tranh chấp lao động tập thể và giải quyết tranh chấp lao động tập thể - Pdf 26

Bài tập học kì môn Luật lao động Hoàng Văn Bắc – QT 33B 029
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 10 năm thực hiện Bộ luật lao động, cùng với đó là việc Nhà nước thừa nhận
quyền đình công của những người lao động, đã có hàng ngàn vụ tranh chấp lao động và
gần 1500 cuộc đình công xảy ra trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Con số này chắc chắn sẽ
khiến nhiều người giật mình bởi trong tiềm thức của không ít người, tranh chấp lao động
và đình công vẫn luôn bị coi là “mặt trái” của nền kinh tế thị trường và để lại những hậu
quả bất ổn về chính trị, kinh tế, xã hội. Đáng ngại hơn là với số lượng lớn các cuộc đình
công đã và đang xảy ra, không có một cuộc đình công nào hợp pháp, cũng như không có
một cuộc đình công nào được giải quyết theo đúng thủ tục luật định.
Nguyên nhân của vấn đề này nằm ở đâu? Do ý thức chấp hành pháp luật kém của
các bên trong quan hệ lao động? Hay do bản thân các quy định về giải quyết tranh chấp lao
động và đình công còn nhiều bất cập và phải được xem xét lại? Nhằm tìm hiểu vấn đề này
dưới góc độ đánh giá tính khả thi của hệ thống pháp luật hiện hành về TCLĐ, trong phạm
vi bài viết này cá nhân em đưa ra quan điểm về quy định của BLLĐ hiện hành về TCLĐ
và giải quyết TCLĐ, qua đó đi vào giải quyết tình huống cụ thể để hiểu rõ hơn về vấn đề
này.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I/ Ý kiến cá nhân về các quy định của Bộ luật lao động về tranh chấp lao động tập thể
và giải quyết tranh chấp lao động tập thể .
1/ Nhận xét quy định của BLLĐ về tranh chấp lao động tập thể.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ năm 2006 đã đưa ra khái niệm tranh
chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể về quyền, tranh chấp lao động tập thể
về lợi ích và khái niệm đình công. Vấn đề là với cách định nghĩa TCLĐTT (tại Điều 157)
như trong Luật sửa đổi lần này, trong thực tế có thể phân biệt TCLĐ cá nhân và TCLĐTT
được hay chưa? Theo quy định của pháp luật lao động, đây là hai loại tranh chấp có thủ tục
giải quyết rất khác nhau. Nếu không có sự phân biệt chính xác ngay từ thời điểm nhận
dạng tranh chấp lao động, rất có thể dẫn đến sự rắc rối khi xác định cơ quan có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp cũng như thủ tục tố tụng tiếp theo.
1
Bài tập học kì môn Luật lao động Hoàng Văn Bắc – QT 33B 029

TCLĐTT ở những trường hợp phổ biến, thường gặp trong thực tiễn. Đối với những trường
hợp tương đối cá biệt, có thể vận dụng linh hoạt các quy định của pháp luật trong từng tình
huống cụ thể.
2/ Nhận xét quy định của BLLĐ về giải quyết tranh chấp lao động tập thể.
Mặc dù đã có nhiều ý kiến đề nghị xem xét lại thủ tục giải quyết TCLĐ tại Hội
đồng hoà giải lao động cơ sở trong quá trình lấy ý kiến xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của BLLĐ năm 2006. Nhưng cuối cùng, khi thông qua Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của BLLĐ vẫn không thay đổi về thủ tục hoà giải tại cấp cơ sở.
Theo em, việc giữ nguyên các quy định về hoà giải tại Hội đồng hoà giải lao động
cơ sở như hiện nay sẽ phát sinh những rắc rối khi một trong hai bên hoặc cả hai bên không
tự giác thi hành thoả thuận trong Biên bản hoà giải thành. Khi đó, tranh chấp lao động sẽ
rơi vào bế tắc do không thể tìm ra cách giải quyết vì Biên bản hoà giải thành không được
đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành. Nên chăng, có thể cho phép các chủ thể
có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận Biên bản hoà giải thành. Nhờ đó, biên bản
này sẽ được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Có như vậy mới
tránh được những trường hợp rắc rối nêu trên.
Điều này cũng xảy ra tương tự với biên bản hoà giải thành do HĐTTLĐ tỉnh xác lập
khi giải quyết các TCLĐTT về lợi ích . Giả định, sau khi đã có biên bản hoà giải thành của
HĐTTLĐ cấp tỉnh về việc giải quyết TCLĐTT về lợi ích nhưng sau đó các bên không
đồng ý với biên bản đó, hoặc một trong hai bên tranh chấp cố ý không thực hiện thoả thuận
trong biên bản hoà giải thành thì phải giải quyết TCTT đó như thế nào?
Đối với tập thể lao động, họ có thể tìm đến phương án đình công. Nhưng đối với
NSDLD thì không còn cách nào khác. Giải pháp duy nhất mà NSDLD có thể lựa chọn khi
không tán thành với biên bản hoà giải thành tại HĐTTLĐ cấp tỉnh là không thực hiện. Lúc
này, vấn đề được đặt ra là làm thế nào để đảm bảo tính cưỡng chế thi hành của biên bản
hoà giải thành được xác lập tại Hội đồng trọng tài lao động tỉnh khi các bên không tiếp tục
có quyền khởi kiện ra Toà án.
3
Bài tập học kì môn Luật lao động Hoàng Văn Bắc – QT 33B 029
Theo em, giải pháp cho tình trạng này cũng là cho phép các bên có quyền khởi kiện

kiểm tra và yêu cầu công ty phải khắc phục sai sót này.
 Khẳng định : Kết luận và yêu cầu của Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và xã
hội thành phố H đối với công ty X là đúng. Sở dĩ như vậy vì:
Thứ nhất: Theo Điều 27 BLLĐ được sửa đổi, bổ sung :
“1 - Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác
địnhthời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn.
Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn,
thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến36
tháng;
c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới
12tháng.
3 - Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
mà thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng
trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ
theo chế độ thai sản hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác .”
Công việc là nhân viên Phòng hành chính - Nhân sự là loại công việc có tính chất
thường xuyên liên tục trong khoảng thời gian công ty hoạt động, theo khoản 3 Điều 27
Luật số 35/2002/QH10 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động, thì với
loại công việc này không được phép giao kết loại hợp đồng theo mùa vụ hoặc công việc
nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà phải giao kết loại hợp đồng xác định thời hạn theo
điểm b, khoản 1, Điều 27 sửa đổi mà thời hạn tối thiểu đối với loại hợp đồng này là đủ 12
tháng. Thực tế, công ty đã giao kết loại hợp đồng với thời hạn 6 tháng - loại hợp đồng quy
định tại điểm c, khoản 1, điều 27 sửa đổi. Như vậy, rõ ràng công ty đã xác định sai loại
hợp đồng .
5
Bài tập học kì môn Luật lao động Hoàng Văn Bắc – QT 33B 029
Thứ hai: Căn cứ vào những tình tiết trong đề bài có thể thấy, việc giao kết hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status