A - Phần mở đầu
I) Lý do chọn đề tài:
Trong nhà trờng Tiểu học Việt Nam, Tiếng Việt là một môn học rất quan
trọng, nó góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở Tiểu học theo
đặc trng bộ môn của mình.
Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cách thức sử
dụng Tiếng Việt nh một công cụ giao tiếp và t duy; học sinh đợc rèn luyện các
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết để sử dụng có hiệu quả Tiếng Việt trong học tập và
đời sống. Trên cơ sở những mục tiêu cơ bản của môn Tiếng việt, phân môn
chính tả giải quyết vấn đề dạy cho trẻ em biết chữ để học tiếng, dùng chữ để
học các môn học khác và để sử dụng trong giao tiếp. Vì vậy, dạy học chính tả ở
Tiểu học là một trong những vấn đề đang đợc quan tâm nhằm nâng cao chất l-
ợng của môn học Tiếng Việt.
Phân môn chính tả trong nhà trờng có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững
các quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả, nói cách khác giúp học sinh
hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả (đúng về phụ âm đầu, vần,
âm cuối, thanh, cao thp ca tng con ch). Từ đó giúp học sinh viết đẹp,
viết nhanh, nột ch u n, mm mi.
Qua phân môn chính tả còn rèn luyện cho các em một số phẩm chất nh:
Tính kỉ luật, tính cẩn thận, óc thẩm mĩ, đồng thời bồi dỡng cho học sinh lòng
yêu quý Tiếng Việt. Cách biểu thị tình cảm đó trong việc viết đúng chính tả.
Trong thực tiễn việc dạy và viết chính tả hiện nay của học sinh Tiểu học
đạt kết quả cha cao trong khi nói và viết. Cụ thể nh học sinh ở T.P Hà Nội nói
chung và học sinh ở Trờng Tiểu học Chơng Dơng - huyện Thờng Tín nói riêng.
Bài viết của các em còn mắc rất nhiều lỗi chính tả, nhất là trờng hợp những cặp
phụ âm đầu dễ lẫn lộn nh: l/n; s/x; ch/tr; r/d/gi,ph bin nht l hai õm l/n các
vần khó nh: u; iu, ơu; uơ; uê; êu; sai về âm cuối nh: i/y; ch/nh; về thanh điệu
đó là những thanh khó phân biệt nh thanh (?); (~), các em viết còn sai rất
nhiều Bởi vậy việc tìm hiểu, khảo sát các li viết sai chính tả của học sinh để
từ đó có những biện pháp, phơng hớng khắc phục các lỗi sai. Đó là một việc
làm có ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lợng dạy học Tiếng Việt nói chung và
tả của học sinh để phát hiện những biến đổi trong bài viết của học sinh về số l-
ợng và chất lợng do tác động của phơng pháp giảng dạy.
3. Phơng pháp thống kê, so sánh đối chiếu:
- Phơng pháp này nhằm thống kế các lỗi chính tả của học sinh th ờng
mắc phải, so sánh cách dạy thông thờng và cách dạy đang nghiên cứu và đối
chiếu.
4. Phơng pháp phân tích tổng hợp:
Phân tích thực tiễn chơng trình, sách giáo khoa, tìm ra những điểm tích
cực và hạn chế của chơng trình sách giáo khoa.
B - Phần nội dung
I. Cơ sở lí luận.
1. Cơ sở tâm lí giáo dục của việc dạy chính tả:
Nh chúng ta đã biết, mục đích của việc dạy chính tả là hình thành cho
học sinh năng lực viết thành thạo, thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo các
chuẩn mực chính tả, nghĩa là giúp học sinh hình thành các kĩ xảo chính tả.
Hình thành cho học sinh kĩ xảo chính tả là giúp học sinh viết đúng chính
tả một cách tự động hoá, không cần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả
Để đạt đợc điều này có thể tiến hành theo hai cách:
* Có ý thức và không có ý thức:
- Cách không có ý thức (còn gọi là phơng pháp máy móc cơ giới): Chủ tr-
ơng dạy chính tả không cần đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cần
hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ pháp của
chính tả mà chỉ đơn thuần là việc viết đúng từng trờng hợp, từng từ cụ thể: Cách
dạy học này tốn nhiều thời gian công sức, không thúc đẩy đợc sự phát triển của
t duy chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định.
- Cách có ý thức (còn gọi là phơng pháp có ý thức, có tính tự giác): Chủ
trơng cần phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo luật chính tả.
Trên cơ sở đó tiến hành luyện tập và từng bớc đạt tới các kĩ xảo chính tả. Việc
3
hình thành kĩ xảo chính tả bằng con đờng có ý thức sẽ tiết kiệm đợc thời gian
Mặc dù chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhng trong thực tế
muốn viết đúng chính tả thì việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng. Hiểu nghĩa
của từ là một trong những cơ sở giúp ngời học viết đúng chính tả: Ví dụ: Nếu
giáo viên đọc một từ có hình thức ngữ âm là Za thì học sinh có thể lúng túng
trong việc xác định hình thức chữ viết của từ này. Nhng nếu đọc là gia đình
hoặc da thịt hay ra vào (đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với một nghĩa xác định)
thì học sinh dễ dàng viết đúng chính tả. Vì vậy, có thể hiểu rằng chính tả Tiếng
Việt còn là loại chính tả ngữ nghĩa.
Đây là một đặc trng quan trọng về phơng tiện ngôn ngữ của chính tả
Tiếng Việt.
3. Các nguyên tắc, phơng pháp dạy chính tả.
3.1. Nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực:
Dạy chính tả theo khu vực nghĩa là nội dung giảng dạy về chính tả phải sát
hợp với a phơng. Nói cách khác xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả
của học sinh ở từng khu vực, từng vùng để hình thành nội dung giảng dạy, phải
xác định đợc các trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh ở từng khu vực, từng
địa phơng. Từ đó tập trung vào các lỗi phát âm ở từng địa phơng mà lu ý để viết
cho đúng. Bởi nh ta ó biết cách phát âm địa phơng có ảnh hởng trực tiếp đến
việc viết chính tả. Đối chiếu với âm, ta thấy cách phát âm của ba vùng phơng ngữ
đều còn có những chỗ cha chuẩn xác, còn sai lệch.
Ví dụ:
+ Hu ht hc sinh c trng cha phát âm phân biệt rõ các cặp phụ âm
đầu: ch/tr; s/x; l/n; r/d/gi
+ Riờng hc sinh thụn K Dng, Chng Lc cha phõn bit rừ hai ph
õm l/n.
Ví dụ:
Luụn luụn phát âm v vit thành nuụn nuụn.
Con ln phát âm v vit thành con ln.
Với nguyên tắc này yêu cầu giáo viên trớc khi dạy cần tiến hành điều tra
cơ bản để năm lỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đó lựa chọn nội dung giảng
Âm cờ viết là k
Âm gờ: viết là gh
Âm ngờ viết là ngh
6
- Khi đứng trớc các nguyên âm: u, ô, o, a, ă, a
Âm cờ viết là c
Âm gờ: viết là g
Âm ngờ viết là ng
- Khi đứng trớc âm đệm (âm đẹm viết là u) thì âm cờ viết là q.
* Các mẹo chính tả:
Khi viết ch hay tr.
Nếu chúng chỉ đồ dùng trong gia đình thì hầu hết đợc viết là ch (cái chai,
cái chén, cái chậu, cái chảo ).
Hoặc chỉ mối quan hệ trong gia đình đều viết ch chứ không viết tr: (cha,
chú, cháu, chị, chồng, chút ).
Tóm lại:
Hin nay trong nh trng núi chung v lp tụi dy núi riờng ang luyn
cho hc sinh cỏch phỏt õm v vit ỳng hai ph õm l/n phỏt huy tớnh tớch
cc trong dạy chính tả sẽ tiết kiệm đợc thời gian và mang lại kết quả nhanh
chóng, chắc chắn, cụ thể (có thể kiểm tra đợc ngay), hơn nữa còn gây đợc
hứng thú cho học sinh giỏo viờn phi sa li cho hc sinh c khi núi v vit
cho hc sinh cú thúi quen ngay cp tiu hc.
3.3. Nguyên tắc phối hợp giữa phơng pháp tích cực với phơng pháp
tiêu cực (xây dựng cái đúng loại bỏ cái sai):
Nói cách khác việc hớng dẫn học sinh viết đúng chính tả cần tiến hành
đồng thời với việc hớng dẫn học sinh loại bỏ các lỗi chính tả trong các bài viết
của mình.
Để học sinh sửa các lỗi chính tả theo hớng loại bỏ cái sai, xây dựng cái
đúng. Giáo viên có thể nêu ra những đoạn văn, đoạn thơ trong đó có nhiều từ
viết sai lỗi chính tả để học sinh tự mình phát hiện lỗi, tìm hiểu nguyên nhân sai
trên hay dới các nguyên âm của âm tiết.
+ Nếu nguyên âm đôi có âm tiết mở: (ví dụ: Mía, chú ) thì dấu thanh
đặt trên yếu tố thứ nhất.
+ Nếu sau nguyên âm đôi có âm cuối (ví dụ: Tiền, mợn ) thì các dấu
thanh đặt trên hoặc dới yếu tố thứ hai.
+ Các dấu thanh đi đôi với nguyên âm có dấu (v) (ví dụ: Ngắm, chẳng )
thì đặt trên hoặc trong dấu ngửa đó (không kể dấu nặng).
8
+ Các dấu thanh đi đôi với nguyên âm có dấu (^) thì đặt bên phải dấu mũ.
* Viết các dấu ngắt câu:
+ Các dấu chấm lửng ( ), vạch ngang (-) thì viết đúng trên dòng kẻ.
+ Các dấu hai chấm (:), chấm hỏi (?), chấm than (!), ngoặc đơn, ngoặc
kép thì viết từ hàng kẻ trở lên.
+ Dấu phẩy (,) viết từ hàng kẻ trở xuống.
+Dấu (;) thì viết dấu chấm ở trên dòng kẻ và dấu phẩy ở dới dòng kẻ trở
xuống.
5. Một số quy tắc quy định về chuẩn chính tả Tiếng Việt:
Chuẩn chính tả Tiếng việt phải đợc quy định rõ ràng, chi tiết tới từng từ
và phải đợc mọi ngời tuân theo. Vì vậy phải có các quy tắc quy định về chuẩn
chính tả Tiếng Việt nh sau:
- Cách viết âm tiết của Tiếng Việt: Các âm tiết viết tách rời nhau. Trờng
hợp âm tiết có nguyên âm i ở cuối thì viết thống nhất bằng i , trừ uy, ví
dụ (duy, nguy ) i hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn theo
thói quen cũ (ý nghĩa, y tế, yêu, y, âm ỉ, ỉ eo, i ).
- Cách viết các đơn vị từ: theo truyền thống vẫn viết rời từng âm tiết, trừ
hai trờng hợp sau đây viết liền các âm tiết theo đơn vị từ:
+ Các phiên âm nớc ngoài: Radio.
+ Các tên riêng không phải Tiếng Việt: CuBa, Ma-lai-xi-a
- Cách viết tên riêng Tiếng Việt:
+ Tên ngời và tên địa lí:
(chẳng, chăng, cha, chớ).
+ Phân biệt s và x.
. Về mặt kết hợp ở trong âm tiết, s không đi với các vần bắt đầu bằng oa,
oã, oe, uê. Do đó ta có: (xuề, xoà, xoay xở, xuệch xoạc, xoèn xoẹt, xoen xoét )
mà không bao giờ có soa, seo. Ngoại lệ là soát trong soát lại, còn đều do
diệp (s) trong láy âm (suýt soát, sột soạt, sờ soạng).
. Về mặt láy âm: (x) và (s) đều lsy điệp âm đầu, nhng (s) lại không láy
với (x). Do đó cả hai chữ đều phải hoặc là điệp (s) hoặc là điệp (x).
Điệp s: sờ soạng, sục sạo, sung sớng, sỗ sàng, san sát, sừng sững, sụt sùi,
sang sảng, sững sờ, sắc sảo
10
Điệp x: xào xạc, xao xuyến, xôn xao, xanh xao, xao xác, xấp xỉ, xí xoá,
xì xào
. s không láy âm với những âm đầu khác, trái lại x láy âm với một số âm
đầu khác (loà xoà, lao xao, xoi mói, xích mích )
Về nghĩa:
. Tên các thức ăn thờng đi với x (xôi, xúc sích, xà lách, lạp xờng ) và
một số đồ dùng liên quan đến thức ăn (cái xoong, cái xiên nớng thịt ). Không
kể tên thức ăn và những đồ dùng vào việc ăn uống, hầu hết các danh từ đều viết
với s chứ không viết với x.
. Danh từ chỉ ngời: ông s, bà sãi, nguyên soái, sứ thần
Tên cây: cây sen, cây sim, cây sung, cây sắn, cây si
Hiện tợng tự nhiên, sao, suối, sơng, sông
Đồ vật: hòn sỏi, song cửa, cái sọt, cái sớ, sợi dây
Động vật: cá sấu, con sóc, con sò, con sên, con sếu.
* Ngoại lệ có: xơng, cái xe, cái xuồng, cây soan, cây xoài, trạm xá, mùa
xuân.
+ Phân biệt d/gi và r:
. r và gi không kết hợp với vần có âm đệm, vần có âm đệm luôn đi với d
(doanh nghiệp, duyên nợ, doạ nạt, duy trì, duyệt binh ).
- Viết âm chính là a khi không có âm cuối đứng sau trong khuôn vần (-
a, ma, cha )
- Viết âm chính là ua khi có âm cuối đứng sau trong khuôn vàn (ua,
mua, chua ).
- Viết âm chính là uô khi có âm cuối đứng sau trong khuôn vần (muôn,
khuôn, chuôi ).
- Viết âm chính là iê khi xuất hiện trong khuôn vần có âm cuối và
khuôn vần có âm đầu phụ âm đứng trớc (xiếc, liên, tiêng, kiêu, biêm, thiêt ).
Ngoài lệ khuôn vần iêc khi không có âm đầu đứng trớc cũng viết bằng iê.
- Viết âm cuối là o khi xuất hiện trớc nguyên âm a: (ao, oao); nguyên
âm e (eo, oeo).
- Viết âm cuối là u khi u xuất hiện trớc nguyên âm iê (iêu ); xuất
hiện trớc nguyên âm e (êu).
12
- Vần ơu chỉ xuất hiện trong một số trờng hợp nh (cái bớu, con hơu, con
khớu, rợu). Đặc biệt không có từ Hán Việt nào xuất hiện với vần ơu.
II. Cơ sở thực tiễn.
Nhìn vào thực trạng dạy chính tả hiện nay cho thấy: Để nâng cao chất l-
ợng dạy chính tả còn là một việc làm rất hạn chế. Việc rèn luyện kĩ năng viết
cha đợc chú ý đúng mức nên học sinh còn viết sai rất nhiều lỗi và chữ viết còn
xấu. Qua khảo sát điều tra thực tiễn tôi đã thu thập đợc một số vấn đề lu ý sau:
1. Về chơng trình:
ở bậc Tiểu học, chơng trình của môn chính tả có nhiều dạng từ đơn giản
đến phức tạp theo lứa tuổi của học sinh. Đồng thời chơng trình chính tả ở các
lớp cũng có tính đồng tâm. Càng lên lớp trên càng đợc mở rộng, nâng cao dần
và phức tạp hơn.
ở lớp 4 phân môn chính tả một tuần có một tiết với ba hình thức chính tả
là: Nghe - viết, trí nhớ và so sánh. Với yêu cầu chữ viết đều nét, rõ ràng, sạch
sẽ, không mắc lỗi thông thờng, tốc độ viết 80 chữ trong 15 phút. Bài viết dài
khoảng 120 chữ. Các yêu cầu và nội dung hình thức của chơng trình lớp 4 đòi
lỗi
Trong đó sai
P.A. Đ Vần Âm cuối
Than
h
Chính tả 21 35 30 19 9 7
Tập làm văn 21 25 21 25 14
Vở ghi khác 21 27 21 22 13 7
Nhận xét giữa vở Tập làm văn, vở chính tả với các vở ghi khác ta thấy:
Vở chính tả học sinh viết sai lỗi ít hơn vở Tập làm văn và các vở ghi
khác. Điều đó chứng tỏ rằng trong giờ chính tả học sinh chú ý viết cẩn thận hơn
các giờ khác.
b, Phân loại lỗi chính tả của học sinh lớp 4B:
* Lỗi về phụ âm đầu:
Các lỗi về phụ âm đầu mà học sinh sai nhiều nhất là: l/n, ch/tr, s/x, r/d/gi,
c/k,q, ng/ngh, gh - g.
+ l / n:
Ví dụ: lan - nan, nặng - lặng, lẽ - nẽ, làn - nàn, nay - lay, lên - nên, nồng -
lồng, lng - nng, lọ - nọ, nắng - lắng
Cụ thể: Trong bài chính tả (nghe đọc) Bài viết Trên đờng chiến dịch
Học sinh: Nguyễn Minh Quang đã viết sai từ lặng lẽ thành nặng nẽ.
Hay trong bài văn viết Tả vờn rau hoặc vờn hoa gần nơi em ở:
14
Học sinh: Nguyn Thu Trang đã viết sai từ luống hoa thành nuống
hoa, nắng vàng thành lắng vàng.
+ tr / ch:
Ví dụ: Chú - trú, trên - chên, tra - cha, cha - tra, trong - chong, chọn -
trọn, chị - trị, chăng - trăng, chín - trín, trồng - chồng, trờng - chờng, chống -
trống, chúng - trúng.
Cụ thể: Trong bài viết chính tả (nghe - viết) bài kéo co:
- Trong bài chính tả phân biệt phụ âm ng/ngh có hai cách đọc là ngờ đơn
(ng), ngờ kép (ngh) hay ng đọc là e - nờ - giê, ngh đọc là e - nờ - giê - hát. Để
học sinh phân biệt rõ 2 phụ âm này. Bớc đầu học sinh phải hiểu 2 phụ âm này
đợc viết với âm, vần nào là hợp lý. Ví dụ: ngh chỉ đợc ghép với nguyên âm i, e,
iêm nh nghỉ, nghĩ, nghiêm.
Âm ng ghép với a, ơ, u, nh: nga, ngơ, ngu, ng v.v
Nhiều em khi gặp bài tập hoặc viết văn hay môn học khác hay mắc lỗi
điền phụ âm ng/ngh: nghiêm nghỉ - ngiêm ngỉ, nghỉ ngơi - ngỉ ngơi, ngủ - nghủ,
ngô - nghô, nghiêng - ngiêng.
Học sinh Trn Th Trung hay bị mắc lỗi: ngọng nghịu viết là nghọng
nghịu, ngồi trên ghế - nghồi trên gế. v.v
* Lỗi về phần vần: u - iu, trong từ quả lựu - quả lịu, ơu - iêu trong từ con
hơu viết thành con hiêu, u - iu (con cừu), oa - ao (hoa - hao); uê - êu (hoa hệu); -
ơu/iêu (con khớu - con khiếu); u - iu (cứu bạn - cíu bạn).
- ơu - iêu: hơu - hiêu, bớu - biếu, khớu - khiếu, rợu - riệu
- eo - oe: khoẻ - khẻo, khéo - khoé, heo - hoe
- oa - ao: loa - lao, hoa - hao, cao - kao .
Cụ thể: Trong bài chính tả (so sánh) phân biệt ơu/ u/ in/ iêu/ êu:
Học sinh Lê Huân Chơng, Nguyễn Quốc Trờng, Nguyễn Tiến Đạt viết sai
từ: hơu: thành hiêu, kêu cứu thành cêu cíu.
Hay trong bài văn (tả cây cối) Tả cây hoa mà em thích
Học sinh Nguyn Vn Tựng, Nguyn Th Duyờn, Nguyn Vn Tuyn đã
viết sai hoa cam là màu trắng thì viết thành hoa kam nà màu chắng sai cả
cụm từ.
* Lỗi về âm cuối:
Lỗi phổ biến về âm cuối các em thờng mắc là i/y.
16
Ví dụ: dày - dài, tuy - tui, tay - tai.
Ngoài ra còn nhầm một số lỗi khác nh:
t - p: đẹp - đẹt, nếp nết
Qua phân tích, so sánh, phân biệt từ và nghĩa ta thấy rõ rệt phân biệt giữa
n khác với l.
17
4. Nguyên nhân học sinh mắc lỗi:
a, Lỗi về phụ âm đầu:
Qua việc nghiên cứu, khảo sát trên cho thấy nguyên nhân chính học sinh
viết sai phụ âm đầu là do các em phát âm sai, do những thói quen sử dụng lời
nói, phơng ngôn của địa phơng, thờng các em đọc nh thế nào thì viết nh thế ấy,
không phân biệt rõ các phụ âm nh: l/n, ch/tr, s/x.
Ví dụ: Đọc lặng lẽ viết thành nặng nẽ
Ngoài ra còn do học sinh không nắm vững quy tắc chính ả, cha chú ý đến
nghĩa từ, không biết lúc nào viết c - k - q; g - gh, ng - ngh.
nghiêng nghiêng thành ngiêng ngiêng là do em cha nắm rõ quy tắc
khi nào viết ng khi nào viết ngh.
Do bất hợp lí của con chữ Tiếng Việt nên học sinh khó khăn khi viết
chính tả.
d
Ví dụ: phát âm /Z/ có 3 cách ghi cơ bản gi
g
b, Lỗi về âm chính:
Nguyên nhân chính là do có những vần khó dễ lẫn ui, u
Do các em cha nắm đợc cấu tạo của một số vần khó đa số là những vần
có âm đệm (oeo, ơu, oan ) ch a nắm đợc sự thể hiện bằng chữa viết của âm
đệm trong Tiếng Việt.
Ví dụ: Đứng sau q âm đệm là u (Ví dụ: quả quýt, quanh quẩn) nhng
học sinh lại viếy qoả, qoanh.
Hay băn khoăn học sinh viết băn khuăn. Vì học sinh không nắm đợc
quy tắc là khi đứng trớc các nguyên âm rộng (ví dụ: a, ă) hoặc hơi rộng (ví dụ e)
âm đệm đợc viết là o (ví dụ: oa, oăn, oe )
Nguyên nhân thứ hai là do các em còn cha chú ý, cha cẩn thận trong khi
các em viết sai, chữa lỗi - trừ điểm).
Trong giờ tập đọc cần luyện cho các em phát âm đúng, nhất là trờng hợp
các cặp phụ âm đầu dễ lẫn l/n, ch/tr, s/x.
2. Luyện chính tả phối hợp với chính âm:
19
Trong dạy chính tả giáo viên có thể vận dụng phối hợp biện pháp chữa lỗi
phát âm để hỗ trợ cho việc chữa lỗi chính tả cho học sinh trong một số trờng
hợp mà lỗi phát âm địa phơng lệch chuẩn rõ rệt. Chẳng hạn: học sinh hay mắc
lỗi chính tả về phụ âm đầu s/x, ch/tr, l/n và các vần iu - u; ơu - iêu thì cần
luyện cho học sinh đọc đúng các phụ âm đầu và vần đó.
Ví dụ: Lung linh, lắt lẻo, não nề, nao núng
Trong trắng, chan chứa, nghỉ hu, uống rợu
Hay học sinh mắc lỗi về thanh hỏi (?) thanh ngã (~) thì cho học sinh
luyện phát âm những từ có chứa thanh hỏi, thanh ngã đó
Ví dụ: Luyện cho học sinh phát âm:
Nghĩ ngợi, ngủ say, ngẫm nghĩ.
3. Dạy chính tả kết hợp với dạy nghĩa từ để giúp học sinh phân biệt
về nghĩa. Từ đó học sinh phân biệt đợc cách viết đúng.
Ví dụ: dành/giành:
- Lỗi về phía mình thì viết là gi (tranh giành, giành giật ).
- Để dành một cái gì đó thì viết là d (dành dụm, để dành )
Ví dụ: xa/sa:
- Xa (trong xa gần, xa xôi)/sa (trong sa lầy, sa đà, sa xuống).
+ xa: khoảng cách tơng đối lớn.
+ sa: rơi xuống, rơi vào.
4. Dạy chính tả theo khu vực:
ở mỗi thôn, học sinh do ảnh hởng của phơng ngữ thờng mắc một số lỗi
đặc trng. Để tiết kiệm thời gian và tăng hiệu quả của việc dạy chính tả, nội dung
chính tả bên cạnh phần chung cho cả nớc cần phải có phần mềm riêng cho
từng vùng chính tả.
pháp tích cực (cung cấp cho học sinh các quy tắc chính tả, hớng dẫn học sinh
thực hành luyện tập nhằm hình thành các kĩ xảo chính tả), cần phối hợp phơng
pháp tiêu cực (xây dựng cái đúng, loại bỏ cái sai). Nói cách khác việc hớng dẫn
học sinh loại bỏ các lỗi chính tả trong bài viết của mình để xây dựng cái đúng
(đi từ cái sai đến cái đúng).
Ví dụ: Tìm những từ viết sai lỗi chính tả trong những câu sau và sửa lại
cho đúng.
Cánh cò bay nả bay na
21
Luỹ che đầu sóm cây đa dữa đồng
Con đò lá chúc qua sông
Trái mơ tròn chĩnh quả bòng đung đa
Học sinh tự mình phát hiện lỗi tìm hiểu nguyên nhân sai và viết lại
cho đúng.
Trong quá trình giảng dạy chính tả chúng ta cần phối hợp một cách hợp
lí, hài hoà và có hiệu quả hai phơng pháp này.
IV. Phần thực nghiệm.
1. Đối tợng địa bàn thực nghiệm:
Thực nghiệm đề tài Nõng cao cht lng dy hc phõn mụn chớnh t
lp 4 đợc tiến hành ở học sinh khối 4 chủ yếu là lớp 4B của tôi đang dạy. Đây
là lớp có số học sinh trung bình chiếm phần nhiều, nhân dân đa số sống bằng
nghề nông, một số gia đình hoàn cảnh kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Do vậy
về trình độ cũng nh sự quan tâm đến việc học tập của con cái còn bị hạn chế.
Học sinh còn nhút nhát, thụ động cha có mạnh dạn.
2. Mục đích thực nghiệm:
Thông qua thực nghiệm nhằm kiểm tra hiệu quả của việc vận dụng các
biện pháp đã đề ra trong quá trình dạy chính tả.
Qua thực nghiệm nhằm xem xét tính khả thi của việc vận dụng các biện
pháp trong quá trình dạy chính tả.
3. Nội dung trọng tâm của thực nghiệm:
Dải áo, giải thưởng, lời giải, giải thích, rải rác, giày dép, dẻo dai, rầu rĩ.
- GV nhận xét ưu khuyết điểm của bài cũ
- Tuyên dương một số em viết đúng chính tả, sạch sẽ.
- Nhắc nhở một số em viết sai.
- Giáo viên nhận xét chung bài cũ
C. Bài mới
1. Giới thiệu bài
Ở địa phương chúng ta việc phát âm các chữ có phụ âm đầu l/n còn bị lẫn lộn
nhiều, cụ thể trong những lỗi chính tả mà lớp ta thường mắc là phụ âm l/n và
23
các thanh hỏi/ngã. Vậy bài học hôm nay sẽ giúp các em phân biệt l/n để viết
chính tả cho đúng hơn.
- GV ghi đề bài lên bảng
Chính tả ( So sánh )
Phân biệt phụ phụ âm l/n ;
2, hướng dẫn viết chính tả
* GV đọc mẫu bài viết
- cho hs tìm hiểu nội dung bài viết
* GV giảng qua về nội dung của bài thơ.
Bài nghe lời chim nói là loài chim nói về những cánh đồng mùa nối mùa với
những con người say mê lao động, về những thành phố hiện đại, những công
trình thủy điện.
- HS đọc lại đoạn viết
* hướng dẫn HS tìm từ khó, dễ lẫn khi viết chính tả.
* Hướng dẫn học sinh so sánh , phân biệt nghĩa của từ.
- GV đọc câu đầu : lắng nghe lời chim nói
- GV hỏi : trong câu cô vừa đọc từ nào có tiếng viết với phụ âm l/n ?
< có tiếng " lắng " trong từ lắng nghe ; và tiếng " nói " trong từ chim nói > ; ''
lời ''
GV kẻ bảng so sánh trên lớp để hs nắm và phân biệt được nghĩa của các tiếng.
- GV viết từ nối vào cột thứ hai.
- GV viết tiếng nối vào cột thứ nhất dòng thứ hai y/c hs đọc tiếng
" lối ''.
Lối chỉ lối đi.
La lối : chỉ người nói nhiều những chuyện không đâu.
Lối rẽ : rẽ phải hoặc trái.
+ tiếp theo GV hướng dẫn hs phân biệt so sánh các từ còn lại vào trong bảng
so sánh ( theo trình tự )
- GV cho hs phát âm, viết bảng con tiếp tục giải nghĩa cho hs.
25