LỜI NÓI ĐẦU
Trung Quốc và Nhật Bản từ lâu đều là những cường quốc có vai trò
quan trọng hàng đầu của khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói chung và
tầm ảnh hưởng lớn với khu vực Đông Nam Á nói riêng. Từ khi bình thường
hóa quan hệ ngoại giao năm 1972, quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã
trải qua nhiều bước thăng trầm. Đặc biệt từ khi Trung Quốc trỗi dậy nhanh
chóng và gia tăng ảnh hưởng thì vấn đề cạnh tranh Trung- Nhật càng trở nên
nóng bỏng hơn, nhất là tại khu vực Đông Nam Á. Sự nghi kỵ phổ biến trong
nhân dân và thế hệ trẻ hai nước có thể thấy qua một cuộc khảo sát năm
2007: 46% sinh viên Nhật Bản và 57% sinh viên Trung Quốc có cái nhìn
tiêu cực về nước kia trong khi đó có tới 80% sinh viên hai nước được hỏi
cho rằng quan hệ Nhật Bản-Trung Quốc đang trong thời kỳ “tồi tệ”
1
. Dù đây
không phải là một cái nhìn toàn cảnh nhưng điều đó cũng buộc người ta phải
đặt ra những câu hỏi rằng: Phải chăng đằng sau những nụ cười và cái bắt tay
ngoại giao, bên dưới những bài phát biểu “tan băng” được phát đi từ cả hai
phía là cả một tảng băng chìm sẵn sàng ngăn trở và làm nguội lạnh những kỳ
vọng về sự xích lại gần nhau giữa hai người khổng lồ châu Á.
Trên thực tế, đã có không ít bài khóa luận nghiên cứu về quan hệ
Trung - Nhật. Song bài viết dưới đây muốn tìm hiểu về cạnh tranh của hai
quốc gia này tại khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh, đặc biệt là trong
giai đoạn gần đây, trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của đất nước Trung Quốc. Đó
là cuộc tranh giành tầm ảnh hưởng khu vực Đông Nam Á của một nước
Nhật Bản – một cường quốc kinh tế, vẫn luôn nuôi dưỡng ước mơ vươn tới
địa vị một cường quốc toàn diện và Trung Quốc- một cường quốc chính trị
đang tiếp tục những bước phát triển vững chắc với đầy tham vọng.
Đỗ Minh Cao (2009), “Nhật-Trung: Những trở ngại tiềm tàng trong quan hệ song phương”, Nghiên cứu
Đông Bắc Á, số 10(104)10/2009, tr.19
Nằm ở vị trí địa chiến lược quan trọng, Đông Nam Á từ lâu đã trở
(thuyết tự do). Khóa luận cũng đồng thời sử dụng các phương pháp quy nạp,
diễn dịch và dự báo để rút ra các kết luận thực tế và khách quan.
Về bố cục, khóa luận gồm ba chương với nội dung chính như sau:
Chương I: Khái quát quan hệ Trung- Nhật trong lịch sử
Chương này khái quát về vai trò của Trung Quốc và Nhật Bản ở Châu Á nói
chung và Đông Nam Á nói riêng, đồng thời điểm lại quan hệ Trung- Nhật
trong chiến tranh lạnh và nêu lên những di sản lịch sử còn tồn tại trong quan
hệ Trung-Nhật như vấn đề lịch sử và vấn đề Đài Loan.
Chương II: Cạnh tranh Trung- Nhật sau chiến tranh lạnh tại khu
vực Đông Nam Á
Chương II chỉ ra ba nội dung chính. Thứ nhất là vận động của quan hệ
Trung – Nhật sau chiến tranh lạnh, tức so sánh lực lượng thay đổi giữa
Trung Quốc và Nhật Bản từ sau chiến tranh lạnh cũng như chính sách của
hai cường quốc với nhau. Thứ hai là tầm quan trọng của Đông Nam Á trong
chiến lược của hai quốc gia này sau chiến tranh lạnh và triển khai chính sách
của từng nước đối với khu vực. Cuối cùng là phần quan trọng nhất: cạnh
tranh Trung-Nhật trong khu vực Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh. Tại
đây bài viết chỉ ra cạnh tranh Trung-Nhật trên các lĩnh vực chính: cạnh tranh
về chính trị-quân sự, về vấn đề xây dựng cơ chế hợp tác cho toàn vùng Đông
Á, về kinh tế, và về tranh giành năng lượng.
Chương III: Xu hướng cạnh tranh Trung- Nhật trong tương lai
Chương III chỉ ra tác động của cạnh tranh Trung- Nhật đến khu vực Đông
Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Từ đó đưa ra triển vọng quan hệ
Trung-Nhật trong tương lai dựa trên cơ sở lý luận của thuyết tự do.
CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT QUAN HỆ TRUNG-NHẬT TRONG LỊCH SỬ
I. TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN TRONG LỊCH SỬ CHÂU Á
1. Khái quát quan hệ Trung – Nhật trước CTTG II:
Nhật Bản và Trung Quốc là hai nước láng giềng lớn, có ảnh hưởng quan
trọng trong không gian địa chính trị tại Châu Á nói chung và khu vực Đông
ngăn cản hai nước khôi phục mối quan hệ ngoại giao bình thường.
Vào cuối thập kỷ 60 thế kỷ XX, Trung Quốc bị rơi vào tình thế bị cô
lập bốn bề.
4
Để phá vòng vây cô lập, Trung Quốc không còn con đường nào
khác là phải tìm cho mình một chính sách đối ngoại cởi mở hơn. Trong bối
cảnh ấy, việc bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản là một điều cần thiết,
hơn nữa lại được mở đường bởi mối quan hệ tan băng với Mỹ - một đồng
minh thân cận của Nhật Bản.
Đối với Nhật Bản, việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc tạo
điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế đang phát triển như vũ bão của Nhật dễ
dàng hơn trong việc chiếm lĩnh thị trường khổng lồ Trung Quốc, đồng thời
cũng giảm nguy cơ đe dọa về mặt an ninh đối với Nhật trong bối cảnh Trung
Quốc tuyên bố đã có vũ khí hạt nhân năm 1964. Trong giai đoạn thập kỷ 50-
60 thế kỷ XX, Nhật Bản phải chịu sức ép lớn từ Mỹ và tư tưởng chống
Cộng, nên mặc dù vẫn duy trì quan hệ kinh tế khá nhộn nhịp với Trung
Quốc, quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai bên chưa thể được thiết lập.
Chính vì vậy, việc Mỹ đàm phán bí mật với Trung Quốc và chuyến thăm
Trung Quốc của tổng thống Mỹ Nichxơn đã ít nhiều gây sốc cho Nhật Bản.
Nhật Bản cảm giác bị gạt ra ngoài lề trong mối quan hệ giữa các nước lớn.
Đây chính là động lực quan trọng thúc đẩy Nhật Bản nhanh chóng thoát ra
khỏi tư duy cũ và tiến hành bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
Tóm lại, trong suốt hai thập kỷ 50 - 60 thế kỷ XX, quan hệ chính trị
giữa hai bên được duy trì ở mức độ không chính thức, tình trạng căng thẳng
Trung Quốc lúc này không chỉ đối đầu với Mỹ và các nước phương Tây mà phía Tây xung đột với Ấn Độ,
phía Nam là các đồng minh với Mỹ hoặc các nước đang bị Mỹ can thiệp, phía Đông là Nhật Bản và Hàn
Quốc, ngay cả quan hệ với Liên Xô, một nước đã từng là đồng minh chiến lược ở phía Bắc cũng xuống đến
mức thấp nhất.
là phổ biến. Tuy nhiên, quan hệ kinh tế vẫn được duy trì, không những thế
Hinglands
Nguyễn Thanh Bình. “Quan hệ Nhật-Trung từa sau chiến trash thế giới II đến nay”. NXB Khoa học xã
hội, 2004,tr 83.
Ở Trung Quốc lúc này đang diễn ra cuộc đấu tranh lật đổ “ Bè lũ bốn tên”, thêm vào đó, những nhà lãnh
đạo kỳ cựu như Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông lần lượt qua đời . Còn về phía Nhật là sự thay đỏi liên tục
các đời thủ tướng.
Ở Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình được khôi phục chức vụ; ở Nhật Bản, nội các của Fukada lên nắm quyền.
được khai thông. Tháng 10/1978, Hiệp ước Hòa bình hữu nghị được phía
Trung Quốc khởi xướng ngay sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ
mới chính thức được hai bên phê chuẩn, đánh dấu sự khôi phục toàn diện
quan hệ Trung – Nhật.
Khái quát lại, từ năm 1979 đến trước sự kiện Thiên An Môn năm
1989, quan hệ Trung – Nhật phát triển theo hướng tích cực. Nhưng sau khi
vụ đàn áp đẫm máu xảy ra tháng 6/1989, quan hệ hai bên bị gián đoạn trong
một thời gian. Chỉ đến tháng 7/1990, Thủ tướng Nhật Kaifu mới có những
động thái mở đường cho quan hệ quan hệ song phương hai nước nửa đầu
thập kỷ 90 thế kỷ XX.
9
II. VAI TRÒ CỦA ĐÔNG NAM Á VỚI TRUNG QUỐC VÀ
NHẬT BẢN TRONG LỊCH SỬ
Từ xa xưa, với Trung Quốc và Nhật Bản, Đông Nam Á được coi như là
một vùng ảnh hưởng truyền thống. Bởi nằm ở vị trí địa chiến lược nên từ lâu
khu vực đã trở thành địa bàn tranh chấp ảnh hưởng và quyền lực giữa các
nền văn hóa-văn minh và các nước lớn trên thế giới, bao gồm có hai người
láng giềng khổng lồ là Trung Quốc và Nhật Bản.
Đối với Trung Quốc, Đông Nam Á luôn là khu vực có ý nghĩa chiến lược
cao đối với an ninh và phát triển, là nhịp cầu lý tưởng để nước này tham dự
11
Có thể nói, nếu không có thị
trường Đông Nam Á thì Nhật Bản khó có thể đạt được những thần kỳ kinh
tế trong những thập niên 70-80 cũng như để thoát khỏi những trì trệ kinh tế
diễn ra trong thập niên 90 và nâng cao vị thế của mình.
III. DI SẢN LỊCH SỬ ĐỐI VỚI QUAN HỆ TRUNG-NHẬT
1. Những vấn đề lịch sử
Một thách thức lớn đối với quan hệ Trung – Nhật là tranh chấp lãnh
thổ đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku và nhiều vấn đề lịch sử đến nay vẫn
chưa được hai bên giải quyết thấu đáo, tạo nên những rào cản trong quan hệ
song phương.
Học thuyết Fukuda ra đời trong chuyến thăm Đông Nam Á của thủ tướng Nhật Takeo Fukuda vào tháng
8/1977. Tại Manila ông đã công bố chính sách của Nhật đối với Đông Nam Á:
• Nhật Bản không trở thành cường quốc quân sự lớn.
• Xây dựng "lòng tin" trên mọi lĩnh vực.
• Hợp tác tích cực để tăng cường quan hệ với các nước ASEAN và tạo dựng hiểu biết lẫn nhau với
3 nước Đông Dương.
Thứ nhất về việc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku.
12
Nhật Bản
thì luôn cho rằng quần đảo này do một người Nhật phát hiện ra vào năm
1879 và được sát nhập vào lãnh thổ của Nhật từ năm 1895 theo Hiệp Ước
Shimonoseki.
13
Còn Trung Quốc khẳng định nhóm đảo này thuộc về Trung
Quốc từ xa xưa dựa theo tài liệu từ thời Minh - Thanh và điều này cũng
được Nhật Bản công nhận cho đến năm 1895 khi xảy ra chiến tranh Giáp
Ngọ giữa Nhật Bản và Trung Quốc.
Thứ hai là Trung Quốc cho rằng Nhật Bản không nhìn nhận đúng mức
15
dạy cho học sinh, trong đó có những quan điểm mà Trung
Quốc cho rằng Nhật Bản đã “xuyên tạc lịch sử” liên quan đến cuộc “xâm
lược” của Nhật Bản tại Trung Quốc vào những năm từ 1937 đến 1945.
16
Theo nhiều chuyên gia phân tích chính trị cho rằng, vấn đề lịch sử chỉ
là cái cớ để hai bên sử dụng trong việc kích động sự trỗi dậy của chủ nghĩa
dân tộc ở hai quốc gia này, song rõ ràng, nếu hai nước muốn cải thiện và
thúc đẩy quan hệ thì một yếu tố quan trọng là phải có những nhận thức
chung về lịch sử một cách đúng đắn. Sự tồn tại của vấn đề lịch sử là một di
sản tiêu cực trong quan hệ Trung- Nhật, thúc đẩy sự nghi kỵ lẫn nhau vốn đã
có mầm mống từ lâu đời giữa Trung Quốc và Nhật Bản.
2. Vấn đề Đài Loan
Đã từ lâu, Đài Loan luôn là một vấn đề nhạy cảm đối với cả hai quốc
gia Trung Quốc và Nhật bản bởi vị trí chiến lược và tầm quan trọng của
vùng lãnh thổ này đối với cả hai nước.
Đối với Nhật Bản, eo biển Đài Loan có tầm quan trọng chiến lược đặc
biệt vì nó đảm bảo điều kiện thuận lợi cho các con đường nhập khẩu và sự
thông thương của Nhật Bản. Liên kết với Đài Loan cũng chính là nhằm tạo
một vành đai bao bọc khống chế sức mạnh của Trung Quốc đang trỗi dậy
cạnh tranh vai trò với Nhật Bản. Trong tuyên bố chung tái khẳng định Hiệp
ước an ninh song phương năm 1996, Mỹ và Nhật đưa “vùng nước xung
quanh Nhật Bản” (có thể bao hàm cả Đài Loan) vào trong phạm vi phòng
thủ của họ. Điều này cũng thể hiện rõ trong Tuyên bố chung vào tháng
2/2005 tại cuộc họp 2+2 giữa Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng hai
Nhật Bản đã tiến hành ba đợt sửa chữa sách giáo khoa lịch sử: đợt thứ nhất kéo dài từ năm 1955 đến
những năm 1970, đợt thứ hai là từ năm 1982 kéo dài suốt những năm 1980, đợt thứ 3 là từ năm 1994 kéo
dài đến tháng 4 năm 2005, trong sách mới nhất có 124 điểm sửa chữa so với sách phát hành năm 1946.
Tokyo và Đài Loan với điệu nhảy Tango, Tạp chí nghiên cứu kinh tế viễn đông số tháng và 2/2007
Trần Hoàng Long (2007), “Quan hệ Nhât-Trung hiện nay: Thách thức và triển vọng”, tạp chí Nghiên cứu
Đông Bắc Á (7). Tr.16. .
CHƯƠNG II:
CẠNH TRANH TRUNG-NHẬT SAU CHIẾN TRANH LẠNH TẠI
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
I. Vận động quan hệ Trung-Nhật sau chiến tranh lạnh
1. So sánh lực lượng Trung – Nhật sau chiến tranh lạnh
Nhật Bản: Nếu như trước chiến tranh lạnh, Nhật vươn lên thành
cường quốc kinh tế có ảnh hưởng nhiều mặt trên thế giới (mậu dịch, đầu tư
nước ngoài, ODA viện trợ và vốn vay ưu đãi cho các nước đi sau) thì từ đầu
thập niên 1990, kinh tế Nhật suy thoái, trì trệ hơn 10 năm. Tuy nhiên, về mặt
đối ngoại, nhất là đối với khu vực Đông Nam Á, Nhật vẫn giữ vai trò quan
trọng và có chiến lược củng cố vai trò đó. Từ năm 2003 kinh tế hồi phục
càng làm cho Nhật tự tin hơn trong chiến lược đối ngoại. Đặc biệt cũng từ
năm 2003 Nhật tích cực vận động để được trở thành uỷ viên thường trực của
Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Tăng cường về vị trí chính trị trên trường
quốc tế.
Trung Quốc: Trong giai đoạn kinh tế Nhật suy sụp cũng là lúc Trung
Quốc trỗi dậy mạnh mẽ. Suốt hơn 20 năm cải cách, mở của, kinh tế Trung
Quốc phát triển trung bình mỗi năm 10%. Bước qua thế kỷ 21, đặc biệt là
sau khi gia nhập WTO (2001), các chỉ tiêu kinh tế chính như tổng sản phẩm
trong nước (GDP), kim ngạch xuất khẩu, v.v. cho thấy Trung Quốc ngày
càng tiến vào hàng ngũ những nước lớn. Trong thời kỳ Giang Trạch Dân
cầm quyền (1992-2002)
20
, ý thức nước lớn và quyết tâm thực hiện chiến
Nhật Bản là: lấy việc sửa sai, thoát khỏi hệ thống các nước chiến bại sau
chiến tranh, mục tiêu cơ bản là trở thành “quốc gia bình thường”, nội dung
cơ bản là xây dựng “nước lớn chính trị hóa”, và đường lối tăng cường quân
sự.
23
Về quan hệ Trung – Nhật, các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng
trong 10-15 năm đầu thế kỷ XXI, Nhật Bản vẫn coi Trung Quốc là đối tác
hợp tác quan trọng là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối
ngoại của Nhật Bản, tuy nhiên cũng nhìn nhận rằng liên minh Mỹ- Nhật sẽ
tiếp tục tồn tại trong một thời gian dài, và trong thời gian đó, Nhật Bản về cơ
bản sẽ tiếp tục thực hiện chính sách “theo đuôi” Mỹ trong khuôn khổ “Mỹ
Khái niệm hoà bình quật khởi chính thức được đưa ra vào tháng 11 năm 2003
Xem thêm:”Môi trường an ninh quốc tế khu vực Châu Á- Thái Bình Dương mà Trung Quốc phải đối mặt
trong 10-15 năm tới”. NXB Khoa học xã hội ( Trung Quốc), tháng 11/2003
chủ đạo, Nhật phục tùng”. Đồng thời, ở Nhật vẫn còn tồn tại một thế lực cực
hữu cố tình ngăn cản sự phát triển quan hệ Trung – Nhật, nên quan hệ Trung
– Nhật khó có bước đột phá trong thời gian ngắn trước mắt.
2.2. Chính sách của Nhật Bản với Trung Quốc
Sau chiến tranh lạnh, tương quan lực lượng thay đổi. Trong khi Nhật
Bản bị trì trệ về kinh tế thì Trung Quốc lại “trỗi dậy” mạnh mẽ và phát triển
nhanh chóng. Trung Quốc trở thành một đối thủ đáng gườm của Nhật đăc
biệt là trong khu vực Đông Nam Á. Nhật Bản tiếp tục coi trọng ổn định và
phát triển quan hệ với Trung Quốc nhằm đạt được mục đích quan trọng như
ổn định xung quanh, khai thác thị trường Trung Quốc; tiếp tục mưu cầu tăng
cường địa vị và vai trò của mình ở khu vực Đông Nam Á, ra sức phát huy
vai trò chủ đạo trong tiến trình hợp tác kinh tế và an ninh khu vực. Trong
báo cáo “Chiến lược cơ bản của Ngoại giao Nhật Bản thế kỷ XXI- thời đại
mới, tầm nhìn mới, ngoại giao mới”, do “Tổ công tác quan hệ đối ngoại”
cùng với sự kết thúc chiến tranh lạnh và gia tăng của toàn cầu hóa, khu vực
hóa, khu vực Đông Nam Á lại trở nên sống động không chỉ bởi sự gia tăng
hợp tác và liên kết nội khối trong ASEAN và các thành viên mà còn với các
đối tác lớn trên thế giới.
Trung Quốc, sau chiến tranh lạnh, càng nhận thấy hơn tầm quan trọng
và ảnh hưởng của khu vực Đông Nam Á đối với đất nước mình. Trung Quốc
nhận thấy các nước Phương Tây, đặc biệt là Mỹ lợi dụng việc tăng cường
hợp tác quân sự với các nước ASEAN sau chiến tranh lạnh để kiểm soát khu
vực, triển khai chính sách ngăn chặn, bao vây và kiềm chế Trung Quốc.
Điều này sẽ đe dọa đến an ninh của Trung Quốc. Trong khi đó, đa số các
nước ASEAN là các nước vừa và nhỏ, về mặt an ninh - quốc phòng không
tạo nên mối đe dọa nào mà còn là vành đai, lá chắn bên ngoài bảo vệ an ninh
quốc gia của Trung Quốc. Hơn nữa, Đông Nam Á còn là khu vực có thể
giúp Trung Quốc tăng cường vai trò trong cộng đồng quốc tế, tăng tầm ảnh
hưởng hơn trong cạnh tranh với Nhật Bản trong khu vực.
Về phía Nhật Bản, ủng hộ ASEAN ngay từ khi tổ chức này thành lập
năm 1967, Nhật Bản luôn coi tổ chức này là đồng minh tin cậy trong việc mở
rộng ảnh hưởng ra bên ngoài và ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc.
Sau chiến tranh lạnh, nhận thấy vai trò của ASEAN đang ngày càng tăng trên
trường quốc tế, để củng cố được địa vị chính trị của mình, Nhật Bản gia sức
tranh giành tầm ảnh hưởng tại khu vực này với Trung Quốc thông qua một
loạt các hình thức viện trợ. Ngoài ra, ASEAN có vai trò quan trọng đối nền
kinh tế Nhật Bản: một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, năng động về
kinh tế, tương đối ổn định về chính trị - xã hội, đang tích cực mở cửa và hội
nhập với bên ngoài.
Nói tóm lại, trong chiến lược khu vực của mình sau chiến tranh lạnh,
cả hai nước Trung Quốc và Nhật Bản đều mong muốn giành được sư ủng hộ
của ASEAN. Bởi nước nào giành được sự ủng hộ của ASEAN, nước đó sẽ có
vai trò và tiếng nói quan trọng trong khu vực, và tất nhiên sẽ có ảnh hưởng
tới các nước trong khu vực.
chưa hiểu hết thâm ý đối tác chiến lược của người Trung Quốc song với văn
bản này, Trung Quốc đã tự mình khẳng định họ có tầm quan trọng lớn hơn
trong tương quan so sánh với các thế lực khác trong quan hệ với ASEAN. Ít
ra thì nhận định này cũng có lý cho đến hiện nay vì ngoài Trung Quốc thì cả
Mỹ và Nhật Bản đều chưa ký một văn bản nào như vậy với ASEAN.
Có thể nói chính sách của Trung Quốc đối với ASEAN thể hiện qua
việc ký hiệp định đối tác chiến lược với nhóm này là một bước tiến dài
nhằm thể hiện với đối tác về một Trung Quốc có thiện chí và thực thi chính
sách chính trị đối ngoại hòa bình với các nước láng giềng. Tuy nhiên cần
phải thấy rằng chính sách của Trung Quốc đối với ASEAN được tiến hành
dựa trên ưu thế của một thế lực lớn và buộc các nước nhỏ hơn trong một
chừng mực nào đó phải chấp nhận.
28
II.2. Chính sách của Nhật Bản đối với các quốc gia Đông Nam Á
Sau chiến tranh lạnh, nỗ lực chủ yếu của chính sách đối ngoại Nhật
Bản là phát triển quan hệ kinh tế với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Nhằm
Ngô xuân Bình(2008), “Tìm hiểu chính sách của Trung Quốc đối với Asean”, Nghiên cứu Đông Bắc Á
(9),tr.6.
Điều này có thể thấy qua việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền của họ trên Biển Đông sau khi họ ký
công ước quốc tế về luật biển năm 1982 cũng như việc sử dụng vũ lực để bảo vệ cái gọi là lợi ích trên vùng
biển họ tuyên bố chủ quyền (việc này đã diễn ra một số lần trong thập kỷ 1980, 1990 và những năm gần
đây) đã đặt các đối tác ASEAN vào thế đã rồi.
nâng cao vị thế của mình và tranh giành tầm ảnh hưởng với Trung Quốc trên
trường quốc tế cũng như vứt bỏ hình ảnh mình chỉ là “cái đuôi” trong các
chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực, Nhật Bản nhận thấy rằng ngoài cải
cách ra, nước Nhật cần phải gắn bó và đóng một vai trò hữu hiệu hơn nữa
với Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Cho tới nay, Nhật Bản là
Dân chúng đang già đi và tỉ lệ sinh đẻ thấp có nghĩa là nước Nhật cần ngày
càng nhiều nhân công nước ngoài, và đến một mức độ nào đó, tình trạng
thiếu nhân công là một trong những lý do khiến Nhật Bản mở rộng cơ sở
công nghiệp ở nước ngoài. Và các nước Đông Nam Á là một lựa chọn
không thể không kể đến.
Một lý do không kém quan trọng là Nhật Bản nhận thức được những
hạn chế của mình khi muốn có một vị thế cường quốc lớn ở Đông Nam Á
nói riêng và trên thế giới. Nước Nhật hầu như không có tài nguyên thiên
nhiên, cần nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm. Trong những
năm đầu 1990, Nhật Bản phải đối phó với những vấn đề kinh tế lớn, nhiều
cuộc cải cách hành chính, xã hội và chính trị được thi hành để phục hồi nền
kinh tế. Đây cũng là thời gian thế giới chứng kiến những thay đổi đáng kể
khi Liên Xô tan rã. Chiến tranh Lạnh kết thúc tác động sâu sắc đến chính
sách đối ngoại của Nhật Bản.
III. Cạnh tranh Trung – Nhật trong khu vực Đông Nam Á sau
chiến tranh lạnh
1. Cạnh tranh chính trị-quân sự Nhật – Trung tại khu vực
Sau chiến tranh lạnh, cục diện thế giới thay đổi, Trung Quốc và Nhật
Bản ra sức tranh giành tầm ảnh hưởng của mình với khu vực Đông Nam Á
trên lĩnh vực chính trị và quân sự. Nhật Bản là một nước đã có quan hệ mật
thiết với hầu hết các nước ASEAN từ nửa thế kỷ trước còn quan hệ Trung
Quốc và ASEAN thì tương đối mới nhưng được triển khai rất nhanh từ thập
niên 1990.
30
Do đó, cuộc chạy đua tranh giành ảnh hưởng giữa hai quốc gia
càng trở nên quyết liệt và sôi động hơn tại khu vực trong cả lĩnh vực chính
trị và quân sự.
Về chính trị, đối với cả Nhật Bản và Trung Quốc, đây được coi như
một cuộc chạy đua trong việc gia tăng ảnh hưởng, lôi kéo các nước đồng
minh tại khu vực. Tuy cùng đạt đến vị trí cường quốc chính trị và kinh tế,
cũng đã tổ chức nhiều đoàn khảo sát khu vực Tam giác phát triển và tài trợ
bước đầu 2 tỷ yên cho dự án phát triển Tam giác này. Đồng thời, năm 2006,
Nhật Bản đã đóng góp 64 triệu USD thành lập Quĩ hội nhập Nhật Bản –
ASEAN, trong đó dành phần ưu tiên cho Tam giác phát triển Việt Nam –
Lào – Campuchia.
32
Về phía Trung Quốc, nhằm hạn chế hoặc vô hiệu hóa những nỗ lực
mới của Nhật Bản tại Đông Nam Á, nhất là đối với phát triển EWEC và
Tam giác Việt Nam – Lào – Campuchia, Trung Quốc vào năm 2006 ( năm
thông xe tuyến EWEC) đã đưa ra chiến lược “Một trục hai cánh” hay còn
gọi là “Chiến lược chữ M”, trong đó: 1) Xây dựng hành lang kinh tế trên
đất liền kéo dài từ Nam Ninh ( Quảng Tây) đi qua một số nước Đông Nam
Á đến Xingapo, đồng thời lấy đó làm trục; 2) Thúc đẩy Hợp tác Tiểu vùng
sông Mê Công mở rộng (GMS) và coi đây là một Cánh; 3) Xây dựng hành
lang kinh tế biển, gọi là vịnh Bắc Bộ mở rộng, đồng thời coi đây là một
Cánh. Dự án lớn này sẽ tạo ra sự liên kết theo chiều dọc, hay sự “ hợp tung”
giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á.
33
Để thực hiện dự án chiến
Xem thêm: Ngô Vĩnh Long(2007). “Đông Nam Á trong quan hệ Mỹ, Nhật, Trung Quốc và ảnh hưởng
của nó đối với Việ Nam” (8)
Trần Khánh (2009), “Đông Nam Á trong cạnh tranh chiến lược Trung-Nhật (thập niên đầu thế kỷ XXI)”,
Nghiên cứu Đông Nam Á (1), tr.18.
Sự “hợp tung” và “ liên hoành” của các hành lang, vành đai kinh ( như hành Bắc Nam, Hành lang Đông
Tây…) trong GMS đã và đang làm tăng nhanh các mối giao lưu, nhất là kinh tế giữa Trung Quốc và các
nước Đông Nam Á lục địa. Tại điểm giao nhau đó ngày càng xuất hiện nhiều Trung tâm thương mại mới
của Trung Quốc. Còn Trung Quốc, nhiều trung tâm đô thị, hải cảng lớn được xây dựng để kết nối với trục,
“phiễu” mới đón nhận các sản phẩm từ vùng Tây Nam của Trung Quốc xuất khẩu ra nước ngoài.
Trần Khánh (2009), “Đông Nam Á trong cạnh tranh chiến lược Trung-Nhật (thập niên đầu thế kỷ XXI)”,
Nghiên cứu Đông Nam Á (1), tr.18.
Xem thêm: Hoài Nam (2008). “Trung Quốc với Hành lang Kinh tế Đông Tây“, Nghiên cứu Đông Nam Á
(11), tr.50-51.
Những nhận xét trên có thể là chưa đúng hoàn toàn, nhưng cũng chứng minh
một phần về sự gia tăng cạnh tranh giành ưu thế địa chính trị giữa Trung
Quốc và Nhật Bản ở Đông Nam Á, nhất là ở khu vực Đông Nam Á lục địa.
Về quân sự, tuy không quá gay gắt nhưng Nhật Bản và Trung Quốc
cũng có những cạnh tranh nhất định trên lĩnh vực này.
Nhật Bản vốn là một quốc gia không có thế mạnh về quân sự, nhưng
để hoàn thiện mình với khu vực Đông Nam Á và không muốn thua kém gì
Trung Quốc tại khu vực, những năm gần đây, Nhật Bản đang tăng cường
quan hệ đồng minh chiến lược Mỹ - Nhật – Úc, đồng thời nâng cấp Cục
phòng vệ lên thành Bộ Quốc phòng từ tháng 1/2007, gia tăng đầu tư trang bị
vũ khí mới, hiện đại, thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận chung với
các đồng minh, trong đó có các nước đồng minh ở Đông Nam Á như Thái
Lan và Philippin. Tháng 5/2005, lần đầu tiên trong lịch sử, Nhật Bản tham
gia vào cuộc tập trận chung với tên gọi là “Hổ mang” tổ chức hàng năm tại
Thái Lan với sự tham gia của Mỹ và các đồng minh của họ trong khu vực.
Hơn nữa Nhật Bản từ 2005 đã để cho cơ quan chỉ huy của Tập đoàn Bộ binh
số 1 từ Oasingtơn đến Kanagawa, đồng thời tăng cường hợp tác quân sự với
Mỹ , trong đó có việc xây dựng Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo tại Nhật
Bản. Tuy nhiên, liên minh an ninh-quân sự Mỹ- Nhật lại càng làm cho hố
ngăn cách Nhật- Trung ngày càng lớn.
36
Về phía Trung Quốc, đáp lại sự củng cố liên minh Nhật-Mỹ, ngoài
việc tăng cường ảnh hưởng mềm, Trung Quốc cũng không ngừng gia tăng
2. Vấn đề xây dựng các cơ chế hợp tác khu vực
Vấn đề xây dựng cơ chế hợp tác khu vực “Cộng đồng Đông Á”
39
thể
hiện rất rõ việc lôi kéo đồng minh các nước khu vực Đông Nam Á trong
chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng của Nhật Bản và Trung Quốc bởi từ lâu, cả
hai quốc gia này đều muốn chiếm vai trò chủ đạo trong khu vực Đông Á.
Xem thêm: Trần Khánh(2008), “Can dự và cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung ở Đông Nam Á trong thập
niên đầu thế kỷ XXI, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á(12)
Trần Hoàng Long (2007), “Quan hệ Nhật – Trung hiện nay: Thách thức và triển vọng”, Nghiên cứu
Đông Bắc Á (7).tr.14
Vấn đề Cộng đồng Đông Á lần đầu tiên được chính thức bàn đến là vào năm 2001 khi Nhóm bàn thảo về
tầm nhìn Đông Á (East Asian Vision Group) được thành lập gồm các thức giả trong vùng, theo sự gợi ý
của Tổng thống Hàn Quốc đương thời Kim Dae Jung.