I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế. Công cuộc đổi mới kinh tế xã hội đang diễn ra từng ngày, từng giờ
trên khắp đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới, có bản
lĩnh, có năng lực, chủ động sáng tạo. Dám nghĩ, dám làm thích ứng được với
thực tiễn xã hội luôn thay đổi và phát triển. Nhu cầu này đòi hỏi phải có ngành
giáo dục phải có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình đất nước. Và thực sự
ngành giáo dục đã từng bước thay đổi, thể hiện qua sự xác định mục đích giáo
dục đào tạo, hay nói đúng hơn là phát triển toàn diện về nhân cách con người thể
hiện qua hai mặt là: “Tài và Đức”. Muốn làm được điều này, ngành giáo dục
phải tạo điều kiện để học sinh phát huy năng lực về văn hóa cũng như về phẩm
chất đạo đức ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường. Nhân cách trẻ được hình
thành và phát triển thông qua các hoạt động có ý thức. Chính trong quá trình
sống, học tập, lao động, giao lưu, vui chơi giải trí…các em đã hình thành và phát
triển nhân cách của mình. Bác Hồ đã từng nói:
“Ngày nay chúng ta là Nhi đồng, ít năm sau chúng ta sẽ là công nhân,
cán bộ. Vì vậy chính phủ, các đoàn thể và tất cả các đồng bào có trách nhiệm
giúp sức vào việc giáo dục nhi đồng…” Để mai sau xã hội có những người chủ
xứng đáng, có những người công dân tốt thì hôm nay thế hệ đi trước phải có
trách nhiệm dạy dỗ, định hướng cho các em con đường đúng đắn. Không nơi
nào khác trường học chính là nơi kết tinh trình độ văn minh của xã hội trong
công tác giáo dục trẻ em. Trong giáo dục đào tạo con người mới con người phát
triển toàn diện, chúng ta không chỉ dạy cho các em giỏi về văn hóa mà còn phải
làm tốt công tác giáo dục hành vi, phẩm chất đạo đức cho các em ở lứa tuổi tiểu
học. Đặc biệt là giáo dục các em học sinh trong giai đoạn đầu cấp (học sinh lớp
1). Người xưa đã dạy: “Dạy con từ thuở còn thơ”. Qua nhiều năm giảng dạy ở
trường Tiểu học, tôi nhận thấy việc giáo dục hành vi, phẩm chất đạo đức cho các
em là vô cùng cần thiết. Thông qua môn học Đạo đức các em có những hiểu biết
ban đầu về một số những chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với
lứa tuổi tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng, từng bước hình thành
hiệu quả nhất định với sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn
Đạo đức ở lớp 1” để cùng chia sẻ với đồng nghiệp nhằm nâng cao chất lượng
môn đạo đức.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần nâng cao hơn nữa về chất lượng
môn Đạo đức cho học sinh lớp1- Trường Tiểu học Đông vệ 2- Thành phố Thanh
Hóa.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Đạo đức.
- Học sinh lớp 1B – Trường Tiểu học Đông Vệ 2.
4. Phương pháp nghiên cứu:
4.1. Phương pháp quan sát trực quan :
Quan sát cách tiến hành, tổ chức lên lớp của giáo viên khối 1. Quan sát
mức độ tiếp thu của học sinh, khả năng hiểu bài và kiến thức, kỹ năng học sinh
đạt được qua tiết học. Quan sát kỹ năng từng thao tác của giáo viên, từng hành
vi của học sinh khi học môn Đạo đức. Phạm vi quan sát chủ yếu là học sinh khối
1.
4.2. Phương pháp đọc sách, tài liệu:
- Sử dụng giáo trình “ Phương pháp dạy học môn Đạo đức”.
- Đọc tài liệu tập huấn đối với phương pháp dạy lớp 1.
- Xem sách giáo viên Đạo đức1, Vở bài tập Đạo đức1, xem lại một số giáo
án dạy môn Đạo đức.
- Xem băng đĩa, các bài giảng điện tử có liên quan đến môn Đạo đức.
4.3. Phương pháp thống kê, so sánh:
Thống kê lại tất cả những gì quan sát, đã tìm hiểu khi thực hiện đề tài rồi
sắp xếp một cách có hệ thống. So sánh kết quả sau khi đã thống kê trước đây với
kết quả đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2
được dạy trong 2 tiết:
+ 14 bài x 2 tiết
= 28 tiết
+ Dành cho địa phương: 3 tiết
+ Ôn tập học kì I:
1 tiết
+ Kiểm tra học kì I:
1 tiết
+ Ôn tập cuối năm:
1 tiết
+ Kiểm tra cuối năm:
1 tiết
Tổng cộng:
35 tiết
+ Thời gian 1 tiết: 40 phút.
- Dạy – học môn Đạo đức là dạy học sinh những hành vi ứng xử phù hợp
với các chuẩn mực đạo đức xã hội và quyền của trẻ em trong các tình huống đơn
giản, cụ thể của cuộc sống hằng ngày. Nội dung môn Đạo đức kết hợp giữa giáo
dục quyền với giáo dục trách nhiệm, bổn phận của học sinh. Hơn nữa, môn Đạo
đức không chỉ giáo dục bổn phận, trách nhiệm của học sinh đối với gia đình, nhà
trường, xã hội và môi trường tự nhiên, mà còn giáo dục trách nhiệm của các em
đối với chính bản thân mình.
3
1.3. Giới thiệu vở bài tập Đạo đức 1.
a. Về cấu trúc nội dung: Môn Đạo đức lớp Một không có sách giáo khoa mà chỉ
có vở bài tập đạo đức. Vở bài tập đạo đức 1 có các dạng bài tập chính sau:
- Quan sát tranh và kể chuyện theo tranh.
- Nhận xét về các hành vi của các nhân vật trong tranh.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Thuận lợi:
- Dạy – học môn Đạo đức theo phân phối chương trình mỗi tuần 1 tiết và
mỗi bài được dạy trong 2 tiết.
- Lớp tôi đang chủ nhiệm là lớp học 2 buổi/ ngày.
- Lớp học khang trang, thoáng mát, trang trí thân thiện với môi trường.
- Cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học trang bị đẹp, sinh động.
a. Giáo viên:
4
- Trong khối được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà
trường. Tất cả giáo viên trong khối đã được tập huấn về Chuẩn kiến thức kỹ
năng; Rèn kỹ năng sống; Giáo dục Bảo vệ môi trường.
- Đa số giáo viên nhiệt tình trong công tác giảng dạy, yêu nghề, có năng
lực sư phạm. Luôn khắc phục mọi khó khăn, học hỏi kinh nghiệm, trau dồi kiến
thức để phục vụ cho công tác dạy – học đạt kết quả tốt.
b. Học sinh:
- Đa số học sinh chăm ngoan, biết vâng lời, lễ phép với thầy cô giáo và
người lớn tuổi. Học sinh có ý thức trong học tập, biết đoàn kết giúp đỡ bạn bè.
- Đa số gia đình có quan tâm đến việc học của con em, tạo điều kiện mua
sắm đầy đủ đồ dùng học tập.
- Được sự quan tâm, hỗ trợ kịp thời từ quỹ của Ban chấp hành Cha mẹ học
sinh và các Ban ngành trong trường với những em có hoàn cảnh gia đình khó
khăn, hộ nghèo, mồ côi…
- Học sinh lớp 1 rất thích học môn Đạo đức, đây là môn học gắn với thực
tế, sử dụng nhiều ví dụ thực tế để liên hệ trong học tập. Các em rất thích hoạt
động của môn học như sắm vai, trò chơi, kể chuyện, múa hát, quan sát tranh ...
2.2. Khó khăn:
dễ nhớ, dễ ghi nhận, có như vậy các em mới có ý thức cao trong việc được rèn
luyện chuyển hóa thành tự rèn luyện các phẩm chất đạo đức của bản thân.
b/ Về phía học sinh:
- Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng, ghi nhớ máy
móc rất tốt, đó là sự ghi nhớ dựa chủ yếu vào học thuộc tài liệu cần ghi nhớ mà
không cần có sự cải biến làm thay đổi tài liệu đó.Với kiểu ghi nhớ này nếu
không được giáo viên nhắc lại thường xuyên thì các em sẽ chóng quên và sẽ
không nhớ gì nữa trong thời gian vài tuần sau.
Sự chú ý của các em kém bền vững dẫn đến việc tiếp thu kiến thức mới sẽ
không được liên tục.
3. Các biện pháp đã sử dụng để nâng cao chất lượng môn Đạo đức ở lớp 1B.
3.1. Chuẩn bị tốt các tư liệu, phương tiện hỗ trợ cho bài học:
Sự chuẩn bị chu đáo và triển khai có hiệu quả, đúng lúc, kịp thời các
phương tiện dạy học như sưu tầm tranh ảnh, các bài thơ, bài hát, câu ca dao, tục
ngữ …… cũng đã góp phần rất lớn trong sự thành công của tiết học.
Ví dụ:
+ Khi dạy bài “Gọn gàng, sạch sẽ” trước khi vào tiết học giáo viên có
thể hát hoặc cho HS nghe, hoặc GV chuẩn bị băng đĩa cho HS nghe bài hát:
“Rửa mặt như mèo” hoặc bài “Mèo con ra vại nước”. Sau khi giáo viên cho các
em nhận biết “thế nào là gọn gàng sạch sẽ” qua các hình ảnh trong bài tập 1.
Giáo viên sẽ phải liên hệ thực tế bằng câu hỏi “Em cảm thấy như thế nào khi
được mặc bộ quần áo sạch sẽ, gọn gàng, vì sao?”. Trả lời được câu hỏi này học
sinh sẽ thấy thật là hạnh phúc khi được mọi người ngắm nhìn mình và khen ngợi
(các em đã hiểu được ích lợi của việc ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ). Từ đó các em
sẽ có ý thức ăn mặc sạch sẽ gọn gàng để làm đẹp cho bản thân và cho xã hội.
Giáo viên có thể sưu tầm nội dung bài đồng dao “Xỉa cá mè” (Xỉa cá mè
đè cá chép, Tay nào đẹp thì đi bẻ ngô,Tay nào to thì đi dỡ củ,Tay nào nhỏ thì hái
đậu đen,Tay lọ lem ê xấu xấu xấu, Mau đi về ngay rửa tay cho sạch.” để đưa vào
phần củng cố cuối bài học, với bài đồng dao này các em sẽ hiểu được khi chưa
sạch sẽ ta có thể tắm, rửa, quần áo chưa sạch ta có thể giặt cho sạch. Bài đồng
Hoạt động 1: Thảo luận nhóm 4. (Thời gian 2 phút)
Kể về gia đình em (* RKNS: Kĩ năng giới thiệu về những người thân
trong gia đình; Kĩ năng giao tiếp, ứng xử với những người trong gia đình)
Bước 1: Giáo viên chia học sinh thành từng nhóm, mỗi nhóm 2 em và các
em mang tranh của gia đình mình giới thiệu với các bạn trong nhóm theo câu hỏi
gợi ý sau:
+ Gia đình em có những ai?
+ Mọi người trong gia đình đối xử với nhau như thế nào?
Một số ảnh về gia đình của học sinh lớp 1B
Bước 2: Học sinh tự kể về gia đình mình trong nhóm, một vài học sinh kể
trước lớp.
Giáo viên chốt lại ý chính: Qua phần giới thiệu của các bạn về gia đình
mình chúng ta thấy có gia đình có ông bà, bố mẹ và các con; có gia đình có bố
mẹ và các con. Để gia đình mình được hòa thuận, đầm ấm, hạnh phúc thì mỗi
người chúng ta phải yêu gia đình của mình và biết yêu thương, quý trọng và biết
chia sẻ với mọi người trong gia đình.
Hoạt động 2: Cho học sinh xem tranh gia đình 1, 2 con ; Pháp lệnh dân số (Điều
10/ 2003).
( GDBVMT: Gia đình chỉ có hai con góp phần hạn chế gia tăng dân số, góp
phần cùng cộng đồng BVMT).
Hoạt động 3: Thảo luận nhóm 2: (Thời gian 5 phút)
Cho học sinh xem tranh và kể lại nội dung tranh:
Bước 1: Chia học sinh thành các nhóm và giao nhiệm vụ cho từng nhóm.
Thảo luận nội dung từng tranh theo nhóm đôi, thời gian 3 phút.
* Trong tranh có những ai ?
* Họ đang làm gì ? Ở đâu ?
7
tích cực, chủ động và sáng tạo phù hợp với thực tế để áp dụng vào tiết dạy của
mình, tạo cho tiết dạy – học môn Đạo đức một không khí thoải mái qua các hình
thức như: Kể chuyện, đóng vai, chơi trò chơi, thảo luận, hỏi đáp,… Với nội
dung dạy học mới mẻ, hấp dẫn, linh hoạt phù hợp với lứa tuổi học sinh không
trùng lặp, đơn điệu, áp đặt thì học sinh sẽ tiếp thu bài tốt, giờ học đạt hiệu quả
cao hơn. Nếu chúng ta áp dụng được các phương pháp dạy học một cách thường
xuyên, khoa học chắc chắn chất lượng dạy – học môn Đạo đức sẽ ngày một
nâng cao. Sau đây là một số phương pháp chủ yếu:
a. Phương pháp động não:
Đây là phương pháp giúp cho học sinh, trong một thời gian ngắn, nảy sinh
được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.
- Giáo viên cần nêu vấn đề được tìm hiểu trước lớp hoặc trước nhóm.
- Khích lệ học sinh phát biểu, đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt. Đồng
thời trong quá trình các em đưa ra ý kiến cần tìm hiểu bằng những câu hỏi tạo
8
cho các em được giao lưu với nhau, cùng làm sáng tỏ những vấn đề chưa rõ
ràng.
- Giáo viên liệt kê tất cả các ý kiến mà học sinh phát biểu sau đó phân
loại, thảo luận sâu từng ý để làm rõ những ý kiến chưa rõ ràng. Cuối cùng là
tổng hợp ý kiến của các em và hỏi xem các em cần thắc mắc hay bổ sung gì
thêm không.
- Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn, bằng một từ hay một câu thật ngắn.
Đặc biệt tất cả mọi ý kiến đều cần được giáo viên hoan nghênh, chấp nhận mà
không cần phê phán, nhận định đúng, sai.
- Phương pháp động não có thể dùng để lý giải bất kì một vấn đề đạo đức
nào, song đặc biệt phù hợp với các vấn đề học sinh đã có kinh nghiệm ứng xử.
9
+ Cả lớp thảo luận nhận xét sau khi đóng vai. Đây là bước quan trọng, có
ý nghĩa thiết thực trong việc sử dụng phương pháp đóng vai:
* Yêu cầu các em học sinh tham gia đóng vai nêu cảm xúc khi thể hiện vai
“diễn” của mình trước lớp:
+ Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa? Chưa phù hợp ở chỗ
nào?
+ Cảm xúc của các em khi thực hiện cách ứng xử? Và khi nhận được cách
ứng xử ( Đúng hoặc Sai)?
* Yêu cầu các học sinh khác nhận xét cách ứng xử và sự nhập vai của các
vai “diễn”. Ở bước này giáo viên tạo điều kiện để học sinh đưa ra nhiều cách
ứng xử khác nhau:
+ Thực tế nếu là các em trong trường hợp đó em thể hiện cách ứng xử như
thế nào?
+ Giáo viên chốt lại định hướng cho học sinh về cách ứng xử tích cực, cần
thiết trong tình huống.
- Một số lưu ý khi áp dụng phương pháp đóng vai:
10
+ Đối với học sinh lớp 1, tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề
giáo dục của bài, vừa sức đối với các em.
+ Chỉ tổ chức đóng vai khi cần thiết, có tác dụng giáo dục thiết thực trong
đời sống hàng ngày của các em.
+ Khi tổ chức đóng vai nên hóa trang, đạo cụ đơn giản sẵn có nhằm tăng
tính hấp dẫn, tạo điều kiện cho học sinh nhập vai dễ dàng.
Ví dụ:
Bài 9:
LỄ PHÉP VÂNG LỜI THẦY CÔ GIÁO
- Giáo viên chia nhóm và yêu cầu mỗi nhóm học sinh đóng vai theo một
tình huống của một bài tập 1.
11
hàng ngày. Khi gặp người lớn tuổi, người quen với bố mẹ cũng cần phải chào
hỏi lễ phép. Đưa hoặc nhận vật gì từ người lớn cũng cần đưa hai tay…. Như thế
là các em đã thực hiện tốt chuẩn mực hành vi đạo đức thông qua bài học bằng
phương pháp đóng vai.
Hình ảnh học sinh đóng vai lễ phép với người lớn tuổi
c. Phương pháp trò chơi:
- Trò chơi là phương pháp giúp học sinh phát hiện và chiếm lĩnh những
nội dung học tập thông qua việc chơi trò chơi.
- Trò chơi học tập nói chung và trò chơi trong dạy – học môn Đạo đức nói
riêng có tác dụng giúp học sinh biết vận dụng kiến thức đã học phát triển tư duy,
tạo thói quen tập trung, tính độc lập, ham hiểu biết và khả năng suy luận. Khi
chơi các em thay đổi đội hình, các em được khởi động tự do thoải mái trong giới
hạn cho phép; chống mệt mỏi, tăng cường khả năng thực hành,… Được thử
nghiệm, tưởng tượng, suy ngẫm, lập luận để trò chơi đạt kết quả nhanh nhất và
chính xác nhất mà không nghĩ là mình đang học. Vì cùng với học, chơi là nhu
cầu không thể thiếu được của học sinh tiểu học. Dù không phải là hoạt động chủ
đạo, song vui chơi vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của
các em. Qua trò chơi trẻ không những phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi đạo đức.
- Lý luận thực tiễn đã chứng tỏ rằng: Nếu biết tổ chức cho trẻ vui chơi một
cách hợp lý, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục toàn diện.
+ Qua trò chơi, học sinh được luyện tập những kĩ năng, những thao tác
hành vi đạo đức, được thể hiện hành vi một cách đúng đắn, tự nhiên, rèn khả
năng biết lựa chọn cho mình cách ứng xử phù hợp trong tình huống. Các em
được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, biết đanh
giá hành vi của người khác là phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực đạo
đức xã hội.
tính điểm. (Nếu cần giáo viên có thể vừa hướng dẫn, vừa thực hiện mẫu).
+ Trò chơi phải đảm bảo huy động nhiều học sinh tham gia, mang tính tập
thể. Học sinh phải nắm được quy tắc chơi và tôn trọng luật chơi.
+ Khi tổ chức trò chơi thi đua tránh để học sinh đặt nặng vấn đề hơn thua
trong khi chơi.
+ Tạo điều kiện để học sinh tham gia, tổ chức, điều khiển toàn bộ các
khâu của trò chơi (Chuẩn bị, tiến hành, đánh giá sau trò chơi).
+ Địa điểm chơi phải đảm bảo an toàn cho học sinh trong khi tham gia trò
chơi.
+ Có thể đưa ra các tiêu chí cho nhóm thắng trong trò chơi, nhằm động
viên khuyến khích các em khi tham gia chơi. Mặt khác cũng cần khích lệ động
viên những nhóm chưa hoàn thành nhiệm vụ tránh cho các em sự lúng túng, mất
tự tin khi chơi.
Ví dụ:
Bài 5:
LỄ PHÉP NHƯỜNG NHỊN EM NHỎ (Tiết 2)
Bài tập 3: Hãy nối mỗi tranh dưới đây với NÊN hoặc KHÔNG NÊN cho
phù hợp: Với bài tập này tôi áp dụng cho học sinh phương pháp trò chơi “Tiếp
sức”
Giáo viên treo tranh cho học sinh quan sát.
- Phổ biến luật chơi:
+ Chia làm 3 nhóm, 2 nhóm cử đại diện 5 em xếp thành 2 hàng dọc.
Nhóm còn lại làm cổ động viên và ban giám khảo.
+ Khi nghe hiệu lệnh bắt đầu, 2 em đầu 2 nhóm lên nối hình vẽ với việc
làm tương ứng, sau đó chuyền bút cho bạn thứ 2 cứ như thế cho đến bạn cuối
cùng. Mỗi học sinh chỉ được phép nối 1 hình tương ứng. Nhóm nào thực hiện
nhanh và chính xác nhóm đó thắng cuộc.
+ Nhóm thứ 3 nhận xét kết quả của 2 nhóm vừa thi đua với nhau.
+ Qua trò chơi giáo viên cho học sinh giải thích vì sao các em chọn việc
làm nào nên và việc làm nào không nên.
trong lớp và biết được trẻ em có quyền có họ tên.
- Giáo viên cho các em thảo luận sau khi thực hiện xong trò chơi:
+ Trò chơi giúp em biết được điều gì?
+ Em có thấy sung sướng, tự hào khi tự giới thiệu tên với các bạn, khi
nghe các bạn giới thiệu tên mình hay không?
+ Em hãy kể tên của một vài bạn trong nhóm mà em vừa biết?
- Kĩ năng sống cơ bản được giáo dục qua trò chơi:
+ Kĩ năng tự giới thiệu về bản thân.
+ Kĩ năng thể hiện được sự tự tin trước đông người.
+ Kĩ năng lắng nghe tích cực.
14
d. Phương pháp thảo luận nhóm:
- Thảo luận nhóm là phương pháp nhằm giúp học sinh tham gia một cách
chủ động, tích cực vào quá trình học tập tạo điều kiện cho các em có thể chia sẻ
kinh nghiệm ý kiến hay để giải quyết một vấn đề nào đó.
- Khi sử dụng phương pháp này giáo viên hướng dẫn các em cách làm
nhóm trưởng, cách tổ chức hoạt động của nhóm, cách phản hồi kết quả các hoạt
động của nhóm. Thảo luận nhóm được sử dụng khi cần khuyến khích sự tham
gia suy nghĩ và phát biểu tích cực của mọi thành viên.
Ví dụ:
Bài 10:
EM VÀ CÁC BẠN
- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh, tổ chức chia nhóm cho học sinh
thảo luận nhóm với nội dung các câu hỏi:
+ Các bạn nhỏ trong mỗi tranh đang làm gì?
+ Chơi một mình vui hơn hay có bạn cùng chơi cùng học vui hơn?
+ Muốn có nhiều bạn cùng học, cùng chơi em cần phải đối xử với bạn như
nào đó mà nếu không tổ chức thảo luận nhóm thì sẽ không đạt được hiệu quả mong
muốn.
+ Đối với học sinh lớp 1, mỗi nhóm không nên quá 4 em, thời gian hoạt
động không quá 5 phút để học sinh dễ tổ chức hoạt động và phù hợp với sức
khỏe của học sinh Tiểu học.
+ Cần cho các em luân phiên làm nhóm trưởng, để em nào cũng được rèn
khả năng chỉ huy, tổ chức hoạt động tập thể. Việc trình bày kết quả có thể là
nhóm trưởng, cũng có thể lựa chọn các em khác trình bày.
+ Cần kiên trì tổ chức cho các em tham gia hoạt động nhóm. Ban đầu có
thể gặp nhiều khó khăn trong khâu tổ chức, sau một vài lần các em sẽ quen và
từng bước hình thành được thói quen học tập theo nhóm và yêu thích hoạt động
nhóm.
Trên đây là một số ví dụ đưa các phương pháp, hình thức dạy – học vào
môn Đạo đức mà tôi đã áp dụng. Nhờ đó tiết học trở nên hứng thú và đạt hiệu
quả cao. Ngoài các phương pháp nêu trên giáo viên cần luôn động viên, khuyến
khích, tuyên dương những học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ học tập của mình.
Các phương pháp và hình thức dạy – học môn Đạo đức ở lớp 1 rất phong
phú và đa dạng. Mỗi phương pháp và hình thức đều có mặt mạnh và hạn chế
riêng, phù hợp với từng loại bài, từng bước của tiết dạy. Vì vậy khi áp dụng cần
phải linh hoạt không cứng nhắc, tùy theo tình hình của lớp học, căn cứ vào khả
năng trình độ của học sinh, năng lực sở trường của giáo viên mà lựa chọn, sử
dụng kết hợp các phương pháp và hình thức dạy học một cách hợp lý, phù hợp
với tâm sinh lý, lứa tuổi của học sinh.
Đồng thời, phải kết hợp hài hòa giữa trang bị kiến thức với bồi dưỡng tình
cảm và luyện tập, thực hành kỹ năng cho hoc sinh. Bản thân nội dung môn Đạo
đức chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ năng sống như: kĩ năng giao
tiếp, ứng xử với ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè với mọi người xung quanh; kĩ
năng bày tỏ ý kiến bản thân, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề phù hợp
với lứa tuổi, kĩ năng giữ gìn vệ sinh cá nhân, kĩ năng tự phục vụ và tự quản lý
thời gian…về các vấn đề trong thực tiễn đời sống ở nhà trường, cộng đồng có
quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống.
+ Về thái độ: Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin, tôn trọng
người khác,biết yêu thương; yêu cái thiện, cái tốt, cái đúng; không đồng tình với
cái ác, cái sai, cái xấu.
- Việc đánh giá kết quả học tập môn Đạo đức cho học sinh được tiến hành
2 lần/ năm vào thời điểm cuối học kì I và vào cuối năm học. Giáo viên nhận xét
dựa trên hình thức tự đánh giá của học sinh, kết hợp với đánh giá của tập thể học
sinh, của cha mẹ, của phụ trách Sao, của cộng đồng nơi ở.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
- Qua việc áp dụng đề tài này vào lớp 1B do tôi chủ nhiệm, tôi nhận thấy
đa số học sinh trong lớp rất thích học môn Đạo đức, trong giờ học các em đã tự
tin khi đóng vai, xử lí các tình huống, tham gia các trò chơi một cách nhiệt tình,
chủ động và quan trọng hơn là các em đã biết vận dụng vào thực tiễn. Qua các
tiết Đạo đức đã hình thành một số kĩ năng, hành vi đạo đức cho học sinh.
- Kết quả đánh giá về thực hiện một số kĩ năng, hành vi đạo đức của học
sinh lớp 1B năm học 2016 - 2017:
Đầu năm
Chuẩn mực,
hành vi đạo đức
Sĩ
số
Hoàn
thành
tốt
18em =
43,9%
1em=
31em =
10em =
Tự tin, trách
0
48,8%
48,8%
2,4%
75,6%
24,4%
nhiệm
41 24em =
17em =
0
35em =
6em=
Đoàn kết, yêu
0
58,4%
41,5%
85,4%
14,6%
thương ; lễ phép
Nhìn vào bảng số liệu chúng ta có thể thấy rằng: Đầu năm học việc thực
hiện một số kĩ năng, hành vi đạo đức của HS lớp tôi chủ nhiệm chưa đạt kết quả
cao vì các em mới từ mẫu giáo lên, mọi thứ còn rất mới mẻ đối với các em,
17
nhiều em còn tính tự do, chưa biết kiềm chế được cảm xúc... Sau một thời gian
thuyết mà “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức để học sinh noi theo”
đó cũng là một trong những phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện
– Học sinh tích cực – Giáo viên mẫu mực”.
- Để tiết dạy – học môn Đạo đức đạt hiệu quả cao:
+ Giáo viên phải nghiên cứu kĩ giáo án, bài giảng để tìm phương pháp tổ
chức tiết học một cách hợp lý, khoa học.
+ Sử dụng thiết bị đồ dùng day học phong phú, đa dạng, đưa ra đúng lúc
và khoa học.
+ Phương pháp dạy lý thuyết khác với phương pháp dạy thực hành.
+ Giáo viên phải nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý học sinh của lớp mình chủ
nhiệm.
+ Luôn tạo không khí trong tiết học thoải mái, nhẹ nhàng.
+ Gần gũi, thân thiện với học sinh nhất là những học sinh cá biệt, nhút
nhát.
18
- Nhờ vận dụng các phương pháp giảng dạy như trên tôi đã gây hứng thú
cho học sinh trong các giờ học môn Đạo đức thu hút học sinh vào hoạt động học
tập đạt 100% học sinh tham gia tích cực. Các em đã nắm bắt được những tri
thức sơ đẳng về các chuẩn mực đạo đức.
- Học sinh biết được cái thiện, cái ác, cái đúng, cái sai… Có những xúc
cảm đạo đức tích cực. Có những kĩ năng hành vi đơn giản.
- Một số phụ huynh cần nhận thấy rõ vai trò của gia đình trong quá trình
giáo dục con em mình, nhiệt tình chỉ bảo, quan tâm tới các em nhiều hơn,
thường xuyên giữ mối liên hệ với nhà trường, hiểu được tầm quan trọng của sự
kết hợp giữa nhà trường và gia đình.
- Trên đây là những kinh nghiệm tôi đã áp dụng giảng dạy môn Đao đức.
Tôi rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của bạn bè, đồng nghiệp, Hội đồng
đánh giá SKKN để tôi có thể vận dụng vào giảng dạy có hiệu quả hơn. Tôi xin
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Lê Thị Quỳnh Huệ
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Đông Vệ 2
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
1.
Thiết kế trò chơi cho học sinh
Phòng
B
lớp 2
2.
Một số biện pháp giúp học
Phòng
C
sinh lớp 5 đổi các đơn vị đo
lường.
3.
Một số biện pháp rèn kỹ năng
Phòng
B
viết đúng và đẹp cho học sinh
I. Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Đối tượng nghiên cứu
2
4. Phương pháp nghiên cứu
2
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
1. Cơ sở lý luận
3
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
4
3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
6
23