SKKN Đọc hiểu văn bản nghị luận trong trường phổ thông theo đặc trưng thể loại - Pdf 26

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm
1.1. Chương trình Ngữ Văn đến nay đã trải qua 9 năm thực hiện đổi mới
sách giáo khoa của Bộ Giáo dục Đào tạo. Bên cạnh việc lựa chọn các tác phẩm văn
học mang tính hình tượng, sử dụng hư cấu với một số thể loại chính như: thơ,
truyện, tiểu thuyết (gọi chung là văn bản nghệ thuật) là việc sử dụng tác phẩm văn
học không hư cấu được viết bằng nhiều thể loại khác nhau theo mỗi giai đoạn như:
nghị luận, sử kí, văn tế, phú, dân ca lịch sử,…Nếu như chương trình sách giáo
khoa trước đây ít chú ý thể loại văn nghị luận (đọc văn nghị luận) thì chương trình
mới xuất hiện khá nhiều loại này.
1.2. Chương trình sách giáo khoa trước đây trình bày các văn bản văn học
theo tiến trình lịch sử, nặng về văn học sử, minh họa cho văn học sử. Chương trình
sách giáo khoa Ngữ văn mới lựa chọn văn bản tác phẩm theo thể loại và tổ chức
dạy học theo đặc trưng thể loại. Các văn bản nghị luận, do đó, cũng đựơc trình bày
theo trục thể loại này. Vì vậy, nắm được đặc trưng của thể loại nghị luận và các
phương pháp dạy học văn nghị luận phù hợp là yêu cầu tất yếu.
1.3. Mục đích của văn bản nghị luận: phát ngôn cho một tư tưởng, một quan
điểm, một chủ trương, một lập trường xã hội nhất định. Đặc điểm: khô khan, ít phù
hợp với tâm lí và nhận thức của học sinh; ít tính văn chương, khó đi vào cảm xúc
của người đọc; ý tưởng thâm thuý khó nắm bắt,…; nguồn tư liệu bổ trợ khan hiếm.
1.4. Thực tế giảng dạy cũng cho thấy nghị luận là thể loại có nhiều văn bản
đang được dạy trong nhà trường THPT. Tuy nhiên, trong thực tế có không ít giáo
viên tiến hành những giờ dạy văn bản nghị luận khô khan, ít kích thích hứng thú
cho học sinh. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do họ chưa nắm thật chắc
đặc trưng của thể loại nghị luận kéo theo việc không có phương pháp dạy phù hợp.
Do vậy, như một tất yếu, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giáo dục trí
tuệ, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh. Cũng do đó, giáo viên và học sinh sẽ không
có cái nhìn đầy đủ về nền văn học Việt Nam.
3
Từ thực tiễn ấy, với yêu cầu giảng dạy theo hướng phát triển năng lực, tích
cực hóa vai trò của học sinh, tôi quyết định chọn sáng kiến kinh nghiệm “Đọc hiểu

tr, xó hi, trit hc, vn hoỏ. Mc ớch ca vn chớnh lun l bn bc, tho lun,
phờ bỡnh hay truyn bỏ tc thi mt t tng, mt quan im no ú. c trng c
bn nht ca vn chớnh lun l tớnh cht lun thuyt. Vn chớnh lun trỡnh by t
tng v thuyt phc ngi c ch yu bng lp lun, lớ l.
Núi túm li, vn ngh lun l mt th loi nhm phỏt biu t tng, tỡnh cm,
thỏi , quan im ca ngi vit mt cỏch trc tip v cỏc vn vn hc, chớnh
5
trị, đạo đức, lối sống và được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng
hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục Do đó văn bản
nghị luận sẽ bào hàm những đặc trưng cở bản trong quá trình đọc - hiểu.
Phân loại văn nghị luận căn cứ vào nội dung, người ta có thể xếp những bài
văn nghị luận ra làm hai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Trong đó,
nghị luận văn học là những bài nghị luận về một vấn đề văn học nào đó: một chi
tiết, một hình ảnh nghệ thuật; một tác giả, một tác phẩm; một vấn đề lí luận văn
học còn nghị luận xã hội (ta thường gọi là văn chính luận) là những bài nghị luận
về một vấn đề chính trị, đạo đức, lối sống nào đó. Căn cứ vào các giai đoạn văn
học, người ta chia thành ba loại: nghị luận dân gian, nghị luận trung đại, nghị luận
hiện đại. Tất nhiên, vì ở những giai đoạn lịch sử cụ thể khác nhau mà ba loại văn
nghị luận này sẽ có hình thức biểu đạt, mục đích biểu đạt khác nhau, song chúng
đều giống nhau là ở chỗ là cùng sử dụng phương thức nghị luận, tức là trong văn
bản của mỗi loại này đều có tính tranh biện, tranh luận đúng sai về một vấn đề.
Nội dung và cấu trúc của một văn bản nghị luận được hình thành từ các yếu
tố cơ bản là: Vấn đề cần nghị luận (còn gọi là luận đề), luận điểm, luận cứ và lập
luận (còn gọi là luận chứng). Như vậy, do văn nghị luận trình bày tư tưởng và
thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lí lẽ và lập luận nên hệ thống các luận điểm
hết sức chặt chẽ và luận cứ cũng phải xác đáng. Cho nên khi dạy loại văn bản này,
người dạy nhất thiết bao giờ cũng phải khai thác hệ thống luận điểm, luận cứ và
cách lập luận của văn bản. Tuy nhiên nếu chỉ đơn thuần khai thác các hệ thống
luận điểm như lâu nay chúng ta vẫn làm thì bài học trở nên khô khan, khó gợi được
hứng thú tích cực cho học sinh. Hơn nữa theo tinh thần đổi mới toàn diện của Bộ

có thích học nhưng chưa thật sự hiểu 10,25%
không hiểu gì, không thích học. 14,51%
Kết quả trên cho thấy, phần đa học sinh không thích học văn bản thuộc thể
loại nghị luận. Tuy nhiên, có đến 75,24% học sinh nhận ra ý nghĩa của văn bản
nghị luận, nghĩa là nguyên nhân các em không thích học các văn bản này là do
chưa thực sự hứng thú với giờ học mà thôi.
7
Từ thực trạng trên, cộng với kinh nghiệm giảng dạy cá nhân, tôi nhận thấy
trong dạy và học văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn còn tồn tại những
nhược điểm sau:
2.2. Phía người dạy:
Với tâm lý giờ dạy văn bản nghị luận học sinh ít hứng thú, nên giáo viên
chưa coi trọng, chưa đầu tư vào giờ dạy nên chưa tạo được hào hứng nơi học sinh.
Do vậy trong cách truyền đạt giáo viên chỉ chú ý đến tính nội dung văn bản
nhiều hơn tính nghệ thuật, vì thế, giờ dạy thiên về lí trí hơn việc biểu đạt những
xúc cảm thẩm mĩ.
Cho nên kết quả của giờ dạy chủ yếu nghiêng về những thông tin văn bản
hơn là để lại dư âm của những rung cảm thẩm mĩ cho người học.
2.3. Phía người học:
Với tâm lí tiếp nhận chủ yếu nghiêng về tìm hiểu, nắm bắt những thông tin
văn bản nhiều hơn là việc biểu lộ cảm xúc.
Do vậy cách tiếp nhận chủ yếu của học sinh nghiêng là về mặt xã hội, chính
trị, theo định hướng của giáo viên là chính.
Cho nên kết quả giờ học đọc hiểu văn bản nghị luận chủ yếu trở thành giờ
tìm hiểu lịch sử (nếu giáo viên không nắm bắt được tinh thần của các nhà soạn
sách, của văn bản nghị luận được đưa vào chương trình).
Với khối lượng văn bản khá nhiều và thực tế dạy - học nêu trên, tôi đề xuất
một số giải pháp bước đầu mà bản thân thấy có hiệu quả trong quá trình giảng dạy.
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
3.1. Nắm chắc đặc trưng của thể loại văn nghị luận

đi nền luân lí xã hội trong Về luân lí xã hội ở nước ta – Phan Châu Trinh. Đó còn
là những lời bình tinh tế của Hoài Thanh – nhà phê bình văn học nổi tiếng của nền
văn học hiện đại Việt Nam – về tinh thần thơ mới và bi kịch tâm hồn của các nhà
Thơ mới (1932 -1945) trong Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh. Đó là những bài
nghị luận văn học đầy súc tích, tài hoa, uyên bác
Các nhà chính luận, văn luận nói trên đề cập đến nhiều vấn đề vừa mang tính
thời sự, vừa mang tính khoa học lâu dài trong xã hội hiện đại. Nhưng dù bàn luận
đến những vấn đề nào thì mục đích chung của người viết nghị luận hiện đại vẫn là
9
hướng sự quan tâm của đông đảo người đọc đến những vấn đề có ý nghĩa quan
trọng và thiết thực đối với đời sống cá nhân và cộng đồng, từ đó xây dựng nhận
thức và hành động tích cực của họ trong hoạt động thực tiễn của mình. Vì vậy văn
nghị luận thời hiện đại trở thành một trong những phương tiện tuyên truyền và học
tập, cổ vũ và phấn đấu tích cực cho mọi người.
3.1.2. Thuyết phục người đọc bằng hệ thống lí lẽ và cách lập luận chặt chẽ, hùng hồn.
Để bài văn có sức thuyết phục cao, người viết phải đưa ra những lí lẽ, những lập
luận tiêu biểu, phù hợp, những bằng chứng xác đáng. Lí lẽ và lập luận giúp người
đọc hiểu, còn bằng chứng làm người đọc tin vào vấn đề người viết nêu ra. Đây là
mục đích và là động lực cao nhất khi người viết viết một bài nghị luận.
3.1.2.1. Lí lẽ của bài văn nghị luận thể hiện ở hệ thống luận điểm của bài viết. Cho
nên luận điểm chính là linh hồn của bài văn nghị luận. Luận điểm thể hiện rõ tư
tưởng, quan điểm, chủ trương, đánh giá của người viết đối với một vấn đề cần
thuyết phục và làm sáng tỏ. Luận điểm của bài văn nghị luận thường được thể hiện
dưới hình thức những câu văn ngắn gọn với những phán đoán có tính chất khẳng
định hoặc phủ định “Trong một bài văn nghị luận, luận điểm là một hệ thống: có
luận điểm chính (dùng làm kết luận của bài, là cái đích của bài viết) và luận điểm
phụ (dùng làm luận điểm xuất phát hay luận điểm mở rộng)” (Ngữ văn 8, tập 2,
NXBGD, H, 2004, tr.75). Chẳng hạn như:
- Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác.
- Xin lập khoa luật.

Nghệ thuật lập luận phụ thuộc rất nhiều vào cách nêu vấn đề, cách dẫn dắt
người đọc, người nghe, cách phân tích bằng nhiều thủ pháp nhỏ như so sánh, liên
hệ, đối chiếu, nêu dẫn chứng thực tế, đưa số liệu thống kê Tuyên ngôn độc lập
của Hồ chủ tịch là một mẫu mực như thế.
Không phải ngẫu nhiên, ngay từ đầu, Người đã dẫn ra hai bản tuyên ngôn của
Pháp và Mĩ. Từ chỗ khẳng định quyền tự do, độc lập của mỗi dân tộc, mỗi cá nhân
mà “đó là nhưng lẽ phải không ai chối cãi được”, Người đặt lại vấn đề: “Thế mà
hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến
cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân
11
đạo và chính nghĩa ”. Luận điểm này đã được Người chứng minh rất cụ thể và
sáng tỏ ở nhiều phương diện: Về chính trị; Về kinh tế
Sau khi chứng minh một cách hùng hồn bản chất vô nhân đạo của bọn thực
dân Pháp, Người khẳng định một sự thật: “Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã
thành thuộc địa của Nhật chứ không là thuộc địa của Pháp nữa. Sự thật là nhân
dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”.
Đây cũng là một luận điểm hết sức quan trọng trong hệ thống lập luận của tác
giả bản Tuyên ngôn. Bởi vì xuất phát từ đây mà Người tuyên bố thoát ly hẳn quan
hệ với thực dân Pháp.
Kết luận bản Tuyên ngôn được rút ra như một lẽ tất yếu, một lôgic tự nhiên,
một lẽ phải thông thường, ai cũng phải công nhận: “Nước Việt Nam có quyền
hưởng tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.
Nghệ thuật lập luận còn phụ thuộc vào việc hành văn, giọng văn, vào cách
dùng từ, đặt câu. Do nhu cầu lập luận, văn nghị luận thường phải dùng đến những
từ như: thật vậy, thế mà, tuy nhiên, vả lại, mà còn, có nghĩa là, giả sử, nếu như,
trước hết, tóm lại, nói chung gọi là hệ thống từ lập luận. Chẳng hạn:
“Hiền tài là nguyên khí của đất nước. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và
vươn cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp. Bởi lẽ […] Không
những […] lại […] Không những […] còn […].

Dạy đọc- hiểu văn bản nghị luận phải xuất phát từ những đặc trưng cơ bản
của văn nghị luận. Điều đó có nghĩa là ta phải xem văn bản nghị luận ấy có hệ
thống luận điểm ra sao, luận điểm ấy được xây dựng trên lí lẽ, dẫn chứng xác đáng
như thế nào? Sức thuyết phục vào tư duy, lí trí ra sao? Qua đó thể hiện được quan
điểm, tư tưởng và thái độ đánh giá của tác giả như thế nào? Khi nắm vững được
đặc trưng thể loại văn bản nghị luận sẽ tạo ra hiệu quả cao trong giờ đọc- hiểu văn
bản, bởi nó quy định cách thức tổ chức giờ dạy cũng như phương pháp, cách thức
triển khai bài học một cách hợp lí nhất. Điều đó cũng yêu cầu một năng lực sư
phạm và tính sáng tạo của ngơì thầy.
Trong giờ đọc-hiểu văn bản nghị luận trước hết người giáo viên phải cho
học sinh nắm rõ được đặc trưng của chính đối tượng mình tìm hiểu. Ta có thể thực
13
hiện công việc đó bằng hệ thống câu hỏi đưa đến cho học sinh: Em hãy nêu rõ đặc
trưng cơ bản của một văn bản nghị luận ? Cho học sinh tự trả lời câu hỏi, sau đó
giáo viên khái quát lại cách thức chung khi tìm hiểu một văn bản nghị luận:
- Xác định hệ thống luận điểm của văn bản.
- Luận điểm đó được triển khai qua các luận chứng, dẫn chứng.
- Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của văn bản nghị luận: hệ thống lập luận,
ngôn ngữ, lí lẽ, cú pháp, từ ngữ.
- Sức tác động và thuyết phục của văn bản đối với người đọc qua đó thấy rõ
được thái độ, tư tưởng của tác giả.
Việc đọc - hiểu văn bản nghị luận dựa vào đặc trưng của nó cho phép khai
thác triệt để và khoa học các văn bản. Muốn khai thác thấu đáo các giá trị văn bản
theo đặc trưng của nó, ta cần phải huy động một cách thức tổ chức giờ đọc – hiểu
hợp lí nhất, phát huy vai trò của chủ thể dạy và học một cách chủ động, tích cực,
tạo ra hiệu quả cao trong giờ đọc hiểu văn bản .
Sỡ dĩ dạy đọc - hiểu văn bản nghị luận phải đảm bảo nguyên tắc đặc trưng
thể loại vì xuất phát từ nguyên tắc dạy học nói chung và dạy học Văn nói riêng là
phải tôn trọng đặc trưng bộ môn. Một nguyên tắc không thể không lưu ý trong dạy
học là phải nắm vững đối tượng cần tìm hiểu. Có nắm vững đối tượng mới có một

được tìm ra một cách khái quát ở bước thứ nhất.
3.5. Nắm chắc phương pháp dạy văn nghị luận
Như đã nói ở phần Đặc trưng của văn nghị luận, văn nghị luận là một thể tài
đặc biệt, nó mang những đặc điểm riêng, khác biệt so với các văn bản văn học
mang tính “hư cấu”. Do vậy, phương pháp dạy văn nghị luận ngoài việc tuân thủ
những phương pháp dạy học văn nói chung nó còn sử dụng những phương pháp
chung đó theo cách riêng, phù hợp với đặc trưng của mình.
- Phương pháp đọc diễn cảm
- Phương pháp tái tạo, tái hiện
- Phương pháp đàm thoại gợi mở
- Phương pháp giảng bình
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
4.1. Áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
15
Lựa chọn đối tượng thực nghiệm là học sinh trường THPT Hồng Quang
-Lục Yên - Yên Bái năm học 2014 - 2015.
- Lớp thực nghiệm: 11A3 (37 học sinh); 10A2 (44 học sinh)
- Lớp đối chứng: 11A1 (39 học sinh); 10A1 (39 học sinh)
Đây là những lớp có sức học Trung bình - Khá, phản ánh mặt bằng trình độ
học sinh của trường THPT Hồng Quang - Lục Yên - Yên Bái.
4.2. Thiết kế thực nghiệm:
4.2.1. Mục đích thực nghiệm
- Thiết kế thực nghiệm hai văn bản nghị luận: Hiền tài là nguyên khí của quốc
gia của Thân Nhân Trung (Ngữ văn 10 – tập 2) và Một thời đại trong thi ca của
Hoài Thanh Ngữ văn 11 - 2) để thể hiện và vận dụng những nội dung lí thuyết đã
nghiên cứu, đề xuất.
- Bước đầu xác lập được định hướng cũng như phương pháp dạy học văn bản
nghị luận theo hướng đổi mới của SGK Ngữ văn.
4.2.2. Văn bản dạy thực nghiệm
Văn bản được lựa chọn để thiết kế thực nghiệm là:

được thống kê như sau:
Kết quả cụ thể:
Thời gian Lớp Tổng
số bài
Thích Thích học nhưng
chưa thật sự hiểu
Không thích,
không hiểu
Lớp đối chứng
15/01/2015
11A1 39 6 = 15,38% 3 = 7.7% 30 = 76,92%
10A1 39 8 = 20,51% 3 = 7,7% 28 = 71,79%
Lớp thực nghiệm
24/01/2015
11A3 37 34 = 91,89% 2 = 5,40% 1 = 2,71%
10A2 44 40 = 90,91% 2 = 4,55% 2 = 4,55%
Kết quả bài kiểm tra:
Kết quả Điểm 8-9 Điểm 6-7 Điểm 4-5 Điểm 1-3 So sánh
11A1 15/39 12/39 4/39 8/39 Còn tồn tại
điểm 1 - 3
10A1 12/39 12/39 4/39 9/39
11A3 18/39 12/37 5/39 2/39 Điểm 5 - 9
tăng
10A2 20/44 18/44 2/44 2/44
* Tiểu kết:
17
Khi soạn giảng và dạy các văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn theo
cách trên, tôi nhận thấy có một số khó khăn sau:
Tốn khá nhiều thời gian tìm hiểu lịch sử phục vụ cho từng bài giảng.
Đôi khi xảy ra tình trạng “cháy” giáo án, những câu trả lời của học sinh ngoài

xã hội, hoàn cảnh cảm hứng), bám sát văn bản ngôn từ tác phẩm, dựa vào đặc điểm
cá tính sáng tạo của nhà văn, những tri thức về văn hoá và quy luật tâm lí, xã hội
… vẫn là những căn cứ khoa học vững chắc trong việc chiếm lĩnh và triển khai nội
dung, hình thức, ý nghĩa và các giá trị tác phẩm.
Việc giảng dạy các văn bản nghị luận gặp không ít khó khăn về nhiều mặt
(tầm hiểu biết về chính trị, lịch sử, văn hoá, nghệ thuật, tài liệu tham khảo, thời
gian, không gian của văn bản, tâm lí giảng dạy của giáo viên và tiếp nhận của học
sinh…). Vì vậy, đòi hỏi giáo viên phải nỗ lực rèn luyện không ngừng mới mong có
những giờ học hiệu quả thật sự theo tinh thần đổi mới hiện nay. Phương pháp dạy
học không phải là mở “lý thuyết trừu tượng” mà là sự cụ thể hoá bằng việc thiết kế
bài giảng, quá trình hiện thực hoá bài giảng trên lớp.
19
KIẾN NGHỊ
+ Nhà trường nên tạo điều kiện cho Giáo viên có năng lực không chỉ trong
lĩnh vực kĩ thuật, mà trong tất cả các lĩnh vực khác có điều kiện để nghiên cứu
+ Có sự hỗ trợ về kinh phí và có sự động viên kịp thời khi giáo viên đưa ra
những ý tưởng, sáng kiến, đề tài có tính khả thi cao
+ Nên có những buổi sinh hoạt chuyên đề nhằm trao đổi kinh nhiệm về
chuyên môn và những vấn đề có liên quan trong việc chế tạo đồ dùng, từ đó có thể
rút ra các giải pháp phù hợp với từng môn học và với đối tượng học sinh.
Việc đưa ra một vài giải pháp có tính bổ trợ thêm như trên chỉ là những kinh
nghiệm có tính chất cá nhân được rút ra trong quá trình giảng dạy của bản thân. Vì
thế, khó tránh khỏi những khiếm khuyết và hạn chế nhiều mặt. Rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến tích cực từ phía quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
, tháng 02 năm 2015
Người thực hiện

ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
20
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRÊN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status