Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy-Học Phân Môn Chính Tả Cho Học Sinh Lớp 5B -Trường Tiểu Học Lê Văn Tám Huyện Thống Nhất –Tỉnh Đồng Nai - Pdf 41

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỐNG NHẤT
TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN TÁM


Mã Số: .......................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng
dạy-học phân môn Chính tả cho học sinh
lớp 5B -Trường Tiểu học Lê Văn Tám
Huyện Thống Nhất –Tỉnh Đồng Nai”

Người thực hiện: VŨ THỊ KIỀU DUNG
Lĩnh vực nghiên cứu.
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn
- Phương pháp giáo dục
- Lĩnh vực khác






Có đính kèm:
 Mô hình

 Phần mềm

 Phim ảnh


cho học sinh một số kĩ năng viết. Viết là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình
chuyển lời nói có âm thanh sang hình thức chữ viết. Theo một số từ điển thì: Chính
tả là viết đúng, là lối viết hợp chuẩn. Cụ thể, chính tả là hệ thống các quy tắc về
cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách
phiên âm tên riêng nước ngoài. Phân môn Chính tả giúp học sinh hình thành năng
lực, thói quen viết đúng chính tả, đó là thói quen viết đúng Tiếng Việt văn hóa,
Tiếng Việt chuẩn mực, đồng thời nó còn là cơ sở của những môn học khác. Phân
môn Chính tả được dạy liên tục trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học từ lớp 1đến
lớp 5 với các dạng bài chính tả như: tập chép, nghe đọc, nhớ viết…Tùy yêu cầu của
mỗi dạng bài khác nhau nhưng tất cả đều chú ý đến cách trình bày bài chính tả, viết
chữ đẹp và đúng chính tả.
Việc dạy chính tả ở Tiểu học nhằm giúp học sinh nắm được quy tắc và thói
quen viết chữ ghi Tiếng Việt đúng với chuẩn. Từ đó làm chủ được tiếng nói và khả
năng sử dụng ngôn ngữ trong các hoạt động giao tiếp học tập và tư duy. Viết đúng
2


chính tả còn góp phần khẳng định trình độ văn hóa của người sử dụng Tiếng Việt.
Do vậy nghiên cứu biện pháp khắc phục lỗi chính tả là một việc làm hết sức cần
thiết, nhằm thực hiện mục tiêu môn Tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học.
Những điều vừa nêu trên đã khẳng định sự cần thiết, tầm quan trọng của việc
giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả cho học
sinh trong trường Tiểu học nói chung, giúp hình thành năng lực và thói quen viết
đúng chính tả cho học sinh lớp 5 nói riêng.
II/ Xuất phát từ thực trạng dạy và học phân môn Chính tả ở trường Tiểu
học hiện nay :
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm. Do đó việc
viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở để viết đúng. Tuy nhiên với
tình hình thực tế tại địa phương, nơi có nhiều người dân ở những vùng miền khác
đến làm ăn, sinh sống, đặc biệt là số lượng những người dân tộc thiểu số chiếm tỉ



+ ch/tr: Cây che, chiến chanh,…
+ s/x: Cây xả , xa mạc,…
+l/n: na cà, gian lan,…
3. Lỗi âm cuối, vần:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối và các vần sau đây:
+ at/ac- ăt/ăc - ât/âc: mác mẻ, lường gạc, gặc lúa, nổi bậc, lấc phấc,…
+ an/ang- ân/âng: cây bàn, bàng bạc, khoai lan, hụt hẫn, tần lầu,...
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển,…
+ ui/uôi: nui lớn, nhỏ tủi, quả chúi,…
+ iu/iêu: buổi chìu, muối tiu, nồi niu,…
+ ong/ông: mông ước, lồng mẹ,…
II/ Nguyên nhân chủ yếu:
1. Lỗi về dấu thanh:
Học sinh là con em người dân miền Trung thường không phân biệt được
thanh hỏi và thanh nga. Trong khi số lượng tiếng mang 2 thanh này khá nhiều.
Do đó, đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh.
2. Lỗi khi viết âm đầu:
Học sinh là con em người dân miền Bắc thường nói lẫn lộn qua lại giữa
l/n, ch/tr, s/x. Sự lẫn lộn trong cách phát âm, nói chuyện hàng ngày ít nhiều đã
ảnh hưởng đến vấn đề viết đúng chính tả, tức là nói sai dẫn đến viết sai, nói như
thế nào thì viết như vậy.
Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng
(ví dụ: âm “cờ” ghi bằng 3 chữ cái c/k/q , âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ”
ghi bằng g/gh…) dù có những quy định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng
đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn.
3. Lỗi khi viết âm cuối, vần:
Học sinh là con em người dân miền Nam thường không phân biệt được các
vần có âm cuối at/ac - ăt/ăc - ât/âc; an/ang - ân/âng; ên/ênh.

“buôn” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết các em sẽ không
viết sai.
3. Phân biệt bằng nghĩa từ:
Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp học
sinh hiểu nghĩa chính xác của từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong
tiết Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn và trong tiết Chính tả.
Ví dụ: Phân biệt lan và lang : lan có thể là hoa lan
lang có thể là khoai lang
Giáo viên có thể treo tranh minh họa để vừa kích thích hứng thú học tập
của học sinh, vừa giúp học sinh dễ nhớ từ hơn.
Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể
để gợi lại nghĩa của từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ.
4. Ghi nhớ một số luật và mẹo chính tả:
Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có thể
giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1,
các em đã được làm quen với quy tắc chính tả: các âm đầu k, gh, ngh đứng
trước các âm i, e, ê. Còn các âm c, g, ng đứng trước các âm còn lại.
Từ những năm 1984, Nhà nước đã có quy định về các trường hợp viết I và
Y như sau:
- Nếu không có sự thay đổi về âm hay nghĩa (trừ trường hợp Y đi sau âm
đệm) thì đồng loạt thay Y bằng I. Ví dụ: hi sinh, lí luận, thẩm mĩ,…
5


- Nếu âm đứng một mình hay ở đầu tiếng thì viết bằng Y, trừ vài trường
hợp đã theo thói quen cũ. Ví dụ: y tế, yêu thương, yên ổn,…
Phân biệt L và N:
- Trong các từ láy vần:
+ Âm đầu trong tiếng thứ nhất hoặc âm đầu trong tiếng thứ hai thường
là L. Ví dụ: cheo leo, loảng xoảng,…




Ví dụ:
Huyền + ngã: Mỡ màng, lững lờ, vồn vã,…
Nặng + ngã: Đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã,…
Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo,…
Ngang + hỏi: Nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ,…
Sắc + hỏi: Mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ,…
Hỏi + hỏi: Thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ,…
6


Giáo viên còn có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác
như:
- Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con
vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum,
chạn, chõ, chuông, chiêng ,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu,
chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi,…
- Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
+ Đa số từ chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc có vần ênh: Gập
ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh
choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh,…
+ Hầu hết các từ tận cùng là ng hoặc nh là từ tượng thanh: oang oang,
đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang
quác, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, lẻng kẻng, đùng
đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch,…
5. Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả:
Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau
để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng


25

11(44%)

Yếu
4(16%)

10(40%)

4(16%)

0

* Nhận xét:
Kết quả thực nghiệm ở bảng trên cho thấy dạy theo phương pháp đổi mới
đã có hiệu quả nhất định đối với việc rèn kĩ năng đọc và viết đúng chính tả cho
học sinh. Bởi số lượng học sinh đạt điểm giỏi đã tăng lên và số học sinh đạt điểm
yếu đã giảm đi ở cuối HKI so với thời điểm đầu năm. Một số học sinh yếu kém
vào đầu năm học thường sai từ 10 lỗi trở lên trong 1 bài, đến nay số lỗi đã giảm
xuống còn 2 - 5 lỗi/mỗi bài.
7


Trong quá trình giảng dạy, với việc áp dụng các biện pháp trên tôi nhận
thấy học sinh đã có tiến bộ khá rõ rệt. Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức
khiêm tốn và việc “giúp học sinh học tốt môn Chính tả” là một quá trình lâu dài,
song với những kết quả bước đầu như trên, nếu tiếp tục rèn luyện các em sẽ có kỹ
năng viết đúng khi viết chính tả.
C. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:


8


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Tiếng Việt 1
Lê A, Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga, Lê Hữu Tỉnh, Đỗ Xuân Thảo
Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội-năm 2006
2. Giáo trình Tiếng Việt 2
Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội-năm 2006
3. Giáo trình Tiếng Việt 3
Lê A
Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội-năm 2006
4. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV Tiểu học
Nhà xuất bản Giáo dục-năm 2005
5. Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 (Tập 1 & 2)
Nguyễn Minh Thuyết
Nhà xuất bản Giáo dục-năm 2004
6. Sách giáo viên Tiếng Việt 5 (Tập 1 & 2)
Nguyễn Minh Thuyết
Nhà xuất bản Giáo dục-năm 2004
7. Sổ tay Chính tả Tiếng Việt
Nhà xuất bản từ điển bách khoa.
8. Tạp chí Thế giới trong ta.

9


Mục lục

sinh
sinh
Trườ
TrườnnggTiể
Tiểuuhọ
họccLê
LêVă
VănnTá
Tám
m
Huyệ
HuyệnnThố
ThốnnggNhấ
Nhấtt
Tỉnh
TỉnhĐồ
ĐồnnggNai
Nai

11


Một
Một số
số hình
hình ảnh
ảnh
trang
trang trí
trí lớp

mình

Nếu Y
đứng ở
đầu tiếng

Nếu Y
đi sau
âm đệm
/u/

Sử dụng Y

Đa số
dùng
âm L

N láy với
tiếng
không
có âm
đầu

N chỉ láy
với
GI và
KH

Phân biệt
L/N

từ láy có hai tiếng, một tiếng có âm đầu L và tiếng
còn lại có âm đầu N. Chỉ có trường hợp từ láy âm L và từ láy âm N. Ví dụ: lỏng
Lửa/nửa:
lẻo, lẳng lặng, nõn nà, non nớt…
Lửa: lửa cháy, lửa đạn, dầu lửa, núi lửa, kiến lửa,…
Nửa: nửa buổi, nửa đêm, một nửa, nửa vời,…
Lở/nở:
Lở: lở đất, lở loét, lở mồm long móng, xói lở,…
Nở: nức nở, sinh nở, hoa nở, niểm nở,…

Bạn có biết
cách phân
biệt S/X
không?

- Trong các từ láy vần, đa
số ta dùng X.
- Chỉ có X viết với những
tiếng có âm đệm /o/, /u/.

15


Ví dụ:
Sa/xa:
Sa: sa bàn, sa lầy, sa thải, sa đọa, sương sa, phù sa, sa lưới,…
Xa: xa xôi, sâu xa, xấu xa, xa thẳm, nói xa nói gần, xa xứ, xa lạ,…
Se/xe:
Se: se lạnh, se sẽ, se lòng, …
Xe: xe tải, xe tăng, vé xe, xe kéo, xe máy,…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status