SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI :
"GIÚP HỌC SINH LỚP 5 XÁC ĐỊNH ĐÚNG TỪ LOẠI TIẾNG
VIỆT"
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Mục tiêu giáo Tiểu học là giáo dục toàn diện cho trẻ từ 6 đến 11 tuổi có những
hiểu biết cơ bản về: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và chăm sóc sức khoẻ ban
đầu. Thực hiện chủ trương dạy đủ môn ở Trường Tiểu học, ngành giáo dục đã không
ngừng đổi mới phương pháp dạy học trong tất cả các môn học nói chung. Mỗi môn
học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em
những tri thức cần thiết để phục vụ cho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao cho tốt
nhất và có hiệu quả cao.
Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh cấp bậc tiểu học nói chung, ở lớp
tôi nói riêng. Nếu học tốt bộ môn này nó sẽ giúp các em học tốt hơn các phân môn của
bộ môn Tiếng Việt như: Nó sẽ giúp thêm cho môn Tập làm văn, vế câu sẽ trau chuốt
hơn, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràng mạch lạc, biết sàng lọc để đưa hình ảnh hay vào
trong bài. Nó còn giúp cho bộ môn chính tả như viết đúng, ít lỗi hơn. Trong bộ môn kể
chuyện, các em sẽ biết cách kể hay, hấp dẫn người nghe hơn. Học tốt bộ môn này nó
còn giúp cho việc học và nắm bắt kiến thức các môn học khác một cách dể dàng hơn.
Được phân công dạy lớp 5, qua một thời gian giảng dạy tôi thấy học sinh của mình
rất cố gắng học tập tất cả các môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt. Nhưng trong thực tế
khi học đến từ loại Tiếng Việt thì nhiều em còn lúng túng. Với suy nghĩ: "Làm thế nào
để học sinh nắm chắc kiến thức này và tự tin trong học tập?" nên tôi đã quyết định
chọn đề tài: “Giúp học sinh lớp 5 xác định đúng từ loại Tiếng viêt.” để viết sáng kiến
kinh nghiệm
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở lý luận
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học là: Hình thành và phát triển ở học sinh các
kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện
các thao tác của tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt
3 . Khảo sát tình hình ở trường
Sau đây là bảng thống kê kết quả của học sinh lớp 5A làm một số bài tập về thực
hành từ loại Tiếng việt có trong chương trình tiểu học hiện hành khi chưa thực hiện đề
tài này.
Kết
quả
T.S HS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
S.L % S.L % S.L % S.L %
20 1 5 5 25 5 25 9 45
4 - Quá trình thực hiện :
A. biện pháp 1. Giúp học sinh nắm chắc lí thuyết về từ loại
Các từ loại cơ bản của T.V
Ghi nhớ :
- Dựa vào sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp, các từ được phân ra thành từng
loại, gọi là từ loại.
- Từ loại là các loại từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát.
- Các từ loại cơ bản của Tiếng Việt gồm : Danh từ, động từ, tính từ, đại từ, Quan
hệ từ .
a. Danh từ:
a.1. Danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị.
Ví dụ:- Chỉ người: Ông, bà, bố, me, thầy giáo , cô giáo, học sinh
- Chỉ vật: Nhà, bàn, ghế, cây, sách, vở, sông
- Chỉ hiện tượng: Gió, bão, nắng, mưa
- Chỉ đơn vị: cơn,…
Danh từ Động từ Tính từ Đại từ Quan hệ từ
Đại từ
chỉ
ngôi
Chỉ t/c
* Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một loại sự vật.
VD: Kim Đồng, núi Trường Sơn, Hà Nội,….
a.4. Trong câu, danh từ (Đứng một mình hoặc kèm theo các từ phụ thuộc) có thể
làm nhiều chức vụ khác nhau: Làm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ.
b. Động từ:
b.1. Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.
VD: - Chỉ hoạt động của người: Ngủ, chạy, đi, viết…
- Chỉ trạng thái của sự vật: đổ, bay, phi,…
- Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của ĐT chỉ trạng thái là : nếu như ĐT chỉ hoạt
động, hành động có thể kết hợp với từ xong ở phía sau (ăn xong, đọc xong , ) thì ĐT
chỉ trạng thái không kết hợp với xong ở phía sau (không nói : còn xong, hết xong,
kính trọng xong, ).
b.2. Trong TV có một số loại ĐT chỉ trạng thái sau :
+ ĐT chỉ trạng thái tồn tại (hoặc trạng thái không tồn tại) : còn, hết, có,
+ ĐT chỉ trạng thái biến hoá : thành, hoá,
+ ĐT chỉ trạng thái tiếp thụ : được, bị, phải, chịu,
+ ĐT chỉ trạng thái so sánh : bằng, thua, hơn, là,
- Một số “nội ĐT” sau đây cũng được coi là ĐT chỉ trạng thái : nằm, ngồi, ngủ,
thức, nghỉ ngơi, suy nghĩ, đi ,đứng , lăn, lê, vui, buồn , hồi hộp, băn khoăn, lo
lắng, Các từ này có một số đặc điểm sau :
+ Một số từ chuyển nghĩa thì được coi là ĐT chỉ trạng thái (trạng thái tồn tại).
VD : Bác đã đi rồi sao Bác ơi! (Tố Hữu )
Bác ấy đứng tuổi rồi .
+ Một số từ mang đặc điểm ngữ pháp của TT ( kết hợp được với các từ chỉ mức
độ )
+ Một số từ vừa được coi là ĐT chỉ hành động, lại vừa được coi là ĐT chỉ trạng
thái.
- Các ‘ngoại ĐT” sau đây cũng được coi là ĐT chỉ trạng thái ( trạng thái tâm lí ) :
yêu, ghét , kính trọng, chán, thèm,, hiểu, Các từ này mang đặc điểm ngữ pháp của
TT, có tính chất trung gian giữa ĐT và TT.
) với các phụ từ.
*Danh từ :
- Có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng như : mọi, một, hai, ba, những,
các, ở phía trước ( những tình cảm, những khái niệm, những lúc, những nỗi đau, )
- DT kết hợp được với các từ chỉ định : này, kia, ấy, nọ ,đó, ở phía sau
(hôm ấy, trận đấu này, tư tưởng đó, )
- DT có khả năng tạo câu hỏi với từ nghi vấn “ nào” đi sau ( lợi ích nào ? chỗ nào?
khi nào? )
- Các ĐT và TT đi kèm : sự, cuộc, nỗi, niềm, cái, ở phía trước thì tạo thành một
DT mới ( sự hi sinh, cuộc đấu tranh, nỗi nhớ, niềm vui, )
- Chức năng ngữ pháp thay đổi cũng cũng dẫn đến sự thay đổi về thể loại:
V.D: Sạch sẽ là mẹ sức khoẻ. ( sạch sẽ (TT) đã trở thành DT )
* Động từ :
- Có khả năng kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh : hãy , đừng , chớ, ở phía trước
( hãy nhớ, đừng băn khoăn, chớ hồi hộp, )
- Có thể tạo câu hỏi bằng cách đặt sau chúng từ bao giờ hoặc bao lâu (TT không
có khả năng này ) (đến bao giờ? chờ bao lâu? )
*Tính từ :
- Có khả năng kết hợp được với các từ chỉ mức độ như : rất , hơi, lắm, quá, cực
kì, vô cùng, (rất tốt, đẹp lắm, )
* Lưu ý : Các ĐT chỉ cảm xúc ( trạng thái ) như : yêu, ghét, xúc động, cũng
kết hợp được với các từ :rất, hơi, lắm, Vì vậy, khi còn băn khoăn một từ nào đó là
ĐT hay TT thì nên cho thử kết hợp với hãy, đừng , chớ, Nếu kết hợp được thì đó là
ĐT.
d. Đại từ:
d. 1. Đại từ dung để thay thế cho danh từ, động từ hoặc tính từ trong câu.
Ví dụ: Cú chẳng có tổ, nó phai sống trong những hốc cây tăm tối,
d.2. Trong giao tiếp người ta có thể dùng đại từ để xưng hô. Đó là đại từ chỉ ngôi.
các đại từ chỉ ngôi thường dùng là :
Ngôi thứ nhất: Tôi, chúng tôi, tao, chúng tao
thương, đáng yêu.
Để xác định từ loại của những từ này, ta xét ý nghĩa (chỉ đối tượng , chỉ hành
động hay chỉ tính chất) cũng như thử các khả năng kết hợp của chúng. Có thể nói :
- những niềm vui - rất yêu thương - hãy yêu thương
- hãy vui chơi - tình yêu ấy - rất đáng yêu
Sau đó học sinh trình bày:
DT ĐT TT
vui tươi
Tình yêu
Niềm vui
đáng yêu
vui chơi
yêu thương
Kiểu 2: Xác định từ loại trong đợn thơ văn có sẵn:
VD1: Xác định động từ, danh từ, tính từ trong hai câu thơ của Bác Hồ:
“ Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suỗt cả ngày”
- ở bài tập này, học sinh cần phải xác định ranh giới các từ rồi xét ý nghĩa và các khả
năng kết hợp của từ rồi xếp.
“ Cảnh / rừng / Việt Bắc / thật là / hay
Vượn / hót / chim / kêu / suốt cả ngày”
DT ĐT TT
cảnh , rừng , Việt Bắc,
vượn , chim , ngày
hót, kêu hay
VD 2: Xác định động từ, danh từ, tính từ trong các câu sau:
Chú chuốn chuồn nước tung cánh bay vọt lên . Cái bóng chú nhỏ xíu lướt nhanh
trên mặt hồ . Mặt hồ trải rộng mênh mong và lặng sóng.
- ở bài tập này, học sinh cần phải xác định ranh giới các từ rồi xét ý nghĩa và các
khả năng kết hợp của từ rồi xếp.
VD: Xác định từ loại của các từ trong các thành ngữ sau:
Đi ngược, về xuôi
Nước chảy, đá mòn
Nhìn xa trông rộng
Nước chảy bèo trôi
Các từ loại học sinh xác định nhanh và rõ ràng chính xác là “đi, về” “chảy”, “trôi”,
nhìn, trông” là động từ; “nước, đá” “nước, bèo” là danh từ; “xa,rộng” là tính từ. Nhưng
các em lúng túng và hay xếp các từ “ngược”, “xuôi”là động từ, “mòn” tính từ. Vậy
giáo viên phải phân tích ý nghĩa của từ và hướng dẫn học sinh xếp từ “ngược”
“xuôi”,là tính từ, “mòn” là động từ chứ không phải là tính từ.
DT ĐT TT
nước, đá, nước, bèo đi, về, chảy, trôi,
nhìn, trông, mòn
ngược, xuôi, xa,
rộng
Lưu ý: ở dạng này học sinh có thể cho thêm một số ví dụ để xác định từ loại.
5. Dạng bài tập xác định từ loại trong các trường hợp chuyển từ loại theo một kiểu
cấu tạo nào đó.
Ví dụ 1: Xác định từ loại của các từ sau:
- vui, buồn, đau khổ, đẹp
- niềm vui, nỗi buồn, cái đẹp, sự đau khổ
- ở bài tập này, học sinh phải nắm được các từ “ vui, buồn, đau khổ” là các động từ
chỉ trạng thái. Còn từ “đẹp” là tính từ.
Phải nắm được quy tắc cấu tạo từ: sự, cuộc, nỗi, niềm đi kèm với động từ hoặc
tính từ thì tạo thành một danh từ mới. Đó là các danh từ trừu tượng “niềm vui”, “ nỗi
buồn”, “sự đau khổ”, “ cái đẹp”
Ví dụ 2:
“ Sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi , béo cái béo của
trứng gà, ngọt cái ngọt của mật ong già hạn”
a) Hãy tìm các tính từ có trong câu văn.
+ từ “ ngược”, “xuôi” ở câu 1 là động từ
7. Dạng bài tập xác định từ loại khi thay thế danh từ bằng đại từ chỉ ngôi.
Ví dụ: Thay thế danh từ bằng đại từ chỉ ngôi thích hợp để câu văn không bị lặp.
a) Một con quạ khát nước , con quạ tìm thấy một cái lọ.
b) Tấm đi qua cầu, Tấm vô ý đánh rơi chiếc giày xuống nước.
* Học sinh phải có nhận xét danh từ được lặp lại.
- ở câu a là “ con quạ”.
- ở câu b là Tấm.
Việc lặp từ làm cho câu văn không hay vậy ta có thể thay các danh từ bị lặp lại đó
bằng các đại từ thích hợp:
Từ “ con quạ” có thể thay bằng đại từ “nó”.
Từ “ Tấm” có thể thay bằng từ “nàng”.
8. Dạng bài tập xác định chức vụ ngữ pháp của một từ loại khi nó đứng ở
những vị trí khác nhau.
VD: Xác định từ loại của từ thật thà và chỉ rõ nó giữ chức vụ ngữ pháp trong câu.
a) Chị Loan rất thật thà
b) Thật thà là phẩm chất đẹp đẽ của chị Loan.
* ở bài tập này, học sinh dựa vào ý nghĩa của từ để xác định “thật thà” là tính từ.
- ở câu a: từ giữ chức vụ vị ngữ
- ở câu b: từ giữ chức vụ chủ ngữ
9. Dạng bài tập hướng dẫn học sinh biết vận dụng từ loại để đặt câu.
Ví dụ : Đặt câu có tính từ làm vị ngữ và một câu có tính từ làm chủ ngữ.
- ở bài tập này học sinh phải nắm vững kiến thức về từ loại và kiến thứ đặt câu và có
thể đặt như sau
- Anh bộ đội rất dũng cảm. - Bạn Hà có chiếc cặp mới.
VN VN
C. Biện pháp 3. Tổ chức các trò chơi để củng cố kiến thức từ loại.
Trò chơi thứ nhất: “ Ai nhanh , ai đúng”
a- Chuẩn bị: Các băng giấy có ghi sẵn từ.
Hai bảng phụ có kẻ sẵn 3 cột : Danh từ , Động từ . Tính từ.
- Điền nhanh, đúng.
- Đọc thơ hay.
* Mục đích của trò chơi: Luyện tập sử dụng động từ đúng chỗ nhằm hoàn thiện
nội dung đoạn thơ gợi tả tiếng chim buổi sớm và cảm nhận được cách dùng từ sinh
động trong đoạn thơ hay.
VD3: “ Điền tính từ”
a) Chuẩn bị: Ghi các tính từ chỉ màu trắng ra các băng giấy: trắng phau, trắng bệch,
trắng xoá , trắng hồng, trắng nõn, trắng bạc.
- Viết các câu có chỗ trống trên bảng phụ.
Giáo viên gắn các từ nhưng sai ý nghĩa vào chỗ trống (2 bảng gắn các từ khác
nhau) Tuyết rơi trắng phau một màu
Vườn chim chiều xế trắng xóa cánh cò
Da trắng bệch người ốm o
Bé khoẻ đôi má non tơ trắng bệch
Sơn len trắng hồng như bông
Làn mây trắng nõn bồng bềnh trời xanh.
b) Cách tiến hành: Chọn 2 đội chơi , mỗi đội có 6 em. Mỗi em lên sửa lại một câu.
Nếu còn thời gian các em vẫn liên tiếp lên sửa lại cho đến khi hết giờ.
Đáp án: Tuyết rơi trắng xoá một màu
Vườn chim chiều xế trắng phau cánh cò
Da trắng bệch người ốm o
Bé khoẻ đôi má non tơ trắng hồng
Sơn len trắng nõn như bông
Làn mây trắng bệch bồng bềnh trời xanh.
- Mục đích: Luyện cách dùng tính từ chỉ màu trắng với các sắc độ khác nhau có
tác dụng gợi tả. Làm giàu vốn từ chỉ màu trắng thường dùng trong các đoạn văn miêu
tả
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Qua việc cung cấp kiến thức cơ bản về từ loại và ho học sinh thực hành
các dạng bài tập về xác định và sử dụng từ loại đối với họ sinh lớp 5 , tôi nhận
3. Trên cơ sở nội dung chương trình toán ở lớp 4, 5 giáo viên phải hệ thống hoá
kiến thức, cung cấp thêm một số dấu hiệu khác. Đồng thời rèn kỹ năng xác định, có
biện pháp lồng ghép phù hợp với giảng dạy, ôn, luyện tập trong từng bài tập cụ thể.
4. Phải tạo được tình huống có vấn đề buộc các em phải tự tìm cách tháo gỡ có
như vậy mới phát triển được năng lực tư duy sáng tạo của học sinh.
5. Phải dạy cho học sinh tự làm các bài tập tương đối mới, những bài
đòi hỏi có những tìm tòi sáng tạo trong cách giải.
Từ những điều đã nói ở trên tôi có một số kiến nghị, đề xuất như sau:
- Đối với giáo viên: Mỗi người GV cần phải tìm tòi để biết cách xác định từ loại
ngoài các kiến thức ở SGK.
- Đối với tổ chuyên môn, chuyên môn nhà trường cần tổ chức các chuyên đề về
từ loại.
Trên đây là đề xuất sáng kiến của tôi. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của
các đồng nghiệp, của BGH nhà trường và của cấp trên.