đánh giá các nguồn thải và nguồn tiếp nhận nước thải trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Tài nguyên và
Môi trường và các thầy cô Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Ngô Thế Ân và thầy Cao
Trường Sơn là hai người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Ngiên Cứu KHKT Bảo Hộ Lao Động đã
giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những
người đã khích lệ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan những kết quả trong báo cáo này là sự thật.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 30 tháng 04 năm 2012
Sv. Nguyễn Thị Thuý Hà
i
MỤC LỤC
4.1.2Xã hội 30
a) Nhà ở 30
b)Y tế 31
c)Giáo dục 32
4.1.4 Kinh tế 32
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Lượng nước chảy trên sông của thế giới Error: Reference source not
found
Bảng 2 :Tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ
các khu công nghiệp năm 2009 của Hà Nội Error: Reference source not found
Bảng 3 : Diện tích các Khu Công nghiệp chính của Thành Phố Hà Nội Error:

Hình2.1:Bờ biển Barrow, Alaska trở thành một nơi chứa rác Error: Reference
source not found
Hình 2.2: Sông Tô Lịch, một trong những dòng sông "đen" giữa Hà Nội Error:
Reference source not found
Hình 4.1:Ảnh chụp vệ tinh khu vực Hà Nội Error: Reference source not found
Hình 4.2: Thông số BOD các điểm quan trắc chất lượng nước sông Nhuệ 2011 Error:
Reference source not found
Hình 4.3: Thông số COD các điểm quan trắc chất lượng nước sông Nhuệ 2011 Error:
Reference source not found
Hình 4.4: Thông số BOD các điểm quan trắc chất lượng nước sông Đáy 2011 Error:
Reference source not found
Hình4.5: Thông số COD các điểm quan trắc chất lượng nước sông Đáy 2011 Error:
Reference source not found
Hình4.6:Nước tại khu vực sông Đáy đang bị ô nhiễm nặng Error: Reference
source not found
Hình 4.7: Thông số BOD các điểm quan trắc chất lượng nước 3 sông năm 2011 Error:
Reference source not found
Hình 4.8 : Các thông số đánh giá chất lượng nước sông Cầu đi qua TP Hà Nội năm 2011
Error: Reference source not found
Hình 4.9: Hàm lượng BOD
5
, COD trong các mẫu phân tích nước hồ Tây Error:
Reference source not found
Hình 4.10: Hàm lượng dinh dưỡng trong các mẫu phân tích nước hồ Tây Error:
Reference source not found
v
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Thủ đô Hà Nội là thành phố nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng

- Các nội dung nghiên cứu đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
- Các số liệu, kết quả nghiên cứu trung thực, chính xác và khoa học.
2
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nước và vai trò tài nguyên nước.
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên
trái đất. Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho
hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp. Nước chiếm
99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ
thể con người. Để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn
nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn nước.Ngoài chức năng tham gia vào chu
trình sống trên, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất
mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn
vật chất trong tự nhiên. Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên
trái đất phụ thuộc vào nước.
Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km
3
, tập
trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km
3
), còn lại trong khí quyển và thạch
quyển. 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở
hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ. Lượng nước trong khí
quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007%
tổng lượng nước trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát từ
nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km
3
/năm. Lượng nước con người sử
dụng trong một năm khoảng 35.000 km

Nước có vai trò cực kỳ quan trọng, do đó bảo vệ nguồn nước là rất cần
thiết cho cuộc sống con người hôm nay và mai sau.
2.2 Ô nhiễm môi trường nước
Hiến chương châu Âu về nước, định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi
nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây
nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi,
4
giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”. Hay Ô nhiễm nước là sự thay
đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự
xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con
người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước.
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người
dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt
động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan
quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước
chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm
gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con
người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Các quy định về quản lý và
bảo vệ môi trường nước còn thiếu .Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ
quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định
trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo
vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định
hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây
nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước
2.2.1 Ô nhiễm do hoạt động tự nhiên
Là sự ô nhiễm do mưa, tuyết tan, gió, bão, lũ lụt. Ô nhiễm này còn được
gọi là ô nhiễm không xác định nguồn gốc.
Nguyên nhân nguồn nước nhiễm bẩn là do thảm thực vật phục hồi sau khi

Theo số liệu thống kê tại Hà Nội, tổng lượng nước thải ngày đêm lên tới
(350 – 45) ngàn m3, trong đó lượng nước thải công nghiệp là (85 – 90) ngàn m3.
6
Tổng khối lượng chất thải sinh hoạt từ (1.800 – 2.000) m3/ngày đêm, trong khi
đó lượng thu gom chỉ được 850 m3/ngày, phần còn lại được xả vào các khu đất
ven các hồ, kênh mương trong nội thành, nói chung các chất thải đều không qua
xử lý nên gây ô nhiễm; chỉ số oxy sinh hoá (BOD); oxy hoà tan; các chất NH4;
NO2; NO3; vượt quá quy định nhiều lần, nước ở các sông nội thành như Tô
Lịch, sông Sét, sông Lừ, sông Kim Ngưu có màu đen và hôi thối.
c) Ô nhiêm nước do các hoạt động nông nghiệp
Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hóa học cũng đáng lo
ngại. Khi phân bón được sử dụng một cách hợp lý thì làm tăng năng suất cây
trồng và chất lượng của sản phẩm cũng được cải thiện rõ rệt. Nhưng các cây
trồng chỉ sử dụng được khoảng 30 - 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào
các dòng nước mặt hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hoá sông hồ,
gây yếm khí ở các lớp nước ở dưới.
Sử dụng nông dược để trừ dịch hại, nhất là phun thuốc bằng máy bay
làm ô nhiễm những vùng rộng lớn. Các chất này thường tồn tại lâu dài trongmôi
trường, gây hại cho nhiều sinh vật có ích, đến sức khỏe con người. Một số dịch
hại có hiện tượng quen thuốc, phải dùng nhiều hơn và đa dạng hơn các thuốc trừ
sâu.
Ngoài ra các hợp chất hữu cơ khác cũng có nhiều tính độc hại. Nhiều chất
thải độc hại có chứa các hợp chất hữu cơ như phenol, thải vào nước làm chết vi
khuẩn, cá và các động vật khác, làm giảm O2 tăng hoạt động vi khuẩn yếm khí,
tạo ra sản phẩm độc và có mùi khó chịu như CH4, NH3, H2S
d) Ô nhiễm do khai thác khoáng sản
Trong những năm gần đây, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản
phát triển một cách ồ ạt, gây những tác động tiêu cực tới môi trường, đặc biệt
gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước sản xuất nông nghiệp.
Trong hoạt động khoáng sản, nước được sử dụng với khối lượng lớn cho

thức được tầm quan trọng của nguồn nước đối với cuộc sống thì trong một
tương lai không xa nguồn tài nguyên này sẽ cạn kiệt
2.3 Phân loại ô nhiễm nước
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô
nhiễm bởi các tác nhân vật lý.
a. . Ô nhiễm nước sinh học: do các nguồn thải đô thị hay kỹ nghệ có các
chất thải sinh hoạt, phân, nước rữa của các nhà máy đường, giấy
Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng, đặt
thành vấn đề lớn cho vệ sinh công cộng chủ yếu các nước đang phát triển. Các
bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều quốc gia
chưa kể đến các trận dịch tả. Các sự nhiễm bệnh được tăng cường do ô nhiễm
sinh học nguồn nước.
Các nhà máy chế biến thực phẩm, sản xuất đồ hộp, thuộc da, lò mổ, đều
có nước thải chứa protein. Khi được thải ra dòng chảy, protein nhanh chóng bị
phân hủy cho ra acid amin, acid béo, acid thơm, H2S, nhiều chất chứa S và P, có
tính độc và mùi khó chịu
b.Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ
Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và các
chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Cr, Ni, Cd, Mn, Cu, Hg là
những chất độc cho thủy sinh vật. Sự ô nhiễm do các chất khoáng là do sự thải
vào nước các chất như nitrat, phosphat và các chất khác dùng trong nông nghiệp
và các chất thải từ các ngành công nghiệp. Nhiễm độc chì (Saturnisne) : Ðó là
chì được sử dụng làm chất phụ gia trong xăng và các chất kim loại khác như
đồng, kẽm, chrom, nickel, cadnium rất độc đối với sinh vật thủy sinh. Thủy ngân
dưới dạng hợp chất rất độc đối với sinh vật và người. Tai nạn ở vịnh Minamata
ở Nhật Bản là một thí dụ đáng buồn, đã gây tử vong cho hàng trăm người và gây
9
nhiễm độc nặng hàng ngàn người khác. Nguyên nhân ở đây là người dân ăn cá
và các động vật biển khác đã bị nhiễm thuỷ ngân do nhà máy ở đó thải ra.

• Chất tẩy rữa: bột giặt tổng hợp và xà bông
Bột giặt tổng hợp phổ biến từ năm 1950. Chúng là các chất hữu cơ có cực
(polar) và không có cực (non-polar). Có 3 loại bột giặt: anionic, cationic và non-
ionic. Bột giặt anionic được sử dụng nhiều nhất, nó có chứa TBS (tetrazopylène
benzen sulfonate), không bị phân hủy sinh học.
Xà bông là tên gọi chung của muối kim loại với acid béo. Ngoài các xà
bông Natri và Kali tan được trong nước, thường dùng trong sinh hoạt, còn các
xà bông không tan thì chứa calci, sắt, nhôm sử dụng trong kỹ thuật (các chất
bôi trơn, sơn, verni).
d. Ô nhiễm vật lý
Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ
lững, tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu
cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của vi khuẩn và các vi sinh vật khác
lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng.
Nhiều chất thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu
cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ.
Ngoài ra các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hoá học như
muối sắt, mangan, clor tự do, hydro sulfur, phènol làm cho nước có vị không
bình thường. Các chất amoniac, sulfur, cyanur, dầu làm nước có mùi lạ. Thanh
tảo làm nước có mùi bùn, một số sinh vật đơn bào làm nước có mùi tanh của cá.
2.4 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới
Theo Korzun và các cộng sự (1978), lượng nước toàn cầu là khoảng 1386
triệu km
3
, trong đó nước biển và đại dương chiếm tới 96,5%. Chỉ còn lại khoảng
11
3,5% lượng nước trong đất liền và trong khí quyển. Lượng nước ngọt mà con
người có thể sử dụng được khoảng 35 triệu km
3

)
Châu Âu 321 7 10.500
Châu Á 14.410 31 43.475
Châu Phi 4.570 10 30.120
Bắc và Trung Mỹ 8.200 17 24.200
Nam Mỹ 11.765 25 17.800
Úc 348 1 7.683
Châu Đại Dương 2.040 4 1.267
Châu Nam Cực 2.230 5 13.977
Tổng số 46.768 100 149.022
So với nguồn nước mặt, nguồn nước ngầm có trữ lượng lớn hơn rất nhiều
so với nước của các con sông và hồ chứa. Đây là nguồn nước ngọt rất dồi dào
của nhân loại. Nếu chúng ta biết bảo vệ và khai thác hợp lý thu nước ngầm sẽ
cho chúng ta nguồn nước ngọt rất bền vững.
12
Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) vừa công bố một báo
cáo nhân Ngày Nước Thế giới (22/3). Bản báo cáo – mang tên “Sick Water –
khẳng định mỗi ngày thế giới tạo ra khoảng hai tỷ tấn nước thải. Lượng nước
thải đó giúp dịch bệnh lây lan và hủy hoại các hệ sinh thái.Báo cáo cho hay các
bệnh liên quan tới nước bẩn gây nên 3,7% tổng số trường hợp tử vong trên thế
giới, tương đương với hàng triệu tính mạng. Hơn một nửa bệnh nhân trong các
bệnh viện mắc bệnh liên quan tới nước bẩn.
“Nếu chúng ta không có khả năng quản lý chất thải, sẽ có thêm nhiều
người nữa chết vì các bệnh do tình trạng ô nhiễm nước gây nên”, Achim Steiner,
giám đốc UNEP, cảnh báo.Theo báo cáo của UNEP, người ta cần tới ba lít nước
để sản xuất một lít nước đóng chai và lượng nước đóng chai tại Mỹ đã tiêu tốn
khoảng 17 triệu thùng dầu mỗi năm. Nỗ lực nâng cao khả năng quản lý nước
thải tại châu Âu đã tạo ra nhiều thay đổi tích cực về môi trường tại châu lục này,
UNEP nhận định. Tuy nhiên, các “vùng nước chết” trên những đại dương vẫn
tiếp tục bành trướng khắp thế giới. “Vùng nước chết” là những nơi mà oxy hầu

hàng loạt, tổn hại đến hệ thực vật và làm bẩn nguồn nước sạch, ảnh hưởng đến
cuộc sống của 2,5 triệu người.
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều bị ô nhiễm nước ở các
mức độ khác nhau, đường thủy và sông ngòi nói chung ở châu Âu đều nhiễm
độc, nhất là từ các hợp chất hữu cơ chứa clo. Nguyên nhân là dọc hai bên bờ
sông có nhiều nhà máy, xí nghiệp hóa chất, như ở sông Ranh chẳng hạn. Ở Hà
Lan người ta đã phát hiện ra loại nông dược độc hại và những chất vi ô nhiễm
(Micropolluant) trong nước uống bắt nguồn từ sông Ranh. [21]
Ô nhiễm nước uống do nitrat (NO
3
-
) từ nông nghiệp là một vấn đề nghiêm
trọng. Nông nghiệp hiên đại ngày nay sử dụng quá nhiều phân hóa học (nhất là
phân đạm). Khoảng chừng 20 năm qua, lượng NO
3
-
đã khuyếch tán trong đất và
gây ô nhiễm nước, ngày càng nhiều nguồn nước có lượng NO
3
-
quá mức quy
định. Song điều nguy hiểm hơn nữa là ở vùng nông thôn thường có dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật quá cao.
Tại các nguồn nước ở các khu công nghiệp thì nồng độ các chất có hại
vượt quá liều lượng cho phép bao gồm các chất hữu cơ, vô cơ khó bị phân giải
trong tự nhiên. Chúng có thể nổi trên mặt nước, lơ lửng hoặc lắng sâu dưới đáy
và tan trong nước. Ví dụ chỉ một giọt dầu cũng tạo diện tích váng 0,25 m
2
trên
mặt nước, tương tự một tấn dầu sẽ tạo váng 500 ha, dù lớp màng váng rất mỏng

nhiễm nguồn nước ngầm. Các nhà máy xí nghiệp xả khói bụi công nghiệp vào
không khí làm ô nhiễm không khí, khi trời mưa, các chất ô nhiễm này sẽ lẫn vào
trong nước mưa cũng góp phần làm ô nhiễm nguồn nước.Mặc dù các cấp, các
ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo
vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước vẫn đang là vấn đề đáng lo ngại
ở Việt Nam hiện nay.
16
Đầu tiên là về ô nhiễm biển. Do có đường bờ biển thuộc loại dài nên khi ô
nhiễm biển xảy ra thì sẽ cực kỳ phức tạp. Do sự gia tăng của các hoạt động kinh
tế nói chung nên hầu hết vùng thềm lục địa đã bị ô nhiễm. Sự ô nhiễm còn bắt
đầu lan ra cả ngoài khơi. Điển hình như ở cảng Hải Phòng, bình quân hằng năm
có tới hơn 1.500 lượt tàu vận tải biển cập cảng Hải Phòng. Lượng dầu cặn qua
sử dụng trong hành trình vận tải của mỗi tàu khi đến cảng từ 5 m
3
đến 10 m
3
.
[24] Như vậy, hàng nghìn m
3
dầu cặn qua sử dụng cùng với rác thải sinh hoạt
của người dân vạn chài và khách du lịch đã xả tự nhiên theo nhiều cách xuống
biển.
Tình hình ô nhiễm nước ngọt còn trầm trọng hơn rất nhiều. Công nghiệp
là nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước ngọt, trong đó mỗi ngành có một loại
nước thải khác nhau. KCN Việt Trì xả mỗi ngày hàng trăm ngàn mét khối nước
thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt khoảng 168.000 m
3
/ngày
đêm xuống hạ lưu cùng một lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt không
nhỏ từ thượng nguồn Trung Quốc đã làm chất lượng nước sông Hồng ngày càng

hàm lượng chất độc hại cao gấp 5 lần so với tiêu chuẩn an toàn của WHO. Ông
Michael Berg, người đứng đầu nhóm nghiên cứu đồng thời là nhà khoa học cao
cấp tại Viện Khoa học và Kỹ thuật Thủy sinh (SFIAST) Thụy Sĩ, cho hay điều
rất đáng quan ngại là nguồn nước ngầm bị nhiễm độc lại chính là nguồn cung
cấp nước sinh hoạt chính cho người dân Việt Nam sống trong khu vực. Vùng
Châu thổ sông Hồng bao gồm thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng và tám
tỉnh ở miền Bắc. Trong số 16,6 triệu cư dân cư ngụ trong vùng, có tới 11 triệu
người không tiếp cận được với nguồn cung cấp nước công cộng mà phải phụ
thuộc vào những nguồn nước khác từ giếng đào hay nước sông, suối. Từ lâu các
chuyên gia đã biết rằng nước ngầm tại nhiều khu vực trong vùng Đông Nam Á
chứa nhiều hợp chất asen màu trắng cực độc, tuy nhiên người ta không biết rõ
khu vực nào. Trên thế giới, Việt Nam không phải là nơi duy nhất có nguồn nước
ngầm bị nhiễm chất asen. Nhiều nước khác cũng bị nhiễm chất này như
Argentina, Úc, Bangladesh, Chi Lê, Trung Quốc, Hungary, Ấn Độ, Mexico,
Peru, Thái Lan và Hoa Kỳ.
a) Ở khu vực thành thị
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số
gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi
trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm
bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản
xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và
thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví
19
dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước
thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD),
nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng
chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép.
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến
84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên
đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status