng
học sinh giỏi. Việc áp dụng đề tài này cho giảng dạy môn Địa lí ở Trung học cơ sở,
đặc biệt là lớp 9 giáo viên có thể tiến hành áp dụng trong các tiết thực hành chính
khoá bộ môn, trong phần củng cố kiểm tra đánh giá học sinh ở cuối các bài, trong
phần kiểm tra bài cũ, trong phần hướng dẫn bài tập về nhà cho học sinh đối với các
bài tập ở cuối bài. Đặc biệt giáo viên có thể áp dụng đề tài này một cách khoa học và
rất hiệu quả trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9.
Để vận dụng đề tài có hiệu quả, giáo viên cần lưu ý:
- Các loại biểu đồ có thể sử dụng thay thế nhau, tuỳ theo đặc trưng của các số
liệu, yêu cầu của đề ra.Vì vậy khi lựa chọn các dạng biểu đồ thích hợp, cần hiểu rõ
những ưu điểm, hạn chế cũng như khả năng biểu diễn của từng loại biểu đồ.
- Cần tránh mang định kiến về các loại biểu đồ. Chẳng hạn, không nhất thiết
phải biểu diễn cơ cấu bằng biểu đồ hình tròn, mà bác bỏ khả năng của các loại biểu
đồ khác trong việc biểu diễn cơ cấu và cả động thái của sự biến đổi cơ cấu
- Với mỗi loại bài tập, bảng số liệu đã cho, giáo viên nên hướng dẫn học sinh
chỉ ra được loại biểu đồ nào là thích hợp nhất, ngoài ra còn có thể sử dụng được
những loại biểu đồ nào để thể hiện số liệu đó.
Trên đây là sáng kiến “Hướng dẫn kĩ năng lựa chọn và vẽ biểu đồ Địa lí
cho học sinh lớp 9”. Tôi tập trung viết đề tài này trong khi kinh nghiệm còn ít nên
không tránh khỏi những hạn chế. Vì vậy tôi kính mong các cấp lãnh đạo, các đồng
nghiệp hãy đóng góp ý kiến, bổ sung cho sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn
nữa. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vĩnh Tường, Tháng 3 năm 2014.
Người viết sáng kiến:
Phan Thị Thủy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status