SKKN PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH - Pdf 26

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC HỌC TẬP CỦA HỌC
SINH
I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự
phồn vinh của đất nước.Giáo dục (GD) cung cấp những hiểu biết về kho
tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những
hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục
còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh
(HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền
móng để các em học tiếp các bậc học cao hơn.
Vậy để GD có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng
dạy chúng ta cần biết lựa chọn phương pháp dạy tối ưu nhất, phù hợp với
phương pháp đổi mới, phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học.
Song để đi đến thành công, GD đòi hỏi mọi người phải biết và không
ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư
thích đáng vào công việc của mình. Đây là một công việc vừa mang tính
GD vừa mang tính nghệ thuật. Do đó Đảng và Nhà nước ta đã ghi rõ ở
Nghị quyết TW II là “Nâng cao chất lượng toàn diện ở Tiểu học”. Bộ GD
đã đề ra yêu cầu của việc dạy học hiện đại là tăng cường hoạt động tích
cực, độc lập, sáng tạo của học sinh. Đổi mới về phương pháp dạy học ở
tất cả các môn học thông qua việc đổi mới chương trình và sách giáo
khoa từ lớp 1 đến lớp 5 .Đó là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng
GD của nhà trường tiểu học ở trong tình hình hiện nay.
II.PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
-Trong năm học này, tôi đã làm công tác giảng dạy và tiến hành
nghiên cứu 32 em học sinh, bên cạnh đó tôi còn học hỏi kinh nghiệm của
một số anh chị em đồng nghiệp.
- Cụ thể tình hình lớp như sau:
+ Lớp 3A3,Tổng số học sinh: 32 em .Trong đó: 15 nữ ; 3 học sinh
dân tộc; 1 học sinh nữ dân tộc .
- Phần lớn các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, một số bố mẹ

3 .Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:
Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút
kinh nghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác,
độc lập của học sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt
tập thể và hoạt động ngoại khoá, từ đó rút ra bài học và nêu được những
biện pháp khắc phục và đề xuất.
5.Phương pháp đàm thoại:
Với học sinh tiểu học, phương pháp đàm thoại trò chuyện là một hình
thức tốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em, đồng thời thăm hỏi trò
chuyện với một số phụ huynh học sinh.Qua đó chúng ta có thể biết tâm
sự, tình cảm, nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc
học ở nhà của các em như thế nào? Để từ đó, giáo viên có phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm làm cho người dạy đạt kết
quả tốt nhất.
6.Phương pháp thống kê, tính toán:
Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập
được, tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính
toán các số liệu cần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh
thời gian sau so với thời gian trước như thế nào?
Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương
pháp khác nữa trong quá trình nghiên cứu.

V.NỘI DUNG:
1.Tình trạng của vấn đề đặt ra và sự cần thiết để tiến hành thực hiện đề
tài:
a.Tình trạng chung: Hiện nay trình độ dân trí của nước ta nói chung và
dân trí ở các vùng nông thôn và miền núi nói riêng đang còn rất thấp so
với các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới.Vậy làm thế nào
để giải quyết vấn đề đó? Để nâng cao trình độ nhận thức của người dân
thì những người đứng trong ngành giáo dục phải có trách nhiệm khá nặng

liệu chương trình và tổ chức công tác học tập của học sinh với sự căng
thẳng trí tuệ “bên trong” của các em mới tạo được cơ sở của sự học tập có
hiệu quả. Tính tích cực nhận thức của bản thân các em càng cao thì sự cân
bằng năng lượng sinh hoá cơ sở tư duy sẽ càng phong phú và những kiến
thức được lĩnh hội càng sâu sắc, đầy đủ hơn và vững chắc hơn.
3.Các giải pháp:
Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng
thú
học tập cho học sinh thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều.Trước
hết đòi hỏi người giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu
nghề, mến trẻ tức là phải có năng lực sư phạm.
Vậy thế nào được gọi là năng lực sư phạm? Năng lực sư phạm là
những đặc điểm tâm lí mà nó giúp cho giáo viên hoạt động có hiệu quả,
năng lực sư phạm gồm:
*Năng lực khoa học
*Năng lực hiểu học sinh
*Năng lực ngôn ngữ
*Năng lực tổ chức
*Năng lực phân phối chú ý
*Năng lực trình bày bài giảng
*Óc tưởng tượng sư phạm
Ngoài ra GV muốn phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học
sinh thì cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thích
hợp. Hiện nay, để tiến kịp với thời đại thì cần thay đổi một số phương
pháp để phát huy tính tích cực của học sinh để phù hợp với từng nội dung
môn học, từng đối tượng và trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng linh
hoạt các phương pháp sau để phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của
học sinh trong học tập,cụ thể là:
1.Phương pháp thuyết minh. 9.Phương pháp trò chơi học tập.
2.Phương pháp đàm thoại. 10.Phương pháp quan sát.

một đề tài.
- Ôn tập tổng kết sau một bài hay một chương.
- Thực hiện một bài tập hay một nhiệm vụ học tập.
- Tiến hành một thí nghiệm hay một trò chơi học tập.
- Xây dựng một phương án hay một kế hoạch.
* Dạy học theo lớp: Là một hình thức dạy học cơ bản, khá phổ biến
trong dạy học lấy GV làm trung tâm.Trong dạy học lấy HS làm trung
tâm, để xuất hiện nhiều hình thức dạy học phù hợp với các PPDH đề cao
vai trò hoạt động nhận thức của học sinh. Dạy học theo lớp tuy có nhiều
tác dụng tích cực, nhưng không diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong
một thời gian ngắn, vào những lúc thích hợp của tiết học như vào đầu,
giữa và cuối tiết học.
*Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngoài
hiện trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn
nuôi, nhà bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hoá hoặc rừng, sông ,hồ, thác
nước
Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh.
Học sinh có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được
học trong lớp nên lĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn.Liên hệ
thực tế với bài học HS phát triển kĩ năng quan sát,so sánh, óc tò mò, trí
tưởng tượng, bồi dưỡng hứng thú học tập, tăng cường sự hiểu biết.
*Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được
trong mọi lứa tuổi. Trò chơi giúp các em phát triển.Vì vậy tổ chức trò
chơi chú ý những đặc tính: Vui - Khoẻ - An toàn - Có ích; trong đó bao
gồm cả giải trí, thư giản được xem là một yếu tố cơ bản của trò chơi.
Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh,
có hai đặc điểm cơ bản sau:
+ Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng
tâm của bài học, đó là nội dung chính của bài học.
+ Mang đầy đủ tính chất của một trò chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây

GV phải là người mẫu mực, là tấm gương, là thần tượng của các em.

4.Cách giải quyết có hiệu quả:
a. Đối với việc học ở nhà:
- Cho học sinh lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ
thể
gắn liền với thời gian cụ thể.
- Tổ chức họp phụ huynh từng kì để trao đổi vấn đề học tập của các
em cho phụ huynh biết rõ đồng thời thông qua hội cha mẹ học sinh, kết
hợp với cha mẹ học sinh để thăm dò quản lí việc học tập của các em.
- Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá
biệt,
những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thông tin
thường xuyên giữa gia đình và giáo viên chủ nhiệm.
b.Đối với việc học ở lớp:
- Mượn thư viện của trường: Sách,đồ dùng học tập cho những học sinh
còn thiếu.
- Duy trì nề nếp kiểm tra bài cũ, chữa bài tập thường xuyên với hình
thức giáo viên hoặc cán sự lớp theo dõi kiểm tra.
- Kiểm tra thường xuyên về tinh thần, ý thức chuẩn bị DDHT của các
em thông qua tổ trưởng, lớp trưởng.
- Có hình thức nhắc nhở , khen thưởng cụ thể, kịp thời và hợp lí. Động
viên, khuyến khích kịp thời những em chăm học và nhắc nhở những em
lười học và không chú ý trong giờ học.
- Câu hỏi kiểm tra ngắn gọn, sát nội dung bài học và phù hợp với ba
đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình để học sinh nắm bài được tốt.
- Thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động và thảo luận theo
nhóm, tổ chức trò chơi hoặc sắm vai tuỳ theo môn học, bài học.
- Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu gương và thi đua giữa các
tổ, nhóm hoặc giữa các cá nhân

tập trả lời các câu hỏi trên giấy nháp trước.
+ Đối với phân môn Luyện từ và câu : Yêu cầu HS đọc đọc phần bài
tập và chuẩn bị bài trước ở nhà.
- Khi dạy bài mới: GV sử dụng triệt để các ĐDDH có liên quan đến
bài học, sử dụng phương pháp: Trực quan; đàm thoại; giảng giải; hỏi đáp;
thực hành; phân tích; tổng hợp; tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm và
hoạt động sắm vai
Đặc biệt phương pháp trực quan, hoạt động nhóm và hoạt động sắm
vai giúp cho HS có hứng thú học tập và giúp cho học sinh học sôi đông
hơn. Từ đó tăng hiệu quả giờ học, còn phương pháp thực hành thì giúp
các em biết vận dụng kiến thức vào thực tế và củng cố kiến thức cho các
em.Tạo hứng thú cho các em bằng phương pháp nêu gương, thi đua giữa
các cá nhân, giữa các nhóm, tổ qua các trò chơi học tập
5.Kết quả áp dụng đề tài :
Ở trường Tiểu học hiện nay nói chung và lớp tôi đang nghiên cứu nói
riêng, với PPDH mới kết hợp với hình thức tổ chức dạy học mới (Dạy
học cá nhân, theo nhóm, theo lớp, dạy học ngoài trời, tham quan, trò chơi
học tập ) đã làm cho HS học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và
sáng tạo.Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong
lớp . Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng
say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, HS hứng thú, tiếp thu kiến
thức nhanh chóng, DH theo hướng đổi mới sẽ huy động được năng lực,
nghệ thuật sư phạm của GV. Thực tế cho thấy rằng người GV không chỉ
cung cấp cho HS những tri thức, kĩ năng cần thiết mà còn truyền đến cho
các em cả lương tâm, tình cảm và trách nhiệm của chính mình.
VI. PHẦN TỔNG KẾT:
1. Bài học kinh nghiệm:
Qua những lần đi tìm hiểu thực tế hoàn cảnh gia đình HS và đặc biệt là
những giờ lên lớp giảng dạy. Bản thân tôi đã rút ra cho mình những bài
học bổ ích.

một cách dễ dàng.Đồng thời khai thác nội dung để phát huy tính sáng tạo
của HS khá ,giỏi.
b.Về công tác chủ nhiệm:
GV chủ nhiệm có một vai trò hết sức quan trọng, GV chủ nhiệm
thường là người dạy chủ yếu của lớp, đồng thời tổ chức lãnh đạo, điều
hành, kiểm tra đánh giá mọi hoạt động và mối quan hệ ứng xử trong
phạm vi lớp mình phụ trách, nhằm hình thành nhân cách của HS. Với vai
trò, vị trí như vậy GV chủ nhiệm còn là cầu nối liền giữa nhà trường với
đời sống xã hội.
Để trở thành người GVCN giỏi thì ngoài những công việc trên, người
GV phải rèn cho mình những năng lực sau :
- Phải quan tâm chăm sóc, gần gũi với học sinh, yêu thương học sinh.
- Phải xây dựng nề nếp học tập tốt, có quy định về nội quy của lớp.
- Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các em thực hiện tốt nội quy, nề
nếp của trường, lớp.
- Xây dựng và phát triển quan hệ, kết hợp với lực lượng giáo dục trong

ngoài nhà trường theo phương châm xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu
giáo dục học sinh.
Thông thường trẻ ở Tiểu học tin tưởng tuyệt đối vào GV, đặc biệt là
GVCN. Do đó phẩm chất và năng lực của GVCN là nhân tố hết sức quan
trọng đối với việc đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung.

2.Kiến nghị đề xuất:
a. Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:
- Cung cấp kịp thời việc đổi mới phương pháp hoạt động.
- Nên duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác
dạy học.
b. Đối với nhà trường:
- Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status