Công nghiệp hóa – hiện đại hóa của Việt
nam thời kỳ sau đổi mới từ 1986 đến nay
I – Bối cảnh lịch sử
Những năm 1980 là thời kỳ mà cả trong nước và quốc tế đều có nhiều
biến đổi, trong đó có những biến đổi làm đảo ngược cả tư duy con người. Đó
là :
- Sau 10 năm tiếp tục thực hiện chiến lược CNH hướng nội trong
điều kiện đất nước thống nhất, nền kinh tế Việt Nam vẫn nằm trong trạng
thái trì trệ: sản xuất nông nghiệp thấp kém, không đáp ứng được nhu cầu
trong nước; công nghiệp nặng đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp; nhiều mặt
hàng tiêu dùng thiếu trầm trọng; dấu hiệu của suy thoái và khủng hoảng kinh
tế đã dần dần xuất hiện và bộc lộ rõ nét vào cuối những năm 1970 và suốt
nhưng năm tiếp theo. Có thể nói, chưa bao giờ nền kinh tế đất nước lại lâm
vào tính trạng khó khăn như giai đoạn này.
- Xu thế tự do hóa và quốc tế hóa phát triển mạnh, nhất là trên
phương diện thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ cũng đặt Việt
Nam trước những thách thức mới trong quá trình thực hiện CNH, HĐH. Sự
hợp tác với các nước kinh tế phát triển tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam
có được những công nghệ hiện đại, nguồn nguyên liệu bổ sung, kinh nghiệm
công nghiệp hóa… , song cũng đặt Việt Nam trước những cuộc cạnh tranh
gay gắt mà nếu không biết nắm bắt cơ hội và khắc phục khó khăn thì sẽ có
nguy cơ ngày càng tụt hậu xa so với các nước.
- Nhiều nước đã chuyể hướng chiến lược CNH từ thay thế nhập
khẩu sang hướng xuất khẩu và đã đạt được nhiều thành công. Một loạt các
nước công nghiệp mới (NICs) ra đời phản ánh xu thế đúng đắn trong phát
triển toàn cầu. Trong khi đó, cũng thời kỳ này mặc dù đã có bước phát triển
khả quan hơn so với 1976-1980, song chiến lược và chính sách CNH ở nước
ta đã không bắt nhịp được với xu thế thời đại, nặng về hướng nội trong khi
sức mua của thị trường thấp, mag tính tự cung tự cấp. Vì vậy, nền kinh tế trì
trệ, hiệu quả thấp và hàng hóa thiếu sức cạnh tranh.
1
thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Ba chương trình này liên
quan chặt chẽ đến nhau. Phát triển lương thực – thực phẩm và hàng tiêu
dùng là nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho đời sống nhân dân sau mấy
chục năm chiến tranh ác liệt và trong bối cảnh của nền kinh tế còn đang
2
trong tình trạng thiếu hụt hàng hóa nghiêm trọng, góp phần ổn định kinh tế -
xã hội. Xác định thứ tự ưu tiên đó đã cho phép phát huy sức mạnh nội lực và
tranh thủ sức mạnh từ bên ngoài để phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là sự thay đổi trong lựa chọn mô hình chiến lược CNH, chuyển từ
mô hình hướng nội ( thay thế nhập khẩu ) trước đây bằng mô hình hỗn hợp
(hướng về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu).
- Những thành tựu đạt được:
Sự chuyển hướng trên cùng với nhưng thay đổi cơ chế quản lý kinh tế
đã tạo nên nhưng thành tự đáng khích lệ, tạo ra nhưng điều kiện ban đầu
quan trọng để triển khai CN hóa trong nhưng năm tiếp theo. Nhưng thành
tựu cơ bản là :
+ Nền kinh tế có bước phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp.
từ chỗ thiếu lương thực triền miên trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3,
rồi thứ 2 trên thế giới.
Các chỉ tiêu 1986 1990
Tốc độ tăng trưởng kinh tế 2,8 5,1
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp 10,8 2,3
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp 3 1
Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu 13 23,5
(Đơn vị: %)
+ Hình thành một số mặt hàng xuất khẩu cơ bản như gạo, than đá, dầu
mở, lâm hải sản …
+ Cơ cấu kinh tế 1986: 30,1 – 28,9 – 33%
1990: 38,7 – 22,7 – 38,6%
+ Cơ cấu CN: nhóm A chiếm 33,5%/1981-1985 xuống 32,9%/1990
sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thứ ba, cơ cấu thành phần kinh tế. Thực tế sau hơn 4 năm thực hiện
Nghị quyết Đại hội VI, các nghị quyết khoá VI, chúng ta mới chỉ thực sự
“cởi trói” cho sức sản xuất trong nông nghiệp nông thôn phát triển, còn
4
trong ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhất là thương mại dịch vụ
thì hầu như “ dậm chân tại chỗ” khi triển khai xuống cơ sở. Như vậy, đối với
các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể, trong nhận thức chúng
ta vẫn chưa thực sự quán triệt sâu sắc, đầy đủ quan điểm của Đảng về cải
tạo để sử dụng các thành phần kinh tế này trong thời kỳ quá độ đi lên
CNXH ở nước ta.
Đại hội VII ( năm 1991)
Trên cơ sở những thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm đúc rút sau
hơn 4 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, trong đó có việc
xác định, xây dựng lại cơ cấu kinh tế đã tạo cơ sở, niềm tin để Đảng ta xác
định rõ hơn những mục tiêu, phương châm và biện pháp chỉ đạo phát triển
kinh tế- xã hội trong thời gian tới. Đại hội VII của Đảng( 6-1991) nhấn
mạnh, trước mắt cần: “Tập trung mọi nỗ lực giải quyết các vắn đề cấp bách
nhất về kinh tế, xã hội, trên cơ sở đó thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế của
kế hoạch 5 năm 1991- 1995: đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định và
từng bước cải thiện đời sống nhân dân và bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền
kinh tế”.
Đường lối Đại hội VII đã xác định rõ hơn về chính sách CNH:
“Tập trung phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến;
đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; phát triển một số
ngành công nghiệp nặng, trước hết là phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp, hàng tiêu và hàng xuất khẩu, đồng thời tạo cơ sở cho những bước
phát triển tiếp theo”.
Đại hội đã xác định vai trò “ mặt trân hàng đầu” của nông nghiệp, và
Thực hiện đường lối CNH của Đại hội VII, nến kinh tế đã có bước
phát triển cao hơn, có chất lượng hơn, đi vào thực chất hơn so với nhiều năm
trước:
1991 1995
Tốc độ tăng trưởng kinh tế 5,8 9,5
Tương ứng công nghiệp tăng 5,3 15,5
Nông nghiệp tăng 2,2 4,8
Xuất khẩu tăng 13,2 34,4
Tỷ lệ lạm phát 67,5 12,7
(Đơn vị: %)
+ Cơ cấu kinh tế: 1991:40,5 – 23,8 – 35,7%
6
1995: 27,2 – 28,8 – 44%
+ Vốn đầu tư cho công nghiệp giai đoạn 1991 – 1995 chiếm 38,4%
tổng đầu tư xã hội ( 20,8 tỷ đồng).
- Vào đầu năm 1990, hệ thống XHCN theo mô hình cũ đã bị sụp
đổ, kéo theo đó là nhiều thị trường truyền thống của Việt Nam bị mất đi, gây
khó khăn lướn cho nước ta. Tuy vậy, đây cũng là cơ hội để Việt Nam từ bỏ
kiểu CNH cổ điển với quan niệm lỗi thời. Hội nghị giữa nhiệm kỳ của BCH
Trung ương Đảng Khóa VII ( năm 1994) đã quyết định nền kinh tế nước ta
phải “chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bước CNH và
HĐH đất nước, nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc đô
tăng trưởng kinh tế cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân”
Như vậy, Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban chấp hành trung ương khóa VII
đã nhấn mạnh thêm nội dung hiện đại hóa và coi CNH, HĐH là con đường
tất yếu của sự nghiệp đổi mới nhằm đưa nước ta từ một nước nông nghiệp
trờ thành nước công nghiệp.
Đại hội Đảng khóa VIII (năm 1996)
- Trên cơ sở nền kinh tế đã ra khỏi khủng hoảng, đời sống nhân
Cơ cấu kinh tế 1996: 27,8 – 29,7 – 42,5%
2000: 24,3 – 36,6 – 39,1%
- Hạn chế:
Tuy nhiên, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam
đang đứng trước những thách thức của quá trình hội nhập. một trong những
thách thức chính hiện nay là sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo. một
trong những giải pháp quan trọng để khắc phục tồn tại này là phải nâng cao
chất lượng đào tạo ở nhiều cấp bậc, đầu tư cho giáo dục ở khu vực nông
thôn vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần có những biện
pháp hữu hiệu để có thể huy động được những lợi thế của kinh tế tư nhân
Việc thực hiện kinh tế thị trường đã làm tăng khoảng cách giàu nghèo,
tăng ô nhiễm môi trường và các tệ nạn xã hội
8
Nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng chỉ số năng lực cạnh tranh ở mức
thấp, gây lãng phí tài nguyên
Đại hội IX ( năm 2001)
- Khẳng định chiến lược CNH, HĐH ở nước ta lúc này là xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp,
trong đó tập trung mọi nguồn lực để đưa nông nghiệp phát triển lên một trình
độ cao hơn.
Báo cáo chính trị viết: “Tăng cường sự chỉ đạo và nguồn lực cần thiết
để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Tiếp tục phát triển và
đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới … Công
nghiệp vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động vừa đi nhanh vào
một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao”
- Hội nghị BCH TƯ lần thứ năm (2002) đã cụ thể hóa chính sách
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đại hội IX, chỉ rõ mục tiêu tổng
quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là: “Xây dựng một
nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất,
chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa
trình CNH-HĐH trong điều kiện quốc tế và khu vực có nhiều biến đổi. Cùng
với quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, CNH-HĐH còn gắn liền với
việc mở cửa, hội nhập quốc tế và khu vực. Sự hiện diện của các nguồn vốn
nước ngoài, bao gồm các nguồn vốn đầu tư ( vốn ODA, FDI ), công nghệ kĩ
thuật, kĩ năng quản lý và kinh doanh, thị trường tiêu thụ hàng hoá sản phẩm
hàng hoá, dịch vụ... đã chẳng những góp phầnquan trọng vào mức tăng
trưởng GDP mà còn tạo ra sự năng động trong đời sống xã hội vốn trước đây
rất trì trệ.
+ Trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội còn nhiều chuyển biến tích
cực, mức sống của nhân dân tăng lên rõ rệt. Tình hình an ninh chính trị ổn
định,quan hệ đối ngoại được mở rộng, uy tín của Việt Nam trên trường quốc
tế từng bước được nâng lên. Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của
Đảng và quản lý của nhà nước ngày càng được củng cố. Mặt khác, sự thay
10
đổi cơ chế kinh tế đánh dấu sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về con
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được thực tiễn cuộc sống và kết quả
nêu trên kiểm chứng là đúng đắn, công cuộc đổi mới là hợp lòng dân, là
đúng xu thế phát triển kháchquan của thời đại và hoà nhập vào cộng đồng
quốc tế.
2004: 21,8- 40,1 – 38,1%
- Hạn chế:
Nền kinh tế vẫn nằm ở nhóm nước kinh tế đang phát triển. Trong cơ
cấu kinh tế, nông nghiệp vẫn chiếm 76,2% (2002), nền kinh tế vẫn chủ yếu
bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa.Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt
động kém hiệu quả.
Đại hội X
- Quan điểm của Đại hội X - Đảng cộng sản Việt Nam về công
nghiệp hóa
+ Phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng
cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại hoá
hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công
nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh
tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương. Trong việc phát
triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, chúng ta khuyến khích phát triển các
ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần
mềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất
khẩu và thu hút nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu
kinh tế. Khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát
triển mạnh các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất
12