BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC
CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng giảng dạy ở bậc phổ thông là yêu cầu quan trọng trong
giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Trong những năm gần đây, bộ giáo
dục và đào tạo đã tiến hành đổi mới sâu rộng trong giáo dục thể hiện ở nhiều mặt
như đổi mới chương trình giảng dạy, sách giáo khoa, công tác quản lí, phương pháp
giảng dạy, công cụ… nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đáp ứng
những yêu cầu mới của thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Sinh học là ngành khoa học thực nghiệm và đang phát triển rất nhanh. Nội dung
kiến thức rất đa dạng phong phú liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau
(Hóa học, Vật lí học, Toán học, Điều khiển học, Tin học,…). Ngày nay, cứ chưa
đầy 10 năm, khối lượng tri thức sinh học của loài người lại tăng lên gấp đôi. Chính
vì vậy mà việc sử dụng những phương pháp dạy học, công cụ tư duy, xử lí thông tin
một cách có hiệu quả có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ trong lĩnh vực sinh
học. Các phương pháp dạy học và ghi nhớ truyền thống ngày càng tỏ ra kém hiệu
quả và chưa đáp ứng được tự tăng lên nhanh chóng của tri thức khoa học. Chất
lượng dạy - học môn Sinh học ở bậc phổ thông còn chưa cao trong đó có môn Sinh
học cấp THCS.
Để có thể hiểu và ghi nhớ kiến thức một cách có hệ thống và vận dụng linh hoạt
- Xác định các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy Sinh học THCS.
- Xác định mức độ hứng thú học tập và kết quả học tập Sinh học bằng sử dụng các
phương pháp dạy học tích cực, ứng dụng CNTT, sử dụng BĐTD trong giảng dạy.
3
- Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong giảng dạy kiến thức môn Sinh
học THCS: Cung cấp thêm dẫn liệu và một số biện pháp sử dụng phương tiện, công
cụ học tập làm tăng hiệu quả giảng dạy và học tập.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 2 năm 2016
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
4
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1. Cơ sở lí luận
Chất lượng giáo dục có thể được hiểu là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, là
chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục theo những mục tiêu
xác định. Mục tiêu giáo dục phổ thông ở Việt Nam là sự giáo dục toàn diện thể hiện
ở nhân cách HS trong một hệ thống các điều kiện cụ thể. Chất lượng giảng dạy
môn Sinh học thể hiện ở sự hình thành, phát triển về nhận thức, hành động của HS
theo chiều hướng tích cực thông qua hoạt động giảng dạy môn Sinh học.
Trong hoạt động giảng dạy, nếu như giáo viên và học sinh không có phương
pháp giảng dạy và cách học tập phù hợp thì chất lượng giảng dạy sẽ khó có thể đạt
được mục tiêu. Phương pháp giảng dạy có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động nhận
thức của HS. Mục đích, nội dung và phương pháp dạy học cần phải có sự thống
Các yếu tố trên có tác dụng hỗ trợ, bổ khuyết, cộng hưởng lẫn nhau cùng ảnh
hưởng đến chất lượng dạy học. Xu hướng giáo dục hiện nay đang chuyển từ dạy
học lấy GV làm trung tâm sang lấy HS làm trung tâm, giáo viên giữ vai trò chủ
đạo. Phương pháp dạy học được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, sáng
tạo của HS, tận dụng những thành tựu của công nghệ thông tin và các công cụ,
phương tiện học tập hiệu quả như BĐTD sẽ tạo nên bước phát triển vượt bậc về
con người trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Qua tìm hiểu thực tế ở nhiều nơi, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng GV đã có
cố gắng thực hiện đổi mới PPDH, sử dụng phối hợp nhiều PP DHTC như thảo luận
nhóm, thực hành, thí nghiệm, vấn đáp tìm tòi, trực quan… Bên cạnh đó, việc giảng
dạy Sinh học nhiều khi còn chưa được chú ý, đặc biệt là phương pháp và cách thức
tổ chức các hoạt động dạy, học. Phương pháp giảng dạy truyền thống được thực
hiện với những hoạt động truyền đạt một chiều, củng cố, tái hiện kiến thức đã học
6
sau đó giáo viên chốt lại kiến thức bằng những nội dung chính cần được ghi nhớ
khắc sâu. Giáo viên thường chú trọng vào việc truyền thụ kiến thức mà ít quan tâm
đến yếu tố cảm xúc, kĩ năng sống của HS. Nội dung kiến thức môn Sinh học THCS
đa dạng, trải rộng từ lớp 6 đến lớp 9, hơn nữa, việc chú trọng đến một số môn thi
lên cấp THPT khiến cho học sinh sao nhãng một số môn học khác trong đó có môn
Sinh học. Việc sử dụng thiết bị dạy học và BĐTD trong giảng dạy và học tập còn
hạn chế chưa phát huy được lợi thế to lớn có thể có được.
Những lí do trên khiến cho việc dạy và học Sinh học chưa thực sự hiệu quả, chất
lượng chưa cao.
Tìm hiểu thực tế nhà trường, tôi nhận thấy: đội ngũ giáo viên đảm bảo trình độ
chuyên môn, nhiệt tình, tâm huyết nghề nghiệp; cơ sở vật chất tương đối đảm bảo.
Bên cạnh đó, chất lượng giảng dạy bộ môn, chất lượng mũi nhọn chưa cao, các
trang thiết bị dạy học chưa đồng bộ, giá trị sử dụng chưa cao; việc học và dạy Sinh
học.
Bản chất dạy học trong phương pháp DHTC là học tập bằng hoạt động nhận
thức của người học; HS là trung tâm, GV tổ chức điều khiển các hoạt động; Quan
8
tâm đến quá trình học như thế nào, khai thác động lực của quá trình học tập, gắn
việc học với nhu cầu, lợi ích cá nhân người học.
Mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho HS sớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa
nhập và phát triển cộng đồng; chú trọng hình thành các năng lực nhận thức, hoạt
động, tự học và các kĩ năng giải quyết vấn đề; tôn trọng lợi ích, nhu cầu, năng lực
của HS.
Các tiêu chí quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy và học như sau:
- Tiêu chí hàng đầu của việc dạy và học tích cực là dạy cách học
- Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ động của người học
- Công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và đa phương tiện.
Hoạt động của GV và HS trong DHTC được thể hiện ở sơ đồ sau:
Người dạy
Người học
Định hướng, hướng dẫn
Nghiên cứu, tìm tòi
Tổ chức
Thực hiện
Trọng tài, cố vấn, kết luận,
chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được mục đích học tập khác.
Quy trình thực hiện gồm:
Bước 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức: Tạo tình huống có vấn đề; phát
triển và nhận dạng vấn đề nảy sinh; phát biểu vấn đề cần giải quyết
Bước 2: Giải quyết vấn đề đặt ra: Đề xuất các giả thuyết; lập kế hoạch giải quyết
vấn đề; thực hiện kế hoạch.
Bước 3: Kết luận: Thảo luận kết quả và đánh giá; khẳng định hay bác bỏ giả thuyết
đã nêu; phát biểu kết luận; đề xuất vấn đề mới.
10
Phương pháp này có thể áp dụng trong các giai đoạn của quá trình dạy học cần
hướng tới mọi đối tượng HS.
Ví dụ:
Bước 1: Khi dạy bài “Di truyền liên kết” Sinh học 9.
GV đặt vấn đề: Dựa vào SGK, hãy cho biết khi Moocgan cho ruồi đực F1 xám
dài lai với ruồi cái đen cụt thì được F2 có tỉ lệ như thế nào? Giải thích.
HS trả lời: 1 xám dài : 1 đen cụt. Theo Menđen thì ruồi đực xám dài F1 sẽ cho ra 4
loại giao tử: BV, Bv, bV, bv, còn ruồi cái đen cụt chỉ cho ra một loại giao tử là bv.
Như vậy ở F2 sẽ cho ra 4 loại tổ hợp giao tử với tỉ lệ ngang nhau.
Bước 2: Nhưng thực tế chỉ có 2 loại tổ hợp được tạo thành ở F2 là BbVv, bbvv.
Vậy chúng ta giải thích trường hợp này như thế nào?
HS trả lời: Như vậy ruồi đực F1 chỉ cho 2 loại giao tử BV và bv với tỉ lệ ngang
nhau. Người ta giải thích B và V cùng nằm trên một NST, b và v nằm trên một NST
cho nên luôn di truyền cùng nhau
Bước 3: GV kết luận về hiện tượng trên - hiện tượng liên kết gen.
2.1.2. Dạy học hợp tác
Dạy học hợp tác (thảo luận nhóm) là phương pháp mà trong đó GV tổ chức cho
HS trong cùng một nhóm phân công, thực hiện, hợp tác cùng giải quyết một vấn đề
Phương pháp trực quan được thể hiện trong giảng dạy lí thuyết và thực hành
môn Sinh học, giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách cụ thể, xác thực, sinh động về
thế giới sống; tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích cực học tập của học sinh…
Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp này đòi hỏi GV phải đầu tư vào việc chuẩn
bị mất nhiều thời gian, thường chỉ phù hợp với những kiến thức tương đối đơn giản
như cấu tạo ngoài, một số bài cấu tạo trong, cấu tạo phù hợp với chức năng của các
cơ quan bộ phận trên cơ thể.
12
2.1.3. Phương pháp thực hành
Trong phương pháp thực hành, HS trực tiếp thao tác trên các đối tượng (quan
sát bằng mắt thường hay bằng dụng cụ, giải phẫu mẫu vật, tiến hành thí nghiệm…),
tự lực khai thác thông tin, khám phá tìm tòi kiến thức mới hoặc củng cố kiến thức lí
thuyết và rèn các kĩ năng bộ môn. Quy trình chung khi sử dụng phương pháp thực
hành gồm 6 bước:
Bước 1: HS biết được mục đích của bài thực hành.
Bước 2: GV và HS chuẩn bị thiết bị dạy học cho bài thực hành.
Bước 3: HS tìm hiểu các thao tác, trật tự các hoạt động thực hành.
Bước 4: HS tiến hành các hoạt động thực hành theo cá nhân, theo cặp, theo nhóm;
tiến hành các thao tác thí nghiệm, các bước thực hành.
Bước 5: HS tiến hành khai thác thông tin từ kết quả thực hành.
Bước 6: HS nêu nhận xét hoặc rút ra kết luận.
Nhìn chung, phương pháp giảng dạy thực hành có nhiều ưu điểm như giúp HS
học tập tích cực bộ môn theo hướng phát triển năng lực tư duy độc lập, sáng tạo.
2.1.4. Phương pháp vấn đáp tìm tòi
Phương pháp này thuộc phương nhóm phương pháp dùng lời, là một trong
những phương pháp có nhiều ưu thế trong việc tích cực hóa hoạt động học tập của
HS. GV tổ chức trao đổi ý kiến, kể cả tranh luận giữa thầy với cả lớp, có khi giữa
trò với trò về một chủ đề nhất định, thông qua đó HS nắm được kiến thức mới.
quả. Do vậy, cho dù có phương pháp dạy học hiệu quả, sử dụng công cụ hiện đại
mà không khơi dậy động cơ học tập của HS thì hiệu quả học tập cũng không cao.
Để giúp các em có động cơ, phương pháp học tập, chúng tôi có một số biện
pháp sau:
2.2.1. Tạo sự hứng thú học tập cho HS
14
- Tạo môi trường thân thiện trong lớp học, nhà trường: Để HS cảm thấy vui
thích khi đến trường và mỗi ngày đến trường là một ngày vui; Giao tiếp thân thiện
thể hiện ở cách thức giao tiếp giữa GV và HS, giữa các HS trong lớp, trong trường
với nhau; Cơ sở vật chất cần được đảm bảo an toàn, bố trí hợp lí bàn ghế, chỗ ngồi
của HS,…
- Kích thích hứng thú qua nội dung: Cần khai thác những nội dung gần với vốn
sống, sự hiểu biết, nhu cầu muốn biết và muốn tìm hiểu của HS.
Ví dụ: GV có thể sử dụng câu hỏi Tại sao lá cây có màu xanh? Cây có vai trò gì?
(Sinh học 6); Tại sao khi chạy nhanh tim sẽ đập mạnh? Tại sao dạ dày lại tiêu hóa
được thức ăn nhưng lại không tiêu hóa chính nó,… (Sinh học 8).
- Kích thích hứng thú học tập qua PPDH: GV có thể vận dụng và phối hợp linh
hoạt các PPDH như phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, vấn đáp, sử dụng
BĐTD, luyện tập, thực hành,…; tăng cường các hoạt động độc lập của HS trong
giờ học, tăng cường tự học, tự tìm hiểu, tìm kiếm tài liệu, hoạt động nhóm, thực
hành, học thông qua trò chơi.
- Kích thích hứng thú học tập qua phương tiện dạy học : Sử dụng các phương
tiện dạy học, đặc biệt là ứng dụng CNTT, kết nối đa phương tiện.
- Kích thích hứng thú học tập qua các hình thức tổ chức dạy học khác nhau:
Cá nhân, nhóm, tập thể, hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm thực tế,…
2.2.2. Dạy cách học cho HS
Trong xã hội hiện nay với sự bùng nổ về thông tin, các ngành khoa học, kĩ thuật
KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực
trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả, ứng phó tích cực với các tình huống
của cuộc sống. KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết, học làm người,
học để sống với người khác và học để làm. Rèn luyện KNS cho HS được xác định
16
là một trong những nội dung cơ bản của Phong trào thi đua “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông.
KNS được phân loại theo các mối quan hệ bao gồm các nhóm sau:
- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình: KNS tự nhận thức, xác định
giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin,…
- Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác gồm: KNS giao tiếp hiệu quả,
giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,…
- Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả gồm: KNS tìm kiếm và xử lí
thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,…
Giáo dục KNS được tích hợp vào quá trình dạy học môn Sinh học và một số bộ
môn khác. GV sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tổ chức
cho HS được thực hành, trải nghiệm một số KNS cơ bản, cần thiết cho các em
trong quá trình học tập.
2.3. Ứng dụng CNTT trong giảng dạy
2.3.1. Một số hình thức ứng dụng CNTT trong giảng dạy
- GV sử dụng CNTT hỗ trợ quá trình dạy học: sử dụng phần mềm dạy học, khai
thác thông tin internet, sử dụng máy vi tính, máy chiếu…
- HS tra cứu tài liệu trên mạng nội bộ hoặc internet hỗ trợ học tập.
- HS làm việc trực tiếp với máy tính, sử dụng phần mềm dạy học, mạng internet,…
dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của GV.
- HS học tập độc lập nhờ CNTT và truyền thông đặc biệt là máy tính và mạng
internet (học trực tuyến, e-learning, bài giảng điện tử,…).
2.2.3. Biện pháp ứng dụng CNTT trong giảng dạy thực hành
Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy thực hành về cơ bản cũng được thực hiện
theo cách thức thiết kế một bài giảng lí thuyết. Tuy nhiên, do tính đặc thù của từng
18
nội dung thực hành mà có thể ứng dụng CNTT ở những mức độ khác nhau. Ứng
dụng CNTT vào dạy thực hành có thể chỉ ở một khâu trong thí nghiệm hay một quá
trình sinh học nào đó hoặc toàn bộ bài thực hành. Có thể áp dụng CNTT vào dạy
học thực hành liên quan đến cả 4 dạng thực hành ở những mức độ và cách thức áp
dụng khác nhau tùy thuộc vào nội dung, các bước tiến hành thực hành.
* Đối với dạng thực hành - Thí nghiệm biểu diễn của GV, GV có thể chuẩn
bị trước các hình ảnh, phim, tư liệu, câu hỏi liên quan trên máy tính. Các bài có thể
áp dụng CNTT như một biện pháp trực quan trong dạng thực hành này: Quang hợp,
Vận chuyển các chất trong thân (Sinh học 6), Tìm hiểu hoạt động của enzim trong
nước bọt, tìm hiểu chức năng của tủy sống (Sinh học 8), Tập dượt thao tác giao
phấn (Sinh học 9)…
* Đối với dạng thực hành – Thí nghiệm thực hành của HS, HS trực tiếp làm
thực hành thì các hình ảnh, phim minh họa có thể được trình chiếu chỉ xem như là
những kết quả thí nghiệm để khắc sâu kiến thức, đảm bảo thời gian giờ dạy.
Đặc biệt, các bài thực hành xem băng hình về đời sống và tập tính của Côn
trùng, Chim, Thú (Sinh học 7), ứng dụng CNTT tỏ ra có ưu thế lớn. GV có thể sử
dụng các băng hình trên máy tính rồi cho HS xem.
* Đối với dạng thực hành - Kết hợp giữa thí nghiệm biểu diễn của GV và
thực hành của HS, gồm các hoạt động:
Đối với hoạt động thứ nhất, GV có thể tiến hành biểu diễn thí nghiệm tương tự
cách làm đối với dạng thực hành - Thí nghiệm biểu diễn của GV;
Đối với hoạt động thứ 2 - Thực hành của HS, HS tự tiến hành theo hướng dẫn
thí nghiệm của GV. Kết thúc tiết thực hành, GV có thể đưa ra hệ thống câu hỏi
hoặc hình câm trình chiếu trên thiết bị trình chiếu để HS trả lời.
trình sinh học, thí nghiệm độc hại, khó thành công hoặc cần nhiều thời gian hoặc
làm tăng lượng thông tin và hiệu quả sử dụng chúng cho bài học.
2.4. Sử dụng BĐTD
BĐTD là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển
tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Nó là một
phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó, “sắp
xếp” ý nghĩ người sử dụng.
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy… là hình thức
ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của
một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh,
đường nét, màu sắc, chữ viết.
Nghĩa của cụm từ BĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thường như bản
đồ địa lí mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi
người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết.
Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế BĐTD theo mạch tư duy của mỗi
người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc
bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm
từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó
dưới dạng BĐTD theo một cách riêng do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa
khả năng sáng tạo của mỗi người.
Bản đồ tư duy (mind map) được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm
1960. Hiện nay, kỹ thuật này đang được 250 triệu người trên thế giới sử dụng (công
ty, tổ chức giáo dục, trường học, cá nhân, diễn giả, học sinh, sinh viên,…)
21
.
Hình 5. Tony Buzan
nhớ dưới dạng thuộc lòng, học “vẹt”.
Bản đồ tư duy có liên quan mật thiết với chức năng của tư duy và có thể được
dùng trong hầu hết mọi hoạt động liên quan đến tư duy, nhớ lại, hoạch định hay
sáng tạo. Ở đây chúng tôi hướng dẫn học sinh sử dụng BĐTD trong các hoạt động
chính: ghi chép và ôn tập, tự học.
Tác dụng đối với HS: Phù hợp với tâm lí HS, đơn giản, dễ hiểu thay ghi nhớ lí
thuyết bằng việc ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức.
23
2.4.2. Tổ chức hoạt động học tập có sử dụng BĐTD
BĐTD hoạt động dựa trên hai nguyên tắc chủ chốt: tưởng tượng và liên kết. Để
sử dụng BĐTD, trước hết GV cần cho HS làm quen với BĐTD, hiểu vai trò, sự cần
thiết của BĐTD trong học tập và sau đó tự biết thiết kế và sử dụng BĐTD trong
học tập sao cho có hiệu quả nhất
Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức
sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì, phát
triển một ý tưởng, một bài toán,…
Sử dụng BĐTD giúp tổ chức các hình thức học tập đa dạng: học theo nhóm
hoặc cá nhân, kết hợp học tập cá thể với học tập hợp tác; học tập được tổ chức
thông qua một hệ thống các hoạt động như: lập BĐTD, thuyết minh về BĐTD, thảo
luận, chỉnh sửa, hoàn thiện BĐTD,…
Sử dụng BĐTD tạo môi trường cho HS được tham gia các hoạt động học tập
một cách tích cực, chủ động, sáng tạo. Theo đó, việc tổ chức dạy học bằng BĐTD
đáp ứng được đổi mới PPDH hiện nay, đó là tích cực hóa hoạt động học tập của
HS.
Dạy HS lập BĐTD theo các bước sau:
Bước 1. Làm quen với BĐTD (tập đọc hiểu, thuyết minh BĐTD)
Bước 2. Tập vẽ BĐTD bằng cách hoàn thiện các bản đồ đã vẽ sẵn nhưng còn thiếu
nhánh, thiếu nội dung.
2.5. Phương pháp kiểm tra đánh giá
Ngoài phương pháp đánh giá truyền thống, GV có thể vận dụng các phương
pháp đánh giá mới nhằm khắc phục những hạn chế của phương pháp đánh giá
truyền thống. Kết quả đánh giá cần phải phản ánh đúng mức độ phẩm chất, năng
lực sáng tạo của HS, đảm bảo tính khách quan, toàn diện, độ tin cậy trong kiểm tra,
đánh giá. GV cần tạo cơ hội để HS tự đánh giá và tham gia đánh giá lẫn nhau, kết
hợp hài hòa với việc kiểm tra, đánh giá của GV với tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau
của HS và nhóm HS. Chúng tôi sử dụng các biện pháp kiểm tra, đánh giá sau:
25