Chính sách thúc đẩy TNCs hỗ trợ doanh nghiệp nội địa phát triển năng lực công nghệ ở Trung Quốc kinh nghiệm và bài học - Pdf 26

MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC HÌNH ii
GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3 CHƢƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6 CHƢƠNG 2:
KHUNG KHỔ LÝ THUYẾT 9 CHƢƠNG 3:
3.1. Các khái niệm cơ bản 9
3.1.1. Khái niệm về công ty xuyên quốc gia – Transnational Corporations
(TNCs) 9
3.1.2. Khái niệm công nghệ và chuyển giao công nghệ 10
3.1.2.1. Khái niệm công nghệ: 10
3.1.2.2. Khái niêm chuyển giao công nghệ: 11
3.2. Vai trò của TNCs đối với phát triển công nghệ ở các nƣớc nhận đầu tƣ 13
3.2.1. TNCs là chủ thể chính trong phát triển công nghệ thế giới 13
3.2.2. Vai trò TNCs với hoạt động chuyển giao công nghệ 15
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19 CHƢƠNG 4:
4.1. Sự phát triển của chính sách chuyển giao công nghệ ở Trung Quốc 20
4.2. Chiến lƣợc của Trung Quốc trong việc thúc đẩy TNCs chuyển giao công nghệ
trong cho doanh nghiệp trong nƣớc 20
4.2.1. Các cải cách thƣơng mại và chiến lƣợc thu hút FDI 21
4.2.2. Các công cụ chính sách của Chiến lƣợc TTEDM 22
4.2.2.1. Các ƣu đãi đối với nhà đầu tƣ: 22
4.2.2.2. Các yêu cầu đối với đầu tƣ 24
4.2.2.3. Chính sách của Trung Quốc về quyền sở hữu trí tuệ 25
4.3. Tác động của chiến lƣợc thúc đẩy TNCs chuyển giao công nghệ cho doanh
nghiệp nội địa Trung Quốc – trƣờng hợp ngành ô tô, điện tử viễn thông 30
4.3.1. Nhập khẩu công nghệ 31
4.3.2. Sự hài lòng của khu vực với hiệu ứng liên kết 32
4.3.3. Những tiến bộ của công nghệ đƣợc chuyển giao bởi TNCs 33
4.3.4. Mở rộng nhanh chóng của công nghệ cao xuất khẩu sản phẩm và sự đóng

Bảng 5: Chi tiêu cho hoạt động R&D của Trung Quốc (Nguồn: OECD) 41 ii

DANH MỤC HÌNH
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trƣởng của xuất khẩu công nghệ (Nguồn: WB) 36
Biểu đồ 2: Tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao (Nguồn: WB) 36
Hộp 1: Cải cách giáo dục ở Trung Quốc 43
Biểu đồ 3: Thƣơng mại công nghệ cao của Trung Quốc (Nguồn: OECD) 45

3

GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1:

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trung Quốc là một quốc gia lớn nắm giữ vai trò quan trọng trong quan hệ kinh
tế thế giới. Việc điều chỉnh chính sách, đặc biệt là chính sách đầu tƣ trực tiếp nƣớc
ngoài, tác động rất lớn đến thu hút dòng vốn và hiệu quả đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
cũng nhƣ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc và các quốc gia khác trên thế giới trong
bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Việt Nam là một quốc gia láng giềng với
Trung Quốc và có mối quan hệ mật thiết không chỉ về chính trị, quân sự mà còn cả về
kinh tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có nhiều điểm tƣơng đồng với Trung Quốc trong
thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Những bài học kinh nghiệm đƣợc tổng kết từ
Trung Quốc là cần thiết với Việt Nam trong quá trình ban hành và thực thi chính sách
thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài.
Với mục tiêu trở thành cƣờng quốc về kinh tế trên thế giới, Trung Quốc rất chú
trọng phát triển công nghệ nền thông qua hoạt động R&D (nghiên cứu và triển khai).
Trong khi đó hoạt động R&D lại do các TNCs (công ty xuyên quốc gia) nắm giữ.
Chính vì vậy, trong điều chỉnh chính sách FDI, Trung Quốc đặc biệt coi trọng việc thu

Nhóm nghiên cứu kết hợp sử dụng các phƣơng pháp: phân tích, tổng hợp, so
sánh, logic để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu gồm các nội dung chính:
Chƣơng 1: Khái quát chung: chƣơng này đề cập đến các khái niệm chung nhất
về công ty xuyên quốc gia TNCs, công nghệ, chuyển giao công nghệ.
5

Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu: chƣơng này đề cập đến phƣơng pháp
đƣợc đề tài sử dụng để nghiên cứu về chính sách của Trung Quốc trong việc thúc đẩy
TNCs chuyển giao công nghệ vào doanh nghiệp nội địa.
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu: chƣơng này đƣa ra các chính sách của Trung
Quốc trong việc thúc đẩy các TNCs chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội địa
và các kết quả đạt đƣợc cùng bài học kinh nghiệm rút ra.
Chƣơng 4: Kết luận

6

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 2:
Nghiên cứu về vấn đề này, có một số công trình trong và ngoài nƣớc đã đề cập,
tiêu biểu có thể kể đến nhƣ:
“Ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế các nước
ASEAN”- Luận án Phó tiến sĩ khoa học Kinh tế của Nguyễn Khắc Thân - Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1991. Luận án tập trung nghiên cứu đặc trƣng cắm
nhánh của TNCs và ảnh hƣởng do sự cắm nhánh của chúng đối với những nền kinh tế
thuộc ASEAN.
“Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển”

Zhang đã nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và chuyển giao công nghệ thông qua các
TNCs vào Trung Quốc. Kết quả cho thấy, sự đóng góp của các MNCs để chuyển giao
công nghệ ở Trung Quốc có vẻ là chủ yếu thông qua tác động gián tiếp (lan tỏa). Trong
tất cả các trƣờng hợp, các thông số cho các hiệu ứng lan tỏa FDI hạn (S) đƣợc mạnh
mẽ tích cực, nhƣ nhiều học giả đã báo cáo (ví dụ, Blomstrom và Sjoholm, 1999). Các
tác động tích cực lớn và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Các Kết quả cho thấy các
ngành công nghiệp Trung Quốc thực sự đƣợc hƣởng lợi từ sự hiện diện của nƣớc ngoài
công ty thông qua trình diễn, đào tạo lao động, chuyển tiếp và liên kết ngƣợc, và cạnh
tranh gia tăng.
Tác giả Xiaoling Huang trong nghiên cứu “Trade and Technology transfer: the
case of automobile, electronic and telecommunication sectors in China” đã chỉ ra các
chính sách mà chính phủ Trung Quốc áp dụng trong quá trình thu hút FDI và thúc đẩy
các doanh nghiệp TNCs tiến hành chuyển giao công nghệ. Với việc hoàn thiện các quy
định về sở hữu trí tuệ và gia nhập WTO, Trung Quốc đã đạt nhiều thành tựu trong
chiến lƣợc thu hút FDI cũng nhƣ khuyến khích các công ty xuyên quốc giao đầu tƣ
công nghệ vào các công ty nội địa. Nghiên cứu này đã chỉ ra nhiều thành tựu mà Trung
Quốc đạt đƣợc. Tuy nhiên, các số liệu đề cập là những số liệu cũ và chƣa đƣợc cập
nhật.
8

Luận văn thạc sỹ của tác giả Xiaoying Qiu “Technology transfer in Chinese
automobile industry” nghiên cứu về quá trình chuyển giao công nghệ trong ngành công
nghiệp ô tô của Trung Quốc. thị trƣờng ô tô của Trung Quốc là một thị trƣờng tiềm
năng, thu hút nhiều hãng ô tô của nƣớc ngoài. Trong khi đó, ngành công nghiệp sản
xuất ô tô của nƣớc này vẫn chƣa phát triển nhƣ mong đợi. Nghiên cứu đã sử dụng dữ
liệu sơ cấp và thứ cấp từ các nghiên cuộc nghiên cứu và phỏng vấn, đánh giá sự phụ
thuộc và khả năng học hỏi của Trung Quốc trong công nghệ sản xuất của ngành này.
Kết quả cho thấy, mặc dù có những chính sách thu hút FDI và khuyến khích chuyển
giao công nghệ, song khả năng học tập và hấp thụ công nghệ của Trung Quốc vẫn còn
nhiều yếu kém. Ngành chế tạo ô tô của Trung Quốc vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào

dụng phổ biến hơn nhằm phản ánh sự lớn mạnh của công ty đã vƣợt khỏi lãnh thổ quốc
gia và có hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều nền kinh tế trên thế giới.
Đầu thập niên1970, khái niệm “công ty đa quốc gia” đƣợc các nhà nghiên cứu
bàn thảo nhiều hơn và trong chừng mực nhất định có ý định phân định khái niệm này
với khái niệm “công ty quốc tế”. Đa số các ý kiến trong giai đoạn này thiên về khái
niệm “công ty đa quốc gia” vì khái niệm này phản ánh đầy đủ hơn những xu thế mới và
thực tiễn phát triển của công ty đa quốc gia. Trong thời kỳ này, cơ cấu tổ chức và hoạt
động của MNE chuyển sang cơ chế phi tập trung, kinh doanh đa ngành của MNE. Quá
trình ra quyết định về các hoạt động của công ty không còn độc quyền từ một chủ sở
hữu ở chính quốc mà ngƣời nƣớc ngoài cũng đƣợc tham gia quản lý, điều hành. Vì vậy
cơ cấu tổ chức và hoạt động của MNE không chỉ mang tính quốc tế mà còn mang đậm
nét đa quốc gia.
10

Gần đây nhất, năm 1998, trong Báo cáo Đầu tƣ thế giới 1998, Hội nghị của Liên
hợp quốc về Thƣơng mại và phát triển đã nêu một định nghĩa về TNC cụ thể hơn:
Công ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn bao gồm
các công ty mẹ là công ty kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng ở nƣớc sở hữu và các
công ty con của chúng ở nhiều nƣớc trên thế giới.Nhƣ vậy, theo các thuật ngữ đã nêu,
bản chất của TNCs và MNEs là giống nhau, đều là những công ty có quy mô lớn về tài
sản, phạm vi hoạt động ở nhiều nƣớc và tìm kiếm lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu. Sự
khác nhau về tên gọi chỉ là sự phản ánh đặc điểm phát triển trong từng thời kỳ tăng
trƣởng của TNCs.
Một TNC là một công ty có quyền lực để phối hợp và quản lý hoạt động tại
nhiều hơn một quốc gia, ngay cả khi công ty này không sở hữu các hoạt động đó"
(Peter Dicken, 1998).
Cấu trúc của một TNC:
+ Công ty mẹ (parent corporation): là công ty kiểm soát tài sản của những thực
thể kinh tế khác ở nƣớc ngoài;
+ Công ty con nƣớc ngoài (Foreign Affiliates): là một doanh nghiệp có tƣ cách

Chuyển giao công nghệ (theo luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam) là
chuyển giao quyền sở hữu hay sử dụng một phần hay toàn bộ công nghệ từ bên có
quyền chuyển giao sang bên nhận. Trong đó:
Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ: là việc chủ sở hữu công nghệ chuyển giao
toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công nghệ cho tổ chức, cá
nhân khác. Trƣờng hợp công nghệ là đối tƣợng đƣợc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải đƣợc thực hiện cùng với việc
chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
12

Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ: tổ chức, cá nhân cho phép tổ chức, cá
nhân khác sử dụng công nghệ của mình.
Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm:
+ Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ.
+ Đƣợc chuyển giao lại hoặc không đƣợc chuyển giao lại quyền sử dụng công
nghệ cho bên thứ ba.
+ Lĩnh vực sử dụng công nghệ.
+ Quyền đƣợc cải tiến công nghệ, quyền đƣợc nhận thông tin cải tiến công nghệ.
+ Độc quyền hoặc không độc quyền phân phối, bán sản phẩm do công nghệ
đƣợc chuyển giao tạo ra.
+ Phạm vi lãnh thổ đƣợc bán sản phẩm do công nghệ đƣợc chuyển giao tạo ra.
+ Các quyền khác liên quan đến công nghệ đƣợc chuyển giao.
Trƣờng hợp công nghệ là đối tƣợng đƣợc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì
việc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ phải đƣợc thực hiện cùng với việc chuyển
giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, hiện nay, chƣa có định nghĩa thống nhất về chuyển giao công nghệ.
Ngay trong hiệp định về sở hữu trí tuệ TRIPS cũng không đƣa ra đƣợc rõ ràng và cụ
thể thế nào là chuyển giao công nghệ. Trong 22 quốc gia cung cấp báo cáo cho hội
đồng TRIPS, chỉ có 5 quốc gia (23%) đƣa ra đƣợc định nghĩa về chuyển giao công
nghệ. Ví dụ, New Zealand đƣa ra định nghĩa trong bản báo cáo cho hội đồng TRIPS về

từ các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học mà còn từ chính các
cơ sở sản xuất của TNCs. Thí dụ Motorola đã thiết lập hệ thống R&D của mình bao
gồm 14 cơ quan tại 7 quốc gia, tập đoàn Bristol Myer Squibb có 12 cơ sở hoạt động
R&D tại 6 quốc gia.
14

Bƣớc chuyển quan trọng trong chính sách hoạt động R&D của công ty đã có
những thay đổi căn bản. Nếu trƣớc đây các công ty đầu tƣ cao cho công tác R&D tại
công ty mẹ thì nay đang thực hiện chính sách phi tập trung hoá do một số lý do sau:
Thứ nhất: tiềm năng về tri thức không chỉ bó hẹp trong một vài công ty hoặc một
nƣớc nào đó. Nhƣ vậy, để tiếp cận với tiềm năng này các công ty phải thiết lập thêm
nhiều cơ sở hoạt động R&D mới. Tại những khu vực đó, các công ty có thể làm giầu
thêm nguồn tri thức bằng việc mở rộng hoạt động R&D, đồng thời tiếp thu thành quả
từ các đối thủ cạnh tranh.
Thứ hai: Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu để chiếm lĩnh thị trƣờng các công ty
buộc phải đƣa sản phẩm ra thị trƣờng càng nhanh càng tốt nên buộc các TNCs phải
thực hiện R&D ở nƣớc ngoài. Ví dụ, hoạt động R&D của Mỹ đối với các chi nhánh ở
nƣớc ngoài tăng rất nhanh. Từ năm 1985 đến 1995 tăng 3-4 lần trong khi doanh số tăng
2,5 lần và lao động tăng 1,7 lần.
Các hoạt động R&D thƣờng tập trung tại những khu vực dồi dào nguồn tri thức.
Ví dụ năm 1994 khoảng 90% các nghiên cứu do các chi nhánh TNCs của Mỹ thực hiện
ở những nƣớc công nghiệp phát triển.Microsoft đã thành lập một phòng nghiên cứu tại
Anh để thuê lao động khoa học với chi phí rẻ hơn.
Bƣớc vào thiên niên kỷ mới, tầm quan trọng của khoa học công nghệ đối với
việc phát triển kinh tế xã hội một lần nữa lại thu hút sự quan tâm đặc biệt của các quốc
gia và các doanh nghiệp. sự thay đổi mau chóng của công nghệ đang tạo ra nền sản
xuất có giá trị gia tăng cao hơn. Trong năm 1985-1998 hàng hoá chế tạo có hàm lƣợng
khoa học cao tăng 21.4%, hàng hoá có hàm lƣợng khoa học công nghệ trung bình tăng
14.3%. Nhƣ vậy, nhờ tiếp thu khoa học công nghệ mà giá trị gia tăng của hàng hoá
xuất khẩu qua chế biến của các nƣớc đang phát triển đạt tỷ lệ tăng trƣởng cao. Muốn có

giao của TNcs thƣờng phân làm nhiều cấp độ, cụ thể nhƣ sau:
+ Thứ nhất: Các công nghệ hiện đại nhất
16

Đối tƣợng chuyển giao công nghệ này thƣờng là các chi nhánh trong nội bộ hệ
thống TNCs tại các nƣớc phát triển. Các chi nhánh này có đủ điều kiện về trình độ
công nghệ, cơ sở vật chất và nhân sự để tiếp thu va khai thác có hiệu quả công nghệ
hiện đại. Mặt khác, mặt bằng công nghệ của đối thủ cạnh tranh tại các nƣớc phát triển
ở mức cao. Do đó, chỉ với công nghệ tiên tiến nhất các TNCs mới có thể chiếm đƣợc
lợi thế cạnh tranh. Với chính sách này, công nghệ mới đƣợc khai thác triệt để nhằm
thiết lập vị trí độc quyền cho toàn bộ hệ thống TNCs trên khắp các thị trƣờng. Đồng
thời công nghệ hiện đại đƣợc kiểm soát chặt chẽ, tránh đƣợc nguy cơ rò rỉ.
Tuy nhiên, loại công nghệ này lại tuỳ thuộc vào việc chi nhánh đó có tham gia
vào hoạt động R&D hay không. Nếu các chi nhánh không tham gia hoạt động R&D thì
công nghệ đƣợc chuyển giao chỉ liên quan đến hoạt động sản xuất và một số hoạt động
khác nhƣ marketing, tổ chức…Nếu chi nhánh có tham gia hoạt động R&D ở mức độ
tích hợp hoá sản phẩm với thị trƣờng địa phƣơng thì công nghệ đƣợc chuyển giao dƣới
dạng các thông số kỹ thuật tức là các chỉ dẫn cụ thể cho việc đƣa sản phẩm vào thị
trƣờng cụ thể. Nếu chi nhánh thực hiện hoạt động R&D với tƣ cách là một bộ phận cấu
thành của mạng lƣới R&D toàn cầu của TNCs thì công nghệ đƣợc chuyển giao là
những công nghệ thiết yếu với đặc trƣng của hoạt động chuyển giao là sự trao đổi
thông tin hai chiều.
+ Thứ hai: Công nghệ hạng hai.
Những công nghệ hạng hai không còn mới, không còn đem lại lợi thế cạnh tranh
cho các TNCs thƣờng đƣợc chuyển giao cho các công ty liên doanh hoặc các công ty
nằm ngoài hệ thống TNCs tại các nƣớc đang phát triển. Lý do mà các TNCs chuyển
giao công nghệ hạng hai này cho các nƣớc đang phát triển không chỉ bắt nguồn từ
chiến lƣợc của TNCs trong việc khai thác lợi ích của công nghệ mà còn vì các công
nghệ đó phù hợp với khả năng tài chính và trình độ của các nƣớc này. Ngay cả khi các
TNCs có công nghệ hiện đại để chuyển giao thì nhiều nƣớc đang phát triển này cũng

18

hàng không, vũ trụ… Mức độ rủi ro cao, chi phí cho hoạt động R&D lớn khiến các
TNCs đơn lẻ khó có thể thực hiện đƣợc. Do đó, chúng đã thiết lập quan hệ hợp tác với
các công ty nằm ngoài hệ thống sản xuất của mình để nghiên cứu, triển khai và chuyển
giao công nghệ. Có thể lấy liên minh IBM với các TNCs khác trong việc phát triển
máy tính cá nhân: trong liên minh đó, công ty Lotus Corporation cung cấp phần mềm
ứng dụng, Microsoft thiết kế hệ thống điều hành cho bộ vi xử lý còn Intel thực hiện
hoạt động sản xuất. Hitachi của Nhật Bản đã liên minh với Golstar của Hàn
Quốc…Trong một liên minh nhƣ vậy sự phối hợp các công nghệ đặc trƣng của từng
TNCs đã tạo ra những sản phẩm có chất lƣợng và khả năng cạnh tranh rất cao. Cũng
chính qua đó mà các TNCs đã chuyển giao công nghệ cho nhau.
Có thể nói liên minh liên kết công nghệ là kênh chuyển giao của những công
nghệ cao giữa các TNCs có đẳng cấp tƣơng đồng. Đây cũng là kênh chuyển giao rất an
toàn, đảm bảo sự bảo vệ của một tập thể các TNCs trong liên minh.
Ngoài các kênh chuyển giao công nghệ trên còn có một số kênh không chính
thức chẳng hạn do rò rỉ thông tin từ việc thuyên chuyển nhân sự (những ngƣời đã đƣợc
đào tại tại các TNCs có công nghệ cao chuyển sang làm cho các đối thủ cạnh tranh,
chuyển từ các công ty có vốn nƣớc ngoài sang công ty trong nƣớc hay tự thành lập
công ty riêng…)
Nhƣ vậy TNCs đóng vai trò rất to lớn trong việc phát triển kinh tế thế giới thông
qua việc phát triển công nghệ. Thông qua hoạt động sản xuất, thƣơng mại các TNCs đã
không ngừng có những phát minh, sáng chế và phổ biến những kinh nghiệm về quản
lý, các ý tƣởng mới, và các sáng tạo khác trên phạm vi toàn cầu. Có thể nói tính sáng
tạo là đặc trƣng riêng của TNCs mà không tổ chức nào có đƣợc. Tuy nhiên, quá trình
chuyển giao công nghệ thƣờng đi kèm với quá trình độc quyền hoá. Do đó, các nƣớc
đang phát triển trong quá trình tiếp nhận TNCs cần nhận thức rõ vai trò của TNCs đồng
thời có những đối sách thích hợp để vừa phát huy tối đa tác dụng tích cực của TNCs
đối với nền kinh tế vừa hạn chế sự kìm hãm của chúng.


20

nghệ thông qua cả thƣơng mại và FDI, và dự định sẽ xây dựng tại địa phƣơng về công
nghệ khả năng để nâng khả năng hấp thụ và phổ biến công nghệ trong phạm vi cả
nƣớc.
4.1. Sự phát triển của chính sách chuyển giao công nghệ ở Trung Quốc
Trƣớc năm 1978, khi Trung Quốc chƣa thực hiện chính sách mở cửa với nguồn
vốn FDI, kênh chính phục vụ chuyển giao công nghệ từ nƣớc ngoài đƣợc thông qua
việc nhập khẩu các dự án, dây chuyền lắp ráp từ nƣớc ngoài mà chủ yếu là mua từ Liên
Xô cũ trong những năm 1950, từ Tây Âu và Nhật bản trong những năm 1960 và 1970.
Từ những năm 1980, Trung Quốc thực thi chính sách mở cửa và FDI dần dần trở
thành kênh chủ đạo của quá trình chuyển giao công nghệ. So với công nghệ chuyển từ
thị trƣờng một cánh tay, đƣợc gọi là công nghệ ra ngoài chuyển giao, hợp đồng chuyển
giao công nghệ vào nội bộ thông qua FDI của TNCs có một số lợi thế:
- Thứ nhất, nó có thể tránh đƣợc những hạn chế của sự khan hiếm ngoại hối.
- Thứ hai, chuyển giao công nghệ vào nội địa tốt hơn so với việc cung cấp kỹ
thuật ngầm.
- Thứ ba, công nghệ nhất định, đặc biệt là công nghệ mới, có thể chỉ đạt đƣợc
thông qua việc chủ sở hữu công nghệ bán các công nghệ đó theo các thỏa thuận mà họ
có thể có kiểm soát chặt chẽ hơn những công nghệ đƣợc bán ra.
Nhận thức đƣợc lợi ích của FDI và phải đối mặt với sự thật rằng Trung Quốc
vẫn khan hiếm tài nguyên ngoại hối trong suốt những năm 1980, và thực tế là phần lớn
các công nghệ áp dụng trên toàn ngành công nghiệp ở Trung Quốc đã quá lỗi thời và
cần mở rộng nâng cấp, vào cuối năm 1980, chính phủ Trung Quốc đã thông qua chiến
lƣợc "khuyến khích TNCs chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội địa". Nó
khuyến khích chuyển giao công nghệ tiên tiến từ các TNC, bằng cách trao đổi các điều
kiện có lợi cho họ khi tham gia vào thị trƣờng trong Trung Quốc.
4.2. Chiến lƣợc của Trung Quốc trong việc thúc đẩy TNCs chuyển giao công
nghệ trong cho doanh nghiệp trong nƣớc
21


công ty mẹ, khi công nghệ của công ty mẹ thay đổi, các công ty con cũng đƣợc cập
nhật nhanh chóng.
Thứ hai, mặc dù chuyển giao công nghệ vào trong doanh nghiệp trong nƣớc
không có thể dẫn đến việc nâng cấp công nghệ ngay lập tức nhƣng bằng việc tham gia
vào mạng lƣới sản xuất của các TNCs, doanh nghiệp trong nƣớc có thể phát triển năng
lực trên diện rộng và tăng cƣờng sƣc mạnh công nghiệp địa phƣơng. Sự lan truyền
công nghệ vào các nền kinh tế địa phƣơng có thể lớn hơn nhƣ một hệ quả của tác động
này.
Thứ ba, khi tiến hành chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa, các
TNCs có cơ hội tiếp cận thị trƣờng nội địa rộng lớn của Trung Quốc và có thể giành
đƣợc thị phần lớn hơn trong thị trƣờng khổng lồ này.
4.2.2. Các công cụ chính sách của Chiến lƣợc TTEDM
Các công cụ chính sách của chiến lƣợc thúc đẩy các TNCs chuyển giao công
nghệ cho doanh nghiệp trong nƣớc bao gồm một số chính sách chủ yếu:
4.2.2.1. Các ƣu đãi đối với nhà đầu tƣ:
Ưu đãi trực tiếp theo hướng công nghệ cao bao gồm FDI ưu đãi về thuế và các
đặc quyền. Ƣu đãi thuế chủ yếu là trong các hình thức giảm thuế thu nhập doanh
nghiệp và giảm thuế, miễn thuế hải quan, miễn giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) cho
nhập khẩu. Ngoài việc giảm thuế và miễn thuế thƣờng đƣợc cấp cho FFEs (Foreign
Funder Enterprises), công ty nƣớc ngoài giới thiệu công nghệ tiên tiến đƣợc cho thêm
ƣu đã về thuế suất và thời hạn miễn thuế, đƣợc phép bán sản phẩm của mình đến địa
phƣơng ngƣời sử dụng thông qua một chƣơng trình thay thế nhập khẩu, và đƣợc tiếp
cận tốt hơn với các khoản vay ngân hàng và các nguồn lực địa phƣơng. Tiền bản quyền
đƣợc nhận bởi FFEs trong việc cung cấp công nghệ đƣợc trích thuế suất thấp hơn.
Thiết bị nhập khẩu nhƣ là một phần không thể thiếu của chuyển giao công nghệ thỏa
thuận đƣợc miễn thuế VAT và hải quan. Ngoài ra, Trung Quốc còn có các ƣu đãi về
23

thuế, bao gồm cả khấu hao nhanh các khoản đầu tƣ vào các cơ sở R&D và giảm thuế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status