TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Tên đề tài:
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC
GVPT: PGS. TS Bùi Văn Mưa
HVTH: Hồ Thị Hà
STT: 27
Nhóm: 9
Lớp: Quản Trị Kinh Doanh Đêm 1
Khóa 23
TP.HCM, tháng 12/2014
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học và khoa học là những hình thái ý thức xã hội đặc thù phản ánh các
lĩnh vực khác nhau của thế giới. Chúng xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển
trên cơ sở những điều kiện kinh tế - xã hội, và chịu sự chi phối của những quy luật
nhất định. Đồng thời chúng có những mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua
lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Lịch sử hình thành và phát triển hơn
hai ngàn năm của triết học và khoa học không những đã chứng tỏ hai lĩnh vực tri
thức ấy luôn luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau mà còn chứng minh rằng, triết
học tìm thấy ở khoa học những cơ sở khoa học vững chắc của mình, còn khoa học
tìm thấy ở triết học thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận sắc bén để đi sau
nghiên cứu thế giới tự nhiên.
Lâu nay một số người quan tâm đến triết học đã có sự ngộ nhận rằng, triết
học là một khoa học chỉ thuộc về nội dung của phạm trù khoa học xã hội – nhân
văn. Nhưng ngược dòng thời gian, chúng ta biết rằng, ngay từ khi mới ra đời, triết
học và khoa học đã không tách rời nhau. Nhưng như chính C. Mác và Ph.
Ăngghen đã khẳng định, việc khôi phục triết học theo nghĩa đen của nó (triết học
là “khoa học của mọi khoa học”) vào thời kỳ nửa sau của thế kỷ XIX là điều
không thể. Bởi vì, khoa học triết học và các khoa học cụ thể hiện nay đã tồn tại
trong môi trường mới với những yêu cầu mới được đặt ra từ cuộc sống và từ vấn
đề học thuật. Tuy vậy, mối liên hệ giữa triết học và khoa học không vì thế mà
một cách mò mẫm, ngập ngừng và thậm chí đôi khi giật lùi nữa. Vật lý học hiện
đại đang nằm trên giường đẻ. Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Một
cuộc sinh đẻ đau đớn. Kèm theo sinh vật sống và có sức sống, không tránh khỏi
một vài sản phẩm chết, một vài thứ cặn bả nào đó phải vứt vào sọt rác. Toàn bộ
chủ nghĩa duy tâm vật lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê phán, cũng như
thuyết kinh nghiệm tượng trưng, v.v… đều thuộc những thứ cặn bả phải vứt bỏ đi
ấy”.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và khoa học còn góp cho con người
thấy rõ được nguồn gốc chung của sự nảy sinh triết học và khoa học đó là giới tự
nhiên; giúp cho chúng ta thấy được rằng, sự liên kết giữa triết học và khoa học là
không thể tránh khỏi và sự hợp tác giữa các nhà triết học với các nhà khoa học là
một tất yếu lịch sử.
Trong những năm gân đây khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại
phát triển như vũ bão, cũng như biến động cách mạng lớn lao làm thay đổi tận
gốc rễ bộ mặt của cuộc sống xã hội, đòi hỏi các nhà triết học và các nhà khoa học
chuyên môn giải quyết đúng đắn và kịp thời những lý luận và thực tiễn cấp bách.
Sự giải đáp này chỉ có thể nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo
thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lenin. Do đó,
việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa triết học và khoa
học có ý nghĩa vô cũng quan trọng.
NỘI DUNG
I. Triết học
1. Định nghĩa triết học
Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người vê thế
giới, về bản thân con người và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.
Triết học là một hình thái ý thức xã họi đặt biệt, là thái độ chung của con người
”giai cấp, tầng lớp” đối với hiện thực, là học thuyết tổng quát về thế giới trong tính
chỉnh thể của nó ( tự nhiên, xã hội và tư duy)
Là một hình thái ý thực xã hội đặt biệt, triết học phải phản ánh tồn tại xã
hội (hiện thực, cuộc sống, thời đại), nhưng cách phản ánh của nó khác cách phản
trả lời cho câu hỏi: vật chất hay ý thức (giới tự nhiên hay tinh thần…) cái nào có
trước, cái nào có sau? Mặt thứ hai ( nhật thức luận) đòi trả lời cho câu hỏi : con
người có khả năng nhận thức thế giới được hay không.
b, Cách giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản triết học
Cách giải quyết thứ nhất thừa nhận chỉ có một yếu tố có trước và mang tính
quyết định đưa đến sự xuất hiện chủ nghĩa nhất nguyên. Chủ nghĩa nhất nguyên có
hai loại đối lập nhau là chủ nghĩa (nhất nguyên) duy vật và chủ nghĩa (nhất
nguyên duy tâm).
- Chủ nghĩa duy vật khằng định vật chất có trước và giữ vai trò quyết
định đối với ý thức, thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan độc lập với ý
thức con người và không có ai sáng tạo ra; còn ý thức là phản ánh thế giới khách
quan vào bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất.
Chủ nghĩa duy vật đã tồn tại dưới ba hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy vật chất
phát , chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng. chủ nghĩa duy
vật thường gắn liền với khoa học và là cơ sở lý luận cho các giai cấp thống trị tiến
bộ, cách mạng trong xã hội.
- Chủ nghĩa duy tâm khẳng định ý thức có trước, sản sinh ra và giữ
vai trò quyết định đối với vật chất, là cơ sở tồn tại của giới tự nhiên xã hội. Chủ
nghĩa duy tâm có hai trường phái chủ yếu là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ
nghĩa duy tâm khách quan. Chủ nghĩa duy tâm thường gắn liền với tôn giáo và là
cơ sở lý luận cho các giai cấp thống trị bảo thủ, phản động trong xã hội.
- Cách giải quyết thứ hai thừa nhận cả hai yếu tố vật chất và tinh thần
đều có trước và tồn tại song song, độc lập với nhau “ đơn” (thế giới vật chất sinh
ra từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thể tinnh thần) đưa
đến sự xuất hiện chủ nghĩa nhị nguyên. Các nhà nhị nguyên luận muốn dung hòa
giữa hai chủ nghĩa duy vật và duy tâm, nhưng lập trường không nhất quán thường
đưa họ rời vào chủ nghĩa duy tâm hơn rời vào chủ nghĩa duy vật.
Ngoài hai cách giải quyết trên, trong lịch sử triết học có ”con đường thứ
ba” của các nhà thực chứng luận; mà theo họ, thì vấn đề cơ bản của triết học là vấn
đề giả dối, do đó nó không bao giờ có lời giải đáp đúng; mọi lời giải đáp của chủ
hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập dữ liệu, phân
tích thông tin để giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng. Một
trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng
tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong
khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được. Định
nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã
được hệ thống hóa.
2. Phân loại khoa học
Các lĩnh vực khoa học thường được chia thành hai nhóm chính: khoa học tự
nhiên, nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên (kể cả đời sống sinh học) và khoa học
xã hội, nghiên cứu hành vi con người và xã hội. Những nhóm chính là khoa học
thực nghiệm, trong đó kiến thức phải được dựa trên những hiện tượng quan sát
được và có khả năng được thử nghiệm để kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó bởi
các nhà nghiên cứu khác nhau làm việc trong cùng điều kiện. Ngoài ra còn có các
ngành liên quan được nhóm lại thành các khoa học liên ngành và khoa học ứng
dụng, chẳng hạn như khoa học kỹ thuật và khoa học sức khỏe. Các thể loại khoa
học này có thể bao gồm các yếu tố của các ngành khoa học khác nhưng thường có
thuật ngữ và cơ quan chuyên môn riêng.
Khoa học thuần túy là các môn học bao gồm các phương diện triết lý, tôn
giáo, khoa học, tín ngưỡng, xã hội học, nhân chủng học, chính trị học, luận lý học,
đạo đức học, tâm lý học, phân tâm học, thần kinh bệnh học, ngôn ngữ học, tôn
giáo học huyền bí học. Khoa học ứng dụng là khoa học chính xác sử dụng các kiến
thức thuộc một hay nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để
giải quyết những vấn đề thực tế. Nó có liên hệ mật thiết hoặc đồng nhất với kỹ
nghệ. Khoa học ứng dụng có thể sử dụng để phát triển công nghệ.
Toán học, được phân loại là khoa học thuần túy, có cả sự tương đồng và
khác biệt với các ngành khoa học tự nhiên và xã hội. Nó tương tự như khoa học
thực nghiệm ở chỗ nó bao gồm một phương pháp nghiên cứu khách quan, thận
trọng và có hệ thống lĩnh vực kiến thức. Nó là khác nhau vì để xác minh kiến thức,
toán học sử dụng phương pháp tiên nghiệm hơn là phương pháp thực nghiệm.
Người Trung Quốc coi triết học là sự truy tìm bản chất, là sự thấu hiểu căn nguyên
của sự vật, sự việc; người Ấn Độ coi Triết học là con đường suy ngẫm dẫn dắt đến
lẽ phải, đến những chân lý siêu nhiên (darshama); còn người Hy Lạp coi triết học
là sự ham hiểu biết, yêu thích sự thông thái (philosophia), do đó nhà triết học được
gọi là nhà thông thái, - người có khả năng nhận thức được chân lý, làm sáng tỏ bản
chất của vạn vật… Như vậy, quan niệm truyền thống, dù ở phương đông hay
phương tây, đều coi triết học là đỉnh cao của lý trí, là sử dụng lý trí để thấu hiểu
thế giới, để nắm bắt được bản chất của vạn vật, khám phá chân lý. Nói cách khác,
triết học được coi như một phương thức hoạt động của lý trí (tư duy lý luận) đào
sâu, mở rộng chính nó.
2. Thời Trung cổ
Ở Tây Âu, dưới sự thống trị của giáo hội thiên chúa giáo, Triết học buộc
phải trở thành một bộ môn của thần học. Nhiệm vụ của triết học khi đó là lý giải
và chứng minh tính “đúng đắn” của các nội dung trong kinh thánh, củng cố niềm
tin tôn giáo, hướng con người đến với thượng đế… Đó là những thứ triết lý của
các cha cố, là triết học kinh viện phục vụ cho thần học của nhà thờ, hạ thấp lý trí
để nâng cao lòng tin, thủ tiêu khoa học, mà trước hết là khoa học tự nhiên, để mở
rộng được phát triển thần học.
3. Thời Phục Hưng – cận đại
Trong lòng xã hội phong kiến của các nước Tây Âu sớm hình thành và phát
triển mạnh mẽ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng với sự hồi sinh nhanh
chóng và sự phát triển rực rỡ của khoa học tự nhiên .
Vào thời Phục Hưng: Nhu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản
và khoa học tự nhiên lúc bấy giờ đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi triết học phải giải
đáp. Do đáp ứng được nhu cầu của thời đại nên chủ nghĩa duy vật sớm hồi phục và
nhanh chóng phát triển. Quan niệm coi triết học như “ gười mẹ của các nhành
khoa học” xuất hiện vào thời cổ đại, bị quên lãng vào thời trung cổ, bây giờ được
khôi phục lại.
Sang đầu thời cận đại, quan niệm coi triết học như “người mẹ của các
ngành khoa học” đã phát triển thành quan niệm coi triết học là “ khoa học của các
dung và vai trò của triết học. Triết học Mác Xít xác định đối tượng nghiên của của
mình là tiếp tục giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập
trường duy vật và quan điểm thực tiễn; nghiên cứu những quy luật chung nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy; từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn
của con người nhằm cải tạo tự nhiên-xã hội, phục vụ lợi ích cho con người.
Ngày nay, ở các nước tư bản hiện đại nói riêng, trên toàn hành tinh của
chúng ta nói chung, bên cạnh những thành tự to lớn do các cuộc cách mạng khoa
học-kỹ thuật trước đây (hiện nay là cách mạng khoa học - công nghệ) mang lại là
những hậu quả nghiêm trọng về mọi mặt: đạo đức, xã hội, môi trường do chúng
gây ra. Nhân loại đang đứng trước nhiều vấn đề to lớn đòi hỏi phải giải quyết. Do
vậy đã xuất hiện nhiều trào lưu triết học khác nhau hướng đến giải quyết các vấn
đề không giống nhau; chúng tạo nên dòng thác tư tưởng “triết học phương tây hiện
đại ngoài Mác Xít”. Dù dòng triết học này rất đa dạng nhưng chúng ta dể nhận
thấy trong nó có những trào lưu lớn như: triết học duy khoa học, triết học nhân bản
phi lý tính, triết học tôn giáo, … các trào lưu triết học Phương tây hiện đại phân
tích những đối tượng khác nhau với những mục đích không như nhau, và thể hiện
lập trường không giống nhau.
IV. Nhận Xét
Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác-
Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học
cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết
học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng
sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng
trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân
triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các
nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử
phát triển của khoa học và bản thân triết học.
Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng
trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy
với nhau. Mối liên hệ giữa triết học nói chung, triết học duy vật biện chứng nói
riêng với khoa học tự nhiên là một tất yếu có tính quy luật và ngày càng phát triển.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn đặt cho mình nhiệm vụ phải khái quát những
thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên để làm sâu sắc thêm, phong phú thêm
những nguyên lý, những quy luật của mình. Và mỗi bước ngoặt của khoa học tự
nhiên, trước sự đổ vỡ của những nguyên lý cũ và sự ra đời của những phát minh
mới thì đại đa số các nhà khoa học tự nhiên đều đứng về phía chủ nghĩa duy vật.
Khoa học hiện đại ngày càng chứng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa nó với triết học
duy vật biện chứng, chứ không phải với chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật
siêu hình. Tuy vậy, vẫn có một số ít những nhà khoa học, do không nắm vững
phép biện chứng, còn chịu ảnh hưởng của các trào lưu triết học sai lầm, nên
thường giải thích những thành tựu mới nhất của khoa học trên lập trường của chủ
nghĩa duy tâm và đưa khoa học tự nhiên đi lệch sang phía chủ nghĩa duy tâm. Đây
chính là lực cản của sự phát triển khoa học.
Tài liệu tham khảo
Triết Học Phần I – Đại Cương về Lịch Sử Triết Học, Trường Đại Học Kinh Tế
Thành Phố Hồ Chí Minh, 2011,
Mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, Phạm Mạnh Trường, Đại Học Sư
Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh, 2009,
MỤC LỤC