SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ
NỘI
Phòng giáo dục và đào tạo Thường Tín
&&&
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ĐỂ HỌC SINH VIẾT ĐẸP NGAY TỪ LỚP 1”
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
Giáo viên chủ nhiệm lớp : 1A
Trường :Tiểu học Chương Dương
Năm học: 2011-2012
1
MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu 3
3.Đối tượng nghiên cứu 4
4. Phạm vi nghiên cứu 4
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Các tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
7. Thời gian nghiên cứu 4
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận 6
2. Cơ sở tâm lí 7
3. Cấu tạo chữ viết 9
4. Phương pháp dạy Tập viết 14
5 Biện pháp tiến hành 16
6. Kết quả 20
III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 20
2
Viết đúng, đẹp, nhanh, rõ ràng học sinh có điều kiện ghi chép bài học của
tất cả các môn học tốt .Nhờ đó mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là
công cụ để các em vận dụng suốt đời.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Để
học sinh viết đẹp ngay từ lớp 1”
3
2/ Mụ c đích nghiên c ứu:
Học theo lời dạy của Bác Hồ: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích
trăm năm trồng người", "Nét chữ, nết người".
Thực tế hiện nay, chữ viết của các em học sinh tiểu học chưa được đẹp,
chưa đúng mẫu, sự liên kết giữa các nét chữ hoặc liên kết giữa các chữ cái chưa
chuẩn, tốc độ viết còn chậm, học sinh sử dụng nhiều loại bút - nhiều màu mực
để viết bài nên còn hạn chế trong việc giữ gìn “vở sạch - viết chữ đẹp”. Nếu ở
lớp 1 mà không rèn được chữ đẹp thì lên lớp trên lại càng khó có thể rèn các em
viết chữ đẹp được. Các em lớp 1 cũng như những cây non, muốn trở thành các
cây vững chắc sau này thì phải được uốn nắn kịp thời ngay từ những buổi đầu
cầm bút. Tập viết trong nhà trường ít nhất cũng ngang bằng với các môn học
khác. Có như vậy phụ huynh mới quan tâm, tạo điều kiện cho con rèn nét chữ
đẹp.
Trong ngôn ngữ viết có chức năng giao tiếp và được quy định thống
nhất. Mặc dù xác định được tầm quan trọng như vậy nhưng thực tế cho thấy
phân môn tập viết trong trường tiểu học còn chưa được coi trọng. Sách giáo
viên, tài liệu tham khảo chưa cụ thể, rõ ràng như những môn học khác nên việc
dạy phân môn tập viết còn hạn chế. Qua thăm lớp, dự giờ ta thấy có giáo viên
còn chưa nắm vững nên gọi các nét cơ bản để hướng dẫn học sinh. Và việc rèn
chữ ở lớp 1 là việc không hề dễ dàng đối với các thầy cô giáo nói chung vì các
em con nhỏ, tay viết còn chưa “cứng” và còn nhiều lúng túng khi cầm bút viết,
nhất là bút mực.
3/Đ ố i tư ợng nghiên cứu
Đối tượng chính là chữ viết của HS lớp 1.
nắm vững:
a) Yêu cầ u cơ b ản của dạy tập viết ở lớp 1:
+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng
kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách
giữa các chữ, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số.
+ Kỹ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và liên kết các chữ
cái tạo thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch. Viết thẳng hàng các chữ trên
dòng kẻ. Ngoài ra học sinh còn được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồi
viết, cách cầm bút, để vở… bài kiểm tra cuối năm là bài tập chép một đoạn
trong bài tập đọc (không mắc quá 5 lỗi chính tả).
- Muốn đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo viên cần hiểu rõ ý đồ của
vở tập viết. Cấu trúc mỗi bài gồm phần tập viết chữ cái và từ ứng dụng.
- Ở vở tập viết lớp 1 thì cứ sau bài học vần có một bài tập viết thêm để
học sinh rèn luyện cách viết các chữ vừa học.
- Các ký hiệu trong vở tập viết phải được học sinh nắm chắc, như: đường
kẻ ngang, quy định độ cao chữ cái, dấu chấm là điểm đặt bút đầu tiên
của chữ, ký hiệu luyện viết ở nhà.
b) Chương tr ình và vở tập viết hiện hành :
Vở tập viết của Bộ giáo dục phát hành giúp học sinh không ngừng nâng
cao về chất lượng chữ viết mà còn phối hợp với các môn học khác nhằm phát
huy vai trò của phân môn tập viết. Chương trình tập viết lớp một gồm có:
Học kỳ I: Sau mỗi bài học vần học sinh được luyện viết những chữ các
em vừa học và mỗi tuần có thêm 1 tiết tập viết.
Học kỳ II: Mỗi tuần có 1 tiết tập viết, mỗi tiết 35 phút và học sinh được
làm quen với chữ viết hoa.
Ngoài ra, vở Thực hành luyện viết cũng là một công cụ theo sát chương
trình học và giúp ích thiết thực cho các em.
6
2/ Cơ sở tâm lý:
viết không đúng và nhanh được.
c) Đ ặ c đi ể m đôi m ắt trẻ khi viết:
7
- Trẻ tiếp thu hình ảnh chữ viết qua mắt nhìn. Vì vậy, nếu chữ viết được
trình bày với kích thước quá nhỏ hoặc ánh sáng kém thì các em phải cúi sát
xuống để nhìn cho rõ chữ, từ đó dẫn đến cận thị.
- Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình chữ nhưng
bàn tay chưa ghi lại đầy đủ hình dáng của mẫu chữ. Chỉ sau khi luyện tập, số
lần nhắc đi nhắc lại nhiều hay ít tuỳ theo từng học sinh, thì các em mới chép
đúng mẫu.
3/ Cấu tạo chữ viết:
a) Xác đ ịnh tọ a đ ộ và chiề u hư ớng chữ:
Tọa độ chữ được xác định trên đường kẻ ngang của vở tập viết. Mỗi
đơn vị dòng kẻ trong vở gồm có 4 dòng kẻ ngang (1 dòng đầu đậm và 3 dòng
còn lại được in nhạt hơn). Ta ký hiệu đường kẻ trên là số 1 các đường khác là 1,
2, 3 kể từ dưới lên trên.
Ví dụ:
Đường kẻ dọc
Cách xác định tọa độ trên khung chữ phải dựa vào đường kẻ dọc,
đường kẻ ngang và các ô vuông làm định hướng. Đây là một trong những điều
kiện để dạy chữ viết thành một quy trình. Quy trình được thực hiện lần lượt bởi
các thao tác mà hành trình ngòi bút đi qua tọa độ các chữ.
Xác định tọa độ cấu tạo các chữ viết hoa đều phải căn cứ vào các ô
vuông của khung chữ mẫu để phân tích cách viết.
Ngoài việc thống nhất các khái niệm về đường kẻ, ô vuông như trên, để
việc tổ chức dạy tập viết có hiệu quả hơn, cần chú ý thêm một số thuật ngữ có
liên quan:
a.1- Đi ể m đ ặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái.
Điểm đặt bút có thể nằm trên đường kẻ ngang, hoặc không nằm trên đường kẻ
b a
=> Từ b -> a không viết liền được ta viết chữ b sau đó lia bút sang
điểm bắt đầu của chữ a.
ba
a.6- Kỹ thuật rê bút: Đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại
với nét chữ vừa viết. Ở đây xảy ra trường hợp dụng cụ viết (đầu ngòi bút,
phấn) chạy nhẹ từ điểm kết thúc của nét đứng trước đến điểm bắt đầu của
nét liền sau.
Ví dụ: Khi viết chữ p phải viết nét thẳng của chữ p sau đó không
nhấc bút để viết mà rê ngược bút lên giữa đường kẻ ngang thứ 2 để viết nét
móc 2 đầu .
p
on
11
a.7- Kĩ thuật nối: Khi nối từ các con chữ có nét cong kín ra các con chữ
khác, ta thực hiện lia bút viết nét nối nhỏ vừa phải phía dưới đường kẻ ngang 1 ,
bên phải chữ o. Ví dụ : on
b) Cấu tạo của chữ cái Tiếng Việt:
Kí hiệu ngôn ngữ do các chất liệu âm thanh hoặc nét đồ họa thể hiện.
Chữ viết được xây dựng trên cơ sở của hệ thống kí tự đã được chuẩn hóa.
Những đặc điểm cấu tạo chữ viết là những yếu tố cần và đủ để phân biệt các
chữ cái khi thể hiện ngôn ngữ viết. Những yếu tố cấu tạo chữ viết này chính là
hệ thống các nét chữ.
Yêu cầu về hệ thống nét: Việc xác định hệ thống các nét chữ được phân
tích trên cơ sở số lượng nét càng ít càng tốt để dễ dạy, dễ học. Đồng thời hệ
thống nét đó lại phản ánh toàn bộ hệ thống chữ cái và chữ số Tiếng Việt. Do
đó, cần quan niệm hệ thống nét cơ bản cấu tạo chữ cái Tiếng Việt gồm hai loại:
* Nét thẳng: thẳng đứng , nét ngang , nét xiên , \
* Nét cong: cong hở (cong phải , cong trái ), cong khép kín .
Cách sắp xếp các chữ cái có hình dáng tương tự vào cùng bài dạy xuất
phát từ quan niệm muốn dùng thao tác tương đồng để dạy chữ cái và dạy viết
theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp xét về cấu tạo nét chữ.
Nhóm 1: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x.
Nhóm 2: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc
(hoặc nét thẳng): a, ă, â, d, đ, g.
Nhóm 3: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, t, u, ư, p, m, n.
Nhóm 4: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét cong
phối hợp với nét móc): l, h, k, b, y, g.
Nhóm 5: Nhóm chữ cái có nét móc phối hợp với nét thắt: r,v,s
Về cơ bản, cách sắp xếp này cũng theo sát các nhóm bài luyện tập viết
trong vở.
Đối với chữ hoa, lớp 1 mới tập tô chữ hoa, nhưng cũng cần chia nhóm
chữ để HS dựa vào những điểm tương đồng, sẽ nhớ lâu hơn:
Nhóm 1: A, N, M
Nhóm 2 : B, R, P, D, Đ
Nhóm 3: C, G, S, L, E, Ê, T
Nhóm 4: I, K, H, V
Nhóm 5: X, U, Ư, Y
Nhóm 6: O, Ô, Ơ, Q
Các số cũng được chia nhóm như sau:
Nhóm 1: Số 1, 4, 7 (nhóm các số có chung nét sổ, nét xiên)
Nhóm 2: Số 2, 3, 5 (nhóm các số có chung nét cong)
Nhóm 3: Số 6, 9 (nhóm các số có điểm đạt bút giống nhau và có chung
nét cong )
Nhóm 4: Số 0, 8 ( nhóm các số có điểm dặt bút giống nhau)
4/ Phương pháp dạy tập viết, rèn viết chữ:
4.1) Phương pháp tr ực quan:
13
Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ cho các em bằng nhiều con đường:
câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến
việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ
cái đã phân tích.
Ví dụ: Khi dạy chữ a, giáo viên có thể đặt câu hỏi: chữ a gồm có bao
nhiêu nét? là những nét nào? chữ a cao mấy ô? độ rộng của chữ là bao nhiêu?
…
Với những câu hỏi khó, giáo viên cần định hướng cách trả lời cho các
em. Vai trò của giáo viên ở đây là người tổ chức hướng dẫn học sinh phân tích
cấu tạo chữ cái chuẩn bị cho giai đoạn luyện tập viết ở phần sau.
14
4.3) Phương pháp luy ện tập:
Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình tập viết chữ.
Việc hướng dẫn học sinh luyện tập phải tiến hành từ thấp đến cao để học sinh
dễ tiếp thu. Lúc đầu là việc viết đúng hình dáng, cấu tạo kích thước các cỡ
chữ, sau đó là viết đúng dòng và đúng tốc độ quy định. Việc rèn luyện kỹ
năng viết chữ phải được tiến hành đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà, ở phân môn
tập viết cũng như ở các phân môn của bộ môn Tiếng Việt và các môn học khác.
Việc rèn chữ cũng là một kĩ năng thường xuyên, có khi cần luyện đi
luyện lại nhiều lần , HS mới viết đáp ứng được yêu cầu.
5. Biện pháp tiến hành
a). Thực hiệ n đúng quy đ ịnh khi viết chữ:
* Tư thế ngồi viết: Tư thế lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi,
mắt cách vở 25 – 30cm; nên cầm bút tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở để
trang viết không bị xê dịch; hai chân để song song, thoải mái (tham khảo
hình vẽ minh hoạ ở trang 2, vở Tập viết 1 – tập 1)
* Cách cầm bút: Học sinh cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ và
ngón giữa) với độ chắc vừa phải (không cầm bút chặt quá hay lỏng quá): khi
viết, dùng ba ngón tay di chuyển bút nhẹ nhàng, từ trái sang phải, cán bút
nghiêng về bên phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo, mềm mại,
thoải mái.
em viết đủ, viết đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết.
Giai đoạn viết bút chì:
Với việc thay sách mới đã chú trọng phần viết hơn nên ngày nào sau tiết
Tiếng Việt học sinh cũng được viết thực hành ngay âm, tiếng, từ vừa học, nhằm
khắc sâu kiến thức về đọc và viết luôn. Vở viết đã cải tiến giúp học sinh được
làm quen ngay với vở kẻ ô ly thuận tiện cho việc rèn chữ ở nhà. Cỡ chữ nhỡ cao
5 ly hoặc kéo xuống 5 ly, cỡ chữ nhỏ thì cao 2 ly rưỡi nên giáo viên phải hướng
dẫn cho học sinh biết đến đường kẻ ly chính xác, có thói quen và ước lượng 1/2
ly.
Ngoài vở tập viết ra tôi còn yêu cầu phụ huynh học sinh mua đồ dùng
học tập cho học sinh đầy đủ, lúc nào trong hộp bút cũng có 2 bút chì loại tốt
vót sẵn không vót nhọn hoặc quá tù. Nếu nhọn quá dẫn đến nét chữ mảnh, đôi
khi còn chọc thủng cả giấy. Ngược lại nếu đầu nét bút chì quá tù nét chữ sẽ to
quá, nét chữ sẽ rất xấu.
Ngoài các tiết tập viết quy định trong một tuần của chương trình, hàng
ngày, tôi vẫn dành thời gian viết mẫu những chữ đã học ở bài học vần cho các
em. Có như vậy chữ viết của những em còn yếu mới có điều kiện vươn lên
cùng với những em học khá hơn.
Tôi đã hướng dẫn học sinh sử dụng bút trong khi viết như sau :
- Cầm bút xuôi theo chiều ngồi, góc đặt bút đặt so với mặt giấy khoảng
45 độ tránh cầm dựng đứng hoặc úp tay quá.
- Đưa bút từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Các nét đưa lên hoặc đưa
sang ngang phải thật nhẹ không ấn mạnh đầu bút chì vào giấy thì chữ đẹp, nét
chữ mềm mại.
- Sau khi viết học sinh cần tự mình nhận xét nét nào được, nét nào hỏng
để rút kinh nghiệm, tránh vấp phải sai sót tương tự ở lần sau.
16
Giai đoạn viết bút mực :
Đặc biệt giai đoạn này học sinh được làm quen với chữ viết 1 ly nên việc
rèn chữ lại gặp nhiều khó khăn.
vở để động viên các em kịp thời.
- Chữ đẹp không chỉ viết ở vở tập viết mà còn phải biết tự rèn luyện viết
đẹp trong tất cả các môn học khác nữa. Sự nghiêm khắc của giáo viên về chất
lượng chữ viết ở tất cả các môn học là cần thiết. Có như thế, việc luyện tập viết
chữ mới được củng cố đồng bộ và thường xuyên
Mỗi bài viết sạch đẹp vở bất cứ môn nào, điểm cao tôi đều tuyên dương
trước lớp để khơi dậy các em ý thức phấn đấu.
- Cá nhân thi đua, từng tổ thi đua, cả lớp thi đua và đã nhiều em chữ
đẹp hơn, rõ ràng rồi thích viết hơn, chăm chỉ hơn.
17
Bên cạnh việc rèn chữ việc giữ vở sạch cũng rất cần thiết và tiến hành song
song vì khi nhìn vào quyển vở sạch các em cũng thấy mình cần phải viết đẹp.
Tôi đề ra: Vở bẩn, quăn mép cô sẽ không chấm điểm và cô sẽ gửi về
cho cha mẹ và xin chữ ký.
Từ đó các em tự tu sửa lại sách vở hoặc nhờ cha mẹ bọc dán lại vở.
Phong trào rèn vở sạch chữ đẹp của cả lớp luôn diễn ra sôi nổi và làm
thường xuyên liên tục.
Thực ra công việc "Rèn chữ" đâu chỉ một sớm, một chiều không chỉ có ở
môn tập viết mà phải làm trong cả một quá trình liên tục ngày này qua ngày
khác, ở tất cả các môn học.
Việc rèn chữ chỉ cần lơ đi một ngày, một tuần thì kể cả những em viết đẹp
rồi cũng lại viết xấu đi và ẩu nữa. Vì học sinh lớp 1 thường hiếu động, nhanh
quên, thiếu kiên trì, khó thực hiện các động tác đòi hỏi sự khéo léo cẩn thận.
Hơn nữa ở nhà nhiều cha mẹ không có điều kiện dạy con.
Để giúp các em khắc phục được những nhược điểm trên giáo viên phải có
đức tính kiên trì. Sự tận tâm, chu đáo của giáo viên là một trong những yếu
tố đảm bảo sự thành công của việc "Rèn luyện".
Việc rèn luyện chữ quả là khó khăn, nhiều em đã viết được đẹp, đều rồi
nhưng lại hay viết sai phụ âm đầu hoặc nhầm dấu thanh.
Nguyên nhân chủ yếu là do các em đọc ngọng theo địa phương, theo
2. Nguyễn Quỳnh Chi
3. Đỗ Huyền Ngọc
19
Với kết quả trên cho thấy sự tiến bộ của các em trong việc rèn chữ, giữ
vở. Tuy nhiên , tôi tự cảm thấy chưa hài lòng với kết quả mình đạt được, bản
thân tôi cần cố gắng hơn nữa để đạt kết quả cao hơn, để các em học sinh có
chữ viết đẹp - một cái vốn mà thầy cô đã cấp cho các em từ lớp 1, các em sẽ
mang theo chữ viết đẹp suốt cả cuộc đời.
III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Qua một thời gian áp dụng, tôi thấy học sinh lớp có những chuyển biến rõ
rệt về chữ viết. Viết nắn nót, cẩn thận đã thành thói quen của học sinh. Các em
luôn tự giác trong học tập, sách vở luôn giữ sạch đẹp. Vở viết của học sinh
đảm bảo chất lượng, chữ viết đúng mẫu, tốc độ viết đúng quy định. Bản
thân giáo viên khi dạy cũng thấy hứng thú, say sưa nâng cao chất lượng giờ dạy
tốt hơn.
Tuy vậy trong quá trình dạy học sinh tôi nhận thấy còn một vài bất cập
sau đây:
-Nêú có thể, điều chỉnh lại nội dung vở tập viết (cả phần chữ hoa ) sao
cho phù hợp với các nhóm chữ cái đã nêu ở phần trên , giúp HS dễ tiếp thu và
nhanh viết được chữ đúng, đẹp.
-Nâng cao chất lượng vở tập viết ( giấy quá mỏng, học sinh viết bị nhòe
nên các em phải viết bút bi, bút chì…)
- Cần có quy định cụ thể về thời gian cho học sinh chuyển sang viết
cỡ chữ nhỏ để đảm bảo chất lượng chữ viết khi chuyển sang viết chính tả.Chỉ
nên cho học sinh viết cỡ chữ nhỡ hết học kì I, học kì II nên cho các em chuyển
viết chữ nhỏ và tô chữ hoa từ tuần 19. (Hiện nay học sinh viết cỡ chữ nhỡ đến
hết tuần 24, tuần 25 chuyển ngay sang viết chữ nhỏ. nên nhiều học sinh còn lúng
túng, chữ viết xấu do các em ít có thời gian viết chữ nhỏ trước khi chuyển sang
phần viết chính tả.)
20
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………… …………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………