Cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt
Nam đầu thế kỉ XX
MỞ ĐẦU
Đầu thế kỉ XX, châu Á thức tỉnh, phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở
các nước thuộc địa và nửa thuộc địa như Iran, Thổ Nhĩ Kì, Trung Quốc, Ấn
Độ… mang một nội dung mới: Đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc kết hợp
đấu tranh giành quyền dân chủ.
Ở nước ta, vào những năm đầu thế kỉ XX, dưới tác động của chính sách
khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, nền kinh tế - xã hội Việt
Nam có sự biến đổi. Nền kinh tế có tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc đã bị phá
vỡ, mặc dù chưa tan rã hoàn toàn. Nền nông nghiệp cổ truyền còn chiếm ưu
thế, nhưng một nền công thương nghiệp theo kiểu tư bản đã xuất hiện, thể
hiện một cảnh quan mới, khác lạ ở Việt Nam và hơn hẳn chế độ phong kiến.
Đồng thời, mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng
sâu sắc.
Trước sự suy tàn của chế độ phong kiến và những yêu cầu mới của lịch
sử, những người yêu nước Việt Nam đã ý thức được sự lỗi thời của thiết chế
cũ về mọi mặt, họ nhận thấy rằng, “quan niệm trung quân ái quốc” của thời kì
Cần Vương không thể là con đường cứu nước, cứu dân được nữa. Đây là
những tiền đề cho sự hình thành một khuynh hướng cách mạng mới.
Đúng lúc, các tân thư, tân văn của Trung Quốc, Nhật Bản dội vào nước ta
đã giới thiệu những tư tưởng dân chủ tư sản của phương Tây dưới lăng kính
của các nhà tư tưởng lập hiến. Các học thuyết về nhân đạo, dân quyền của
những nhà tư tưởng trong trào lưu triết học ánh sáng Pháp thế kỉ XVIII cũng
truyền bá vào Việt Nam, được các sĩ phu yêu nước tiến bộ tiếp thu nồng nhiệt.
Trào lưu tư tưởng đó đã cổ vũ, hướng theo họ lí tưởng của cuộc Cách mạng
Pháp (1789), cuộc vận động Duy Tân (1898) và Cách mạng Tân Hợi (1911) ở
Trung Quốc, giúp họ đoạn tuyệt những tư tưởng quân chủ bảo hoàng, chuyển
1
sang tư tưởng dân chủ cộng hòa. Mặt khác, hơn 30 năm sau duy tân, Nhật Bản
đã trở thành một nước tư bản hùng mạnh, nhất là sau chiến thắng vang dội của
vàng. Một số khác bị bắt bớ, tù đày. Một số công khai quay trở về công tác với
địch… Thế nhưng, đến thời điểm này, do tình trạng phân hóa trong cơ cấu xã
hội Việt Nam xuất phát từ những chủ trương duy trì chế độ phong kiến lỗi
thời, lạc hậu gây ra nên hệ tư tưởng mới không có điều kiện nảy nở, truyền bá
từ bên ngoài vào. Trong điều kiện như vậy, cuộc dấu tranh yêu nước của nhân
dân ta nửa cuối thế kỷ XIX vẫn không có con đường nào khác là hướng tới
việc khôi phục lại chế độ cũ giống như mơ ước của Hàm Nghi, Tôn Thất
Thuyết được thể hiện dưới dạng một bài học kêu gọi nhân dân: “chuyển loạn
làm trị, chuyể ngụy làm an, khôi phục lại bờ cõi”. Người lãnh đạo tối cao cuối
thế kỷ XIX, vẫn là sĩ phu văn thân yêu nước.
Tuy vậy, cũng có không ít sĩ phu vẫn một long sắt son với sự nghiệp cứu
nước, cứu dân, ngày đêm trăn trở với câu hỏi: Vì sao dân tộc ta mất nước ?
Làm thế nào và đi theo con đường nào để cứu được nước. Tóm lại, cuối thể kỷ
XIX Việt Nam bước vào một thời kỳ xã hội lố lăng, vua là tượng gỗ, dân là
than trâu, mọi người dân bị tước hết quyền dân sinh, dân chủ tối thiểu. Người
nông dân bị cướp hét ruộng dất, công nhân bị bóc lột đến tận xương tủy.
Phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta đang lâm vào tình trạng bế tắc, khủng
hoảng về một con đường cứu nước.
1.2. Những biến đổi về kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế
kỉ XIX
1.2.1 Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Năm 1897, Pôn Đu - me được cử làm Toàn quyền Đông Dương. Ngay
khi vừa đặt chân đến Đông Dương, y đã đưa ra chương trình hành động gồm 7
điểm, trong đó tập trung vào các vấn đề:
3
+ Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hành chính trên toàn cõi và cho từng xứ ở
Đông Dương.
+ Sửa đổi chế độ tài chính, thuế khóa, xây dựng các thiết bị khai thác, tạo
điều kiện chắc chắn cho tư bản Pháp đầu tư vào Đông Dương.
+ Ổn định tình hình chính trị và quân sự, đồng thời khuếch trương ảnh
Ngoài việc vơ vét thóc gạo để xuất khẩu, bọn thực dân còn tăng cường
việc tước đoạt ruộng đất lập đồn điền. Khi nền nông nghiệp mang các yếu tố
tư bản chủ nghĩa xuất hiện thì tất yếu sẽ dẫn đến sự xuất hiện các cơ sở công
nghiệp chế biến và sản xuất hàng hóa. Các nhà máy xay xát, xay bột, nấu rượu
nối tiếp nhau mọc lên. Để có đủ lượng gạo xuất khẩu, thương nhân Pháp được
chính quyền thực dân giúp đỡ đã sử dụng mọi hình thức ép nông dân phải bán
rẻ cho chúng số lúa gạo ít ỏi của mình. Nông dân do đó bị kiệt sức, không còn
khả năng để cải tiến kĩ thuật canh tác.
Tình hình trên đã dẫn đến hậu quả là nông nghiệp Việt Nam vẫn ở
nguyên tình trạng độc canh, năng suất rất thấp mà lại phải đáp ứng nhu cầu
xuất khẩu cao, cho nên đời sống nhân dân, nhất là nông dân vô cùng bi đát.
Nền công nghiệp Việt Nam lúc này nằm trong tay nhà nước thực dân.
Hướng phát triển của nó đã được vạch sẵn là: “Chỉ giới hạn trong phạm vi sao
cho nền công nghiệp đó không tổn hại đến công nghiệp chính quốc. Nền công
nghiệp chính quốc phải được nền công nghiệp thuộc địa bổ sung chứ không bị
nền công nghiệp này phá hoại”. Nói cách khác, công nghiệp thuộc địa được đẻ
ra là để làm những cái mà công nghiệp Pháp không thể làm được, để cung cấp
những sản phẩm đến những nơi mà sản phẩm công nghiệp Pháp không đến
được.
Phần lớn hàng tiêu dùng phải nhập từ Pháp.
Do đó có thể nói rằng nền kinh tế Việt Nam đầu thế kỉ XX về cơ bản vẫn
mang nặng tính tự cung tự cấp. Các ngành thủ công do đó còn rất cần thiết.
5
Nhưng hàng hóa nhập từ Pháp ngày càng nhiều cùng với chính sách độc
quyền kinh tế của nhà nước thực dân đã làm cho nhiều ngành thủ công dân
gian gặp khó khăn. Hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân hết sức khan hiếm.
Pháp độc chiếm thị trường Đông Dương, nắm nguồn thuế, độc quyền
thương mại, thuế quan, xuất nhập khẩu. Hai thứ thuế trực thu và gián thu tăng
mạnh. Nhiều thứ thuế mới được đặt ra để nuôi sống một số lượng quan lại
đông đúc, nhất là các quan chức Pháp lương cao, đồng thời góp tiền của để
trào cách mạng Việt Nam.
Ngoài giai cấp công nhân, còn xuất hiện tầng lớp tư sản và tiểu tư sản
thành thị. Vì bị thực dân Pháp chèn ép nặng nề, tư sản Việt Nam phát triển
chậm chạp về mọi mặt, chưa đủ điều kiện để hình thành một giai cấp. Tuy
vậy, sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa nói chung và sự lớn lên của
tầng lớp tư sản dân tộc nói riêng đã trở thành cơ sở thuận lợi cho sự tiếp thu
các trào lưu tư tưởng cách mạng từ bên ngoài.
3. Sự thức tỉnh của Châu Á và sự truyền bá Tân thư, tân văn vào
Việt Nam
Sự thức tỉnh của Châu Á là khái niệm của Lênin đầu thế kỉ XX dùng để
chỉ những trào lưu tư tưởng muốn thoát khỏi chế độ phong kiến để vươn tới
những nền văn minh mới ở Châu Âu. Phong trào ấy bắt đầu ở Nga với xu
hướng cải tổ nhằm thủ tiêu chế độ Nga Sa hoàng, thiết lập chế độ tư bản chủ
nghĩa ở Nga. Sau đó trào lưu tư tưởng này xuất hiện ở Tây Ban Nha, Mianma,
Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Nhật Bản… Khi nói tới sự thức
tỉnh của Châu Á, người ta hay nói đến Trung Quốc, Nhật Bản, trong đó có sự
xuất hiện của những cuốn sách, những tờ báo đề cập những vấn đề về kinh tế,
chính trị, tư tưởng của phương Tây.
7
Năm 1868, Nhật Bản tiến hành cuộc Minh Trị duy tân. Cuộc cải cách này
đã giúp Nhật thoát khỏi thân phận thuộc địa của tư bản phương Tây, và hơn
nữa còn nhanh chóng phát triển thành một cường quốc. Đặc biệt, năm 1905,
Nhật Bản đánh thắng Nga hoàng. Sự kiện này đã gây chấn động lớn đến các
nước Châu Á, làm xuất hiện trào lưu sùng bái Nhật, muốn học theo Nhật Bản.
Ở Trung Quốc, vào năm 1899, Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vỹ đã
vận động vua Quang Tự tiến hành cuộc cải cách mà sách vở gọi là biến pháp.
Mở đầu cuộc vận động là chống lề thói phong kiến, vận động mở trường học,
thư quán, báo quán để tuyên truyền tư tưởng mới, dân chủ tiến bộ; khuyến
khích, chấn hưng nền kinh tế dân tộc. Những biện pháp này đã động chạm đền
quyền lợi của triều đình phong kiến Trung Hoa nhất là quyền lợi của phái Bảo
lối cứu nước…). Vào thời điểm đầu thế kỉ, bộ phận này của tầng lớp trí thức
Nho học là những người có khả năng nhất trong việc vận động phong trào cứu
nước và học hỏi, tiếp thu các tư tưởng. Tự giác hay không tự giác, họ đã đảm
nhận sứ mệnh mà lịch sử đã giao cho họ trong buổi giao thời của xã hội.
Các nhà Nho yêu nước hồi đầu thế kỉ có nhược điểm cố hữu là được đào
tạo trong trường Nho học cũ kĩ, không biết tiếng nước ngoài nào khác ngoài
Trung Quốc, họ chỉ có thể tiếp xúc với tư tưởng mới qua các sách báo Trung
Quốc. Tình hình này chẳng những hạn chế họ rất nhiều trong việc tiếp thu cái
mới mà luôn đặt họ trước nguy cơ chỉ có thể tiếp thu được các học thuyết của
phương Tây đã bị “khúc xạ” qua tư tưởng của các tác giả và dịch giả Trung
Quốc.
Đối với các nhà Nho hồi đầu thế kỉ XX đã thấy sự lỗi thời của Nho giáo
và đang khao khát giải thích nhiều vấn đề có liên quan đến sự nghiệp giải
phóng dân tộc, Tân Thư đã có sức hút mãnh liệt.
Niềm say mê Tân Thư còn được kích thích thêm bởi tấm gương duy tân
của nước Nhật “đồng văn đồng chủng”, và bởi các sự kiện trên thế giới như
9
cuộc chính biến Mậu Tuất 1898 ở Trung Quốc, chiến tranh Nga – Nhật 1904 –
1905, Cách mạng Tân Hợi 1911.
Các nhà Nho Việt Nam yêu nước đầu thế kỉ XX đã say mê Tân Thư
không phải là để thỏa mãn lòng yêu thích cái mới lạ, mà là để tìm phương
sách giải quyết vấn đề dân tộc. Họ đã vận dụng các học thuyết mà họ tiếp thu
được từ Tân Thư vào sự nghiệp cứu nước. Tình hình Việt Nam lúc bấy giờ có
nhiều điểm khác Trung Quốc. Họ không rập khuôn máy móc những trào lưu
duy tân của Trung Quốc.
Tóm lại, tư tưởng tư sản đã được đưa vào Việt Nam từ những năm cuối
thế kỉ XIX sang đầu thế kỉ XX, thông qua các cuốn Tân Thư theo hai con
đường Trung Quốc và Nhật Bản. Những cuốn sách của Khang Hữu Vi, Lương
Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục… đề cập tới yêu cầu của cải cách thể
chế chính trị, tổ chức kinh tế, giáo dục xã hội… theo lối phương Tây. Đồng
hòa.
+ Khuynh hướng dân chủ tư sản bắt nguồn từ nhu cầu nội tại sự phát triển
của xã hội Việt Nam.
+ Xuất hiện từ nhu cầu của công cuộc giải phóng dân tộc. Nói cách khác,
khuynh hướng dân chủ tư sản vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để đi tới
độc lập. Điều này khác với cách mạng tư sản ở Châu Âu.
Sở dĩ có những đặc điểm như vậy là vì: các mầm mống tư bản tuy xuất
hiện từ sớm nhưng lại không có điều kiện phát triển. Những nhân tố mới
không đủ thắng thế lực cản của xã hội cũ. Đến khi nhà Nguyễn thắng Tây
Sơn, để duy trì, bảo vệ chế độ phong kiến đã làm cho những nhân tố TBCN bị
thui chột. Đến lúc nhà Nguyễn có sự biến đổi, nhận thức cần phát triển thì lúc
đó thực dân phương Tây xâm chiếm. Quá trình thực dân Pháp khai thác Việt
Nam, đã dựa trên nền sản xuất cũ cộng với khuynh hướng TBCN, tạo ra một
11
nền kinh tế lai căng để thu lợi nhuận. Xã hội Việt Nam vì thế không thể phát
triển tự do để tiến lên TBCN. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã đưa nước
ta quay trở lại quỹ đạo của nó.
Nghiên cứu chuyên đề là một trong những điều kiện để tiếp tục nghiên
cứu những khuynh hướng khác xuất hiện từ những năm 20 của thế kỉ XX, khi
xuất hiện khuynh hướng vô sản. Tuy nhiên, do những điều kiện đặc biệt của
lịch sử dân tộc, sự xuất hiện khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam có
những nét hơi khác biệt so với khuynh hướng này ở các quốc gia khác như
Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản.
Nghiên cứu chuyên đề này còn mở rộng thêm những kiến thức lịch sử thế
giới, soi rọi vào Việt Nam, so với Việt Nam để thấy được những nét tương
đồng và khác biệt.
Ví dụ: bắt đầu từ thế kỉ XVII, XVIII, CNTB đã xuất hiện, chiếm ưu thế ở
phương Tây, sang thế kỉ XIX, song song với quá trình xâm lược và đô hộ của
các nước tư bản phương Đông đã xuất hiện làn sóng đổi mới. Làn sóng này ở
cuối XIX, gọi là thời kì “Châu Á thức tỉnh” với sự chuyển biến mạnh mẽ về tư
nghèo sống bằng nghề dạy học; mẹ là Nguyễn Thị Nhàn, một phụ nữ rất mực
hiền hậu.
Lúc còn thiếu niên, Phan Bội Châu nổi tiếng thông minh, học giỏi. Bảy
tuổi, học kinh truyện đã có thể sáng tác ra cuốn Phan tiên sinh chi luận ngữ để
đùa vui, chế giễu bạn bè. Mười ba tuổi, đã làm được thơ văn lối cận cổ, thi đỗ
đầu huyện, đến mười sáu tuổi đỗ đầu tỉnh nên có tên gọi là Đầu xứ San.
Phan Bội Châu sớm có tinh thần yêu nước. Vào lúc chín tuổi, khi cuộc
khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai bùng nổ ở Nghệ Tĩnh, Phan Bội
Châu tập hợp bạn bè cùng trường “lấy ống tre làm súng, hột vải làm đạn, giả
cách chơi trò bình Tây”. Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất (1883), Phan lúc đó
13
mười bảy tuổi, đã thảo hịch “Bình Tây thu bắc” để kêu gọi thân hào, nhân dân
đứng lên chống Pháp. Năm 1885, kinh đô Huế thất thủ, hưởng ứng Chiếu Cần
Vương của vua Hàm Nghi, thân hào xứ Nghệ nổi lên mạnh mẽ, Phan (19 tuổi)
đã lập “đội Thí sinh quân” gồm 60 người để ứng nghĩa.
Tiếp đó là năm dạy học, mở rộng giao du, tìm người đồng tâm, đồng chí,
bí mật liên lạc với các dư đảng Cần Vương và “vong mạng lục tâm” chuẩn bị
công cuộc cứu nước.
Phan ra bắc, vào Huế. Tại kinh đô, ông đã dùng văn tự kết giao với các
bậc sĩ phu tên tuổi, như Khiếu Năng Tĩnh, Đặng Nguyễn Cẩn, Nguyễn
Thượng Hiền… Chính nhờ sự giao du này, Phan đã tiếp xúc với các tân thư,
như “Thiên hạ đại thế luận” của Nguyễn Lộ Trạch, “Trung Đông chiến kỉ”,
“Phổ Pháp chiến kỉ”, “Doanh hoàn chí lược”… và tư tưởng thế giới của ông
bắt đầu hình thành.
Năm 1900, Phan đỗ thủ khoa (giải nguyên) kì thi Hương ở trường thi
Nghệ An. Sau đó, Phan Bội Châu chính thức bước vào cuộc đời hoạt động
cách mạng chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc. Năm 1901, Phan đã tập
hợp lực lượng định đánh úp thành Nghệ An đúng vào lễ Quốc khánh nước
Pháp (14/7) nhưng không thành. Liền sau đó, Phan cùng Đặng Thái Thân đề
ra ba kế hoạch lớn:
nghĩ đến lợi chung, biết thân mình mà không nghĩ đến việc nước [4]. Ý thức
"quốc gia quốc dân" trong tư tưởng cũng như hành động của Phan phải nói là
một sự đề kháng đối với chính sách "chia để trị" của chính quyền đô hộ, khác
hẳng với đầu óc địa phương hẹp hòi thường thấy ngay ở các nhân vật tai to
mặt lớn trong nước lúc bấy giờ. Bình tĩnh mà nói, bệnh chia rẽ, óc địa phương
không chỉ do chính sách cai trị của người nước ngoài, bởi lẽ ngay khi người
Việt nắm lấy vận mệnh đất nước, vẫn không thấy những biện pháp tích cực
1
Phan Bội Châu – Niên biểu, 1957, H: Văn – Sử - Địa, Hà Nội, tr 33.
15
nhằm khắc phục tư tưởng cục bộ "ăn cây nào, rào cây ấy" hay tình trạng "phép
vua thua lệ làng". Đóng góp của Phan trên mặt này ngay từ hồi đầu thế kỷ
đúng là một điểm son đáng trân trọng, cần được ghi nhớ.
Sau Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911), tư tưởng của Phan Bội
Châu đã có sự chuyển biến từ quân chủ sang dân chủ. Cụ nhận thấy sự lỗi thời
lạc hậu của chế độ phong kiến và muốn thay thế nó bằng thể chế cộng hòa tư
sản. Sự chuyển biến tư tưởng này được đánh dấu bằng việc thành lập tổ chức
Việt Nam Quang phục hội (1912) Tôn chỉ "độc nhất" của Quang phục Hội là
"khôi phục nền độc lập của Việt Nam" và thành lập một nước "cộng hòa dân
quốc". Nói một cách khác, với sự thành lập của Quang phục Hội, lần đầu tiên
trong lịch sử Việt Nam chủ nghĩa quân chủ đã bị phủ nhận và chủ nghĩa dân
chủ "được xác định". Dĩ nhiên Phan Bội Châu đã đóng vai trò quan trọng
trong sự chuyển hướng đường lối của Quang phục Hội. Cho dù việc thay đổi
"ngọn cờ quân chủ" (mà Phan Bội Châu đã đề cao để chống Pháp lúc xuất
dương) thành lá cờ dân chủ phần nhiều là do ảnh hưởng của Cách mạng Tân
Hợi (1911) ở Trung Quốc, nhưng trong bối cảnh lịch sử nửa đầu thế kỷ XX ở
Việt Nam, sự kiện này có ý nghĩa như một khúc nhạc dạo đầu báo hiệu sự cáo
chung của chế độ quân chủ ở nước ta mà trên thực tế sẽ xảy ra trong quá trình
ba, bốn mươi năm sau đó.
Chủ trương cứu nước xuyên suốt trong tư tưởng của Phan Bội Châu, đó
nhau. Chẳng hạn, sau khi sang Nhật để xin viện trợ quân sự chống lại Pháp,
Phan gặp Lương Khải Siêu, và sau khi nghe lời khuyên chí tình của họ Lương,
Phan mới chuyển hướng sang việc gửi thanh niên sang Nhật du học. Qua bút
đàm, Lương khuyên Phan: "Quý quốc chớ lo không có ngày độc lập, mà chỉ
nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập Thực lực của quý quốc là dân
trí, dân khí và nhân tài". Mặc dầu thời kỳ Đông Du là khoảng thời gian mà
chính Phan xem là "đắc ý" nhất trong đời, Phan vẫn còn vương vấn với
17
khuynh hướng "bạo động" nên cũng không hết lòng tin tưởng vào vai trò của
giáo dục. Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật (1909), bôn ba sang Xiêm, rồi cuối
cùng trở về Quảng Đông thành lập Quang phục Hội (1912), Phan chủ trương
"bạo động kịch liệt" nhằm "tìm cái sống trong muôn vạn cái chết" và những
mong bạo động sẽ là "môi giới để cải lương giáo dục"!
b) Phan Châu Trinh và xu hướng cải cách
Trong lúc phong trào Đông Du và những hoạt động của Duy Tân hội diễn
ra sôi nổi thì Phan Châu Trinh và một số sĩ phu yêu nước khác như Huỳnh
Thúc Kháng, Trần Quý Cáp… chủ trương tiến hành một phong trào Duy Tân
nhằm vận động cải cách kinh tế, văn hoá, xã hội và gắn liền với việc động
viên lòng yêu nước, căm thù giặc, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống
trị của ngoại xâm. Người đại diện tiêu biểu nhất cho xu hướng này là Phan
Châu Trinh.
Phan Châu Trinh hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hi Mã, sinh năm 1872 ở làng
Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì, tỉnh Quảng Nam. Cha ông là Phan
Văn Bình – một võ quan nhỏ, đã từng tham gia phong trào Cần Vương Quảng
Nam với chức chuyển vận sứ, phục trách việc quân lương. Phan Châu Trinh
theo cha tập võ nghệ. Năm 1887, Phan Văn Bình bị kẻ xấu sát hại.
Năm 1892, Phan Châu Trinh bắt đầu đi học. Ông nổi tiếng học giỏi. Năm
1900, Phan Châu Trinh đỗ cử nhân, năm sau (1901), đỗ Phó bảng. Năm 1902,
ông học trường Hậu bổ rồi ra làm quan với chức Thừa biện bộ Lễ, nhưng tâm
trạng chán nản cảnh quan trường ô nhục. Tại kinh đô Huế, ông giao du với
thuộc địa sửa đổi chính sách cai trị hiện hành để có thể giúp nhân dân Việt
Nam từng bước tiến đến văn minh (ỷ Pháp cầu tiến bộ). Tuy vậy, ông đề cao
phương châm “Tự lực khai hoá”, vận động những người cùng chí hướng thức
tỉnh dân chúng, tuyên truyền tư tưởng dân quyền, vận động mở trường học
19
theo lối mới, hô hào phát triển công, nông, thương nghiệp, cải cách phong tục,
chống lề thói phong kiến cổ hủ.
Với phương châm đã xác định, Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc
Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh Quảng Nam, vào các tỉnh phía nam (đến
Phan Thiết) để hô hào duy tân cải cách. Ông lại ra Bắc, đến căn cứ Phồn
Xương, Yên Thế tìm gặp Hoàng Hoa Thám.
Năm 1906, nghe tin Phan Bội Châu cùng Cường Để xuất dương sang
Nhật, Phan Châu Trinh cũng định ra nước ngoài để tìm gặp Phan Bội Châu,
nhưng khi đến nhà Lưu Vĩnh Phúc ở Quảng Đông, ông đã gặp Phan Bội Châu
ở đây. Hơn 10 ngày ở Quảng Đông, hai ông đã cùng bàn bạc việc nước. Phan
Châu Trinh tán thưởng bài Khuyến quốc dân tự trợ du học văn của Phan Bội
Châu và xem chương trình hoạt động của Duy Tân hội, ông không nói gì. Ông
chỉ “… cực lực đả kích vua quan, gọi họ là “độc phu dân tặc”, hại nước hại
dân, hình như không đập tan được nền quân chủ thì dù có khôi phục được
nước cũng không phải là hạnh phúc của dân”
1
.
Trung tuần tháng 3 năm 1906, Phan Châu Trinh cũng sang Nhật với Phan
Bội Châu và Cường Để, trọ tại “Bính Ngọ hiên”. Thượng tuần tháng 4, Phan
Châu Trinh cùng đi Đông Kinh với Phan Bội Châu, nhờ Phan Bội Châu giới
thiệu, Phan Châu Trinh đã tiếp xúc với nhiều chính khách Nhật Bản, tham
quan các trường học, khảo cứu tình hình giáo dục, chính trị Nhật Bản.
Giữa tháng 5/1906, Phan Châu Trinh về nước. Ngày 15/8/1906, ông gửi
cho Toàn quyền Bô (Beau) một bức thư bằng chữ Hán thường được gọi là
“Đầu Pháp Chính phủ thư” (Thư gửi Chính phủ Pháp). Trong thư, Phan Châu
"Khi Tổng thống đã được bầu cử rồi, thì phải thề trước hai viện ấy: "Cứ giữ
theo hiến pháp dân chủ, không phản bạn, không theo đảng này chống đảng
kia, cứ giữ công bình, nếu có làm bậy, thì dân nó truất ngay. Trước thì có
Macmahon, sau thì có Mil1erand bị cách chức cũng vì vi phạm hiến pháp"2.
21
Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước lớn, đồng thời với Phan Bội Châu
nhưng biện pháp cứu nước của hai ông không giống nhau, nhất là con đường
thực hiện giành lại chủ quyền cho quốc gia, giải phóng dân tộc
Nếu Phan Bội Châu yêu nước bằng chủ trương bạo động để giành độc lập, thì
Phan Chu Trinh trái lại, ông phản đối chủ trương bạo động cách mạng và đi
cầu viện nước ngoài để giành độc lập. ông muốn nhờ vào chính quyền thực
dân Pháp mà làm chính trị công khai để “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân
sinh", để từ đó giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân
dân.
Chủ trương cơ bản của Phan Chu Trinh là: "ỷ Pháp cầu tiến bộ" tức là
dựa vào thực dân Pháp mà cầu tiến bộ để từ đó tranh đấu với Pháp về các mặt
kinh tế, văn hoá, chính trị. Chủ trương ấy gọi là "Pháp - Việt đề huề". Nhận
xét về tư tưởng của Phan Chu Trinh, trong Phan Bội Châu niêu biểu, Phan Bội
Châu đã viết: "Cụ thì muốn đánh đổ quân chủ, mà cốt vun trồng lấy nền tảng
dân quyền, dựa vàn Pháp mà đánh đổ quân chủ. Còn ý tôi thì trước muốn đánh
đổ người Pháp, chờ nước mình độc lập rồi, mới bàn đến việc khác. Vì thế mà
đương lúc đánh với Pháp, phải lợi dụng quân chủ ( ) Cụ thì muốn đi theo lối
dựa Pháp đánh đổ vua, tôi ưng đi theo lối bài Pháp phục Việt, sở dĩ mâu thuẫn
với nhau là vì thể”3.
Phan Chu Trinh đề xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân. Ông có ý
định thiết lập ở Việt Nam một chế độ dân chủ tự trị. Tự trị nghĩa là tách khỏi
sự cai trị của thực dân Pháp. Trong Pháp - Việt liên hiệp hậu chi tân Việt
Nam, Phan Chu Trinh viết: 'Tôi đã chủ trương tự trị, tin cậy Pháp. Đã muôn
cậy Pháp ắt không lợi dung lòng dân oán Pháp (…). Tôi đã chủ trương cậy
Pháp thì thủ đoạn không thể do tự trị mà ra. Tự trị cũng chẳng là việc dễ lắm
Về chủ nghĩa dân chủ, ông lại lấy câu của Mạnh Tử: "Dân vi quý, xã tắc thứ
chi, quân vi khinh", nghĩa là dân quý hơn hết, lãnh thổ thứ nhì, vua là nhẹ rồi
23
ông lại nói: "Đạo Khổng - Mạnh đã mất rồi, nay ta muốn nước ta có một nền
đạo đức, luân lý vững vàng, thì có gì hay bằng ta hết sức đem cái chủ nghĩa
dân chủ Châu Âu về. Chủ nghĩa dân chủ chính là một vị thuốc tất thần hiệu
dùng để chữa bệnh chuyên chế của nước ta vậy. Đem văn minh Âu Châu về,
tức đem đạo Khổng - Mạnh về”. Nếu chỉ đọc đoạn này thì có thể nghĩ đây là
một cách nói để dễ thuyết phục tầng lớp nho học. Nhưng, gắn liền vào lời nói
của Mạnh Tử về "dân vi quý”, ông đã viết: "Ngày nay, bên Đức, bên Pháp,
bên Nga, tuy chính thể của họ có khác nhau chút đỉnh nhưng đều thực hành
cái chủ nghĩa dân chủ cả".
Phan Châu Trinh là người yêu nước lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tư
tưởng dân chủ tư sản qua tân thư. Con đường cứu nước của ông khác với Phan
Bội Châu ở điểm cơ bản là ông chủ trương bãi bỏ chế độ quân chủ phong
kiến, thực hiện dân chủ, khai thông dân trí, mở mang công thương nghiệp.
Không bạo động, không nhờ ngoại viện, mà nhờ vào chính quyền thực dân,
vin vào những lời hứa hẹn của nhà cầm quyền để làm chính trị công khai, mưu
dân quyền, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân. Cho nên, có thể nói lý tưởng
dân quyền là tư tưởng căn bản quyết định hành động cách mạng của Phan
Châu Trinh.
Chủ trương xuyên suốt của ông là dựa vào "nước Pháp là một nước làm
tiền đạo văn minh của hoàn cầu, nay hiện bảo hộ nước ta, mình nhân đó mà
học theo, chuyên tâm về mặt khai tự trị sinh, các việc thực dụng, dân trí đã mở
rộng, trình độ ngày sẽ một cao, tức là cái nền độc lập ngày sau ở đây".
Thứ văn Phan Châu Trinh tràn ngập tình thương yêu người dân bị áp chế,
nghèo khổ và cực lực chống lại mọi kẻ quyền thế, giàu có, tàn ác…
"Nhớ vợ thương con, dạ nặng trì,
Lên non còi túc, lệnh đòi đi.
Ba quân hiệu giáp nghe vang cả,
25