Tiểu luận môn triết học sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Nho gia và triết học Pháp gia - Pdf 26

Lê Quang Thanh Trang Nhóm 12
1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Sau hơn 2500 năm tồn tại và phát triển của triết học, khái niệm triết học
được hiểu không như nhau, đối tượng nghiên cứu của nó cũng thay đổi khác
nhau theo từng giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên trong các quan điểm khác nhau đó
vẫn có những điểm chung. Từ điểm chung này triết học được coi là một hệ thống
tri thức lí luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và về
vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.
Lịch sử phát triển của triết học được chia ra bốn thời kì: cổ đại, trung đại,
phục hưng -cận đại và hiện đaị. Các tư tưởng triết học ra đời gắn liền với các đặc
trưng về văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội trong các thời đại lịch sử khác nhau.
Triết học phương Đông (triết học Ấn độ, triết học Trung Quốc…) và triết học
phương Tây (triết học Hy Lạp, triết học Pháp, triết học Đức…) là cơ sở và động
lực cho việc hoàn thiện tư tưởng triết học sau này.
Triết học Trung quốc là một kho kiến thức của lịch sử triết học phương
Đông và thế giới. Người Trung Quốc coi triết học là sự truy tìm bản chất, là sự
thấu hiểu căn nguyên của sự vật, sự việc. Nhiều trường phái triết học đã được
hình thành trong thời kì xuân thu và chiến quốc và được biết với tên gọi Bách gia
chư tử. Bốn trào lưu có ảnh hưởng nhất là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia và Pháp
gia. Giống với triết học phương Tây, triết học Trung Quốc có nhiều tư tưởng
phức tạp và đa dạng với nhiều trường phái và đều đề cập đến mọi lĩnh vực và
chuyên ngành của triết học.
Lịch sử Trung Hoa cổ -trung đại đầy biến động với các vương triều khác
nhau đã để lại một nền văn hóa rực rỡ với nhiều trường phái triết học đặc sắc.
Triết học Nho gia và Pháp gia với những nhà triết gia nổi bật nhất của triết học
Trung Quốc là Khổng Tử và Hàn Phi là hai đại diện tiêu biểu cho những đặc
điểm trên. Nho gia và Pháp gia góp phần làm đồ sộ hệ thống triết học Trung
Quốc thời cổ đại. Phân tích “sự tương đồng và khác biệt giữa triết học Nho gia
và triết học Pháp gia” là nội dung chính của bài tiểu luận này.
1
Lê Quang Thanh Trang Nhóm 12

Mạnh tử “bản tính con người vốn là thiện” (nhân chi sơ tính bản thiện). Thiện là
tổng hợp những đức tính vốn có của con người từ khi mới sinh ra như: nhân,
nghĩa , lễ… Do quan niệm tính thiện nên Nho gia (dòng Khổng-Mạnh) đề cao sự
giáo dục con người để con người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo
đức có sẵn.
2.3 Tư tưởng triết học của Khổng Tử:
Người sáng lập ra Nho gia là Khổng Tử (551-479 tr.CN).
Khổng Tử đưa ra thuyết “Thiên mệnh” lí giải sự thống nhất giữa trời, đất, người,
và làm cơ sở lí luận đạo đức (vạn vật tồn tại và biến hóa theo thiên mệnh; để
thành người quân tử phải hiểu và làm theo thiên mệnh).
“Thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo, và tính tương
cận, tập tương viễn”.
Ưu điểm của ông là chủ trương “hữu giáo vô loại” (học thì không phân
loại). Khổng tử cũng nêu ra một số phương pháp học tập có í nghĩa như: học phải
đi đôi với luyện tập, học phải kết hợp với suy nghĩ, phải ôn cũ để biết mới, học
phải nắm được cái cốt yếu. Tuy nhiên hạn chế của khổng tử là ở quan niệm học
theo lối hoài cổ, coi thường tri thức về sản xuất, lao động chân tay.
Khổng tử cho rằng, nếu lập đạo của trời, nói về âm và dương; lập đạo của
đất, nói về cương và nhu; thì lập đạo của người, phải nói về nhân và nghĩa.
Tư tưởng về luân lí, đạo đức, chính trị-xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi
trong học thuyết khổng tử. Những nguyên lí đạo đức cơ bản nhất trong học
thuyết đạo đức của Khổng Tử là: nhân, lễ, trí, dũng…cùng với một hệ thống
quan niệm về chính trị-xã hội như “nhân trị”, “chính danh, “thượng hiền”, “quân
tử”, “tiểu nhân”…
 Quan niệm về nhân:
Nhân được coi là nguyên lí đạo đức cơ bản quy định bản tính con người, chi phối
mọi quan hệ giữa người với người trong xã hội, và nó được hiểu rất rộng: “sửa
mình theo lẽ là nhân”, “điều gì mình không muốn, đừng đem nó làm cho người
3
Lê Quang Thanh Trang Nhóm 12

Lê Quang Thanh Trang Nhóm 12
2.4 Nhận xét:
Khổng tử chú trọng tam đức: người quân tử có trí nên không nhầm lẫn, có
nhân nên không buồn phiền, có dũng nên không có gì phải kinh sợ.
Mục đích của khổng tử là xây dựng một xã hội có tôn ti trật tự, kỷ cương. Để làm
được điều đó cần phải có “lễ” và “chính danh”. “Chính danh là làm mọi việc cho
ngay thẳng”. Xuất phát từ tình hình loạn lạc của xã hội trung quốc thời xuân thu,
Khổng tử đã nêu lên thuyết “chính danh”, nhưng trên thực tế thuyết này mang
tính bảo thủ, bảo vệ lợi ích cho quí tộc nhà Chu. Để thực hiện mục đích của
mình, Khổng tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống và chủ trương
“thượng hiền”, dùng người không phân biệt đẳng cấp xuất thân của họ.
Toàn bộ học thuyết về nhân, lễ, chính danh … của Khổng tử là nhằm phục
vụ mục đích chính trị là “nhân trị” và “đức trị”. Ông phản đối việc dùng hình
phạt để trị dân vì làm như vậy, dân sợ mà phải theo chứ không phục. theo ông cai
trị bằng tình người, bằng sự yêu người, coi người như bản thân… thì mới hiệu
quả.
Nho gia nguyên thủy chứa nhiều giá trị nhân bản và toát lên tinh thần biện
chứng, nó đã làm nổi bật khía cạnh xã hội của con người, nhưng nó bị bám đầy
màu sắc duy tâm, do đó người quân tử và xã hội đại đồng mãi mãi chỉ là một lí
tưởng.
3. TRIẾT HỌC PHÁP GIA
Pháp gia là trường phái triết học có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp thống nhất về
tư tưởng và chính trị trong xã hội trung hoa cổ đại.
3.1 Điều kiện hoàn cảnh ra đời, sự phát triển:
Vào thời xuân thu, Quản Trọng (?-645 TCN) được coi là người khởi
xướng Pháp gia. Ông là người đầu tiên bàn về pháp luật như một cách trị nước,
và chủ trương công bố pháp luật rộng rãi trong công chúng. Đối với ông, người
trị nước phải coi trọng luật, lệnh, hình, chính.
5
Lê Quang Thanh Trang Nhóm 12

Lê Quang Thanh Trang Nhóm 12
phải ngăn số đông làm điều ác (pháp trị). Kẻ thống trị phải nương theo tâm lí vị
lợi của con người để đặt ra pháp luật, trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự
xã hội.
Phải nắm lấy cái lí của vạn vật luôn biến hóa mà hành động cho phù hợp, phải
căn cứ vào nhu cầu của lịch sử, đặc điểm của thời thế mà lập ra chế độ, chính
sách trị nước thích hợp.
3.3 Tư tưởng về pháp trị của hàn phi:
Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy, Hàn Phi đã đề ra học
thuyết Pháp trị, nhấn mạnh sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp. Ông
cũng phản đối thuyết “nhân trị”, “đức trị” của Nho gia, phép "vô vi trị" của Đạo
gia. Phép trị quốc của Hàn Phi bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là “pháp”, “thế” và
“thuật”, trong đó pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương
tiện để thực hiện chính sách đó.
 "Pháp" là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại. Theo nghĩa hẹp, là
quy định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân
thủ; theo nghĩa rộng, pháp được coi là một thể chế, chế độ chính trị và xã hội. Vì
vậy, “pháp” được coi là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận,
giúp cho mọi người thấy rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình.
 "Thế" là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể. Địa vị, thế
lực, quyền uy đó của người trị vì phải là độc tôn. Theo Hàn Phi Tử, “thế” quan
trọng đến mức có thể thay thế vai trò của bậc hiền nhân. Muốn thi hành được
pháp thì phải có thế. Pháp và thế không tách rời nhau.
 “Thuật” là phương pháp, thủ thuật, cách thức, mưu lược khiển việc, khiến
người triệt để thực hiện mệnh lệnh. Thuật bao gồm ba mặt là bổ nhiệm, khảo
hạch và thưởng phạt. Hàn Phi Tử đòi hỏi vua phải dùng pháp như trời, dùng thuật
như quỷ. Nếu “pháp” được công bố rộng rãi trong dân, thì “thuật” là cơ trí ngầm,
là thủ đoạn của vua được dấu kín. Nhờ thuật mà vua chọn được người tài năng,
trao đúng chức vụ quyền hạn, và loại được kẻ bất tài.
7

như triết học nhân sinh, triết học đạo đức, triết học chính trị, triết học lịch sử phát
triển, còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt.
 Nhấn mạnh sự hài hoà, thống nhất giữa tự nhiên và xã hội. Các nhà triết
học nhấn mạnh sự hài hoà, thống nhất giữa các mặt đối lập, coi trọng tính đồng
nhất của các mối liên hệ tương hỗ của các khái niệm, coi việc điều hoà các mâu
thuẫn là mục tiêu cuối cùng để giải quyết các vấn đề.
 Tư duy trực giác. Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy triết học cổ
trung quốc là nhận thức trực giác, tức là có trong sự cảm nhận hay thể nghiệm.
Cảm nhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp lý trí, ta và vật ăn
khớp, khơi dậy linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trong chốc lát, từ đó mà nắm
bản thể trừu tượng. Phương thức tư duy trực giác đặc biệt coi trọng tác dụng của
cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức, “lấy tâm để bao quát vật”.
 Bị chi phối bởi cuộc đấu tranh bởi chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm, nhưng đó là cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề con người. Vì vậy, vấn đề về
quan hệ giữa Con người với Trời, Đất (thiên – nhân – địa) là vấn đề mang tính
xuất phát và xuyên suốt.
4.2 Sự khác biệt giữa triết học Nho gia và triết học Pháp gia thời cổ đại:
 Khác biệt trong quan điểm về con người và sự vật, hiện tượng:
Quan điểm về con người trong triết học trung quốc rất đa dạng và phức
tạp, thậm chí xung đột, mâu thuẫn nhau hết sức gay gắt. Nhưng nhìn chung, các
trường phái triết học đều lấy con người làm trung tâm và mục tiêu của nhận thức.
 Nho gia cho rằng, Trời là một lực lượng thần bí đã sinh ra con người và
vạn vật, con người cũng như vạn vật chịu sự chi phối của mệnh trời. Khổng Tử
cho rằng trời có í chí và có thể chi phối vận mệnh của con người: “làm sao có
thể cải được mệnh trời”. Hiểu biết mệnh trời là một điều kiện tất yếu để trở
thành con người hoàn thiện là người quân tử. Khi bàn về con người, trước hết
nho gia bàn về tính người. Quan niệm về tính người của các nhà tư tưởng trong
trường phái nho gia rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau.
“Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo” (Khổng Tử)
9

Lê Quang Thanh Trang Nhóm 12
 Khác biệt trong quan điểm lí luận chính trị và cai trị đất nước:
 Khổng Tử – người sáng lập Nho gia – làm hết sức để nhằm mục đích cho
người quân tử cai trị đất nước. Khổng tử đặc biệt coi trọng “nhân trị” chứ không
phải “pháp trị”. Triết học của ông nhấn mạnh trên sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân
và cai trị bằng đạo đức: “tu thân, tề gia, bình thiên hạ”. Ông cho rằng chính phủ
tốt nhất là chính phủ cai trị bằng "Lễ nghĩa" và đạo đức tự nhiên của con người,
chứ không phải bằng vũ lực và mua chuộc. Ông đã giải thích điều đó tại một
trong những đoạn quan trọng nhất ở cuốn Luận Ngữ: "Dùng mệnh lệnh, pháp
luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vây tuy có
giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục.
Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm
như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn
cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng." (Tứ
Thư - Luận Ngữ, NXB Quân đội Nhân dân 2003). Sự "biết sỉ nhục" là sự mở
rộng của trách nhiệm, nơi mà hành động trừng phạt đi trước hành động xấu xa,
chứ không phải đi sau nó như trong hình thức luật pháp của Pháp gia.
Ông tin chắc rằng, nền tảng của việc cai trị đất nước chính là tự chế ước bản
thân. Một vị quân chủ cao quý nắm giữ chính quyền sẽ tự nhiên mang lại hòa
bình và ổn định cho đất nước. Khổng Tử đã từng nói: “Bản thân mà chính đáng,
dù không cần mệnh lệnh thì (người khác) cũng thi hành; còn nếu bản thân không
chính đáng, dù có mệnh lệnh thì (người khác) cũng không tuân theo”. Theo ông,
tiền đề quyết định sự thành bại trong việc trị nước chính là đức hạnh của nhà vua
đang trị vì. Đức hạnh đó được gọi là “nhân” và đạt được qua “lễ”. Khổng Tử là
người đặc biệt nệ cổ, thường coi xưa hơn nay; tâm nguyện của ông là làm sao để
xã hội có thể trở về trạng thái xưa cũ.
 Hàn Phi - người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Ông đã tiếp thu điểm ưu
trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế” để xây dựng và phát triển một hệ
thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Coi
pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, Hàn

những kẻ cẩn thận giữ pháp luật, nhưng phạt những kẻ làm trái lệnh”. Cái gọi là
“mệnh lệnh ban bố rõ ràng nơi cửa công” khác xa so với cách cai trị bởi ý muốn
chủ quan của các cá nhân quý tộc nắm quyền đương thời.
12
Lê Quang Thanh Trang Nhóm 12
Hàn Phi chủ trương pháp trị, song cũng rất chú trọng đến “thuật” của nhà vua.
Nhà vua phải có “thuật” để dùng người. Ngoài “pháp” và “thuật”, Hàn Phi đặc
biệt coi trọng “thế”. “Thế” còn được gọi là “quyền thế”, “uy thế”, “thế trọng”, nó
chỉ một sức mạnh quyền uy tuyệt đối, cũng chính là quyền thống trị tối cao của
ông vua, bao gồm quyền sử dụng người, quyền thưởng phạt… Để yên ổn trị
nước, bậc quân chủ tất phải nắm giữ quyền thế. Nếu chỉ xét về bản thân vị vua,
thì “thế” là cái cốt lõi nhất, quan trọng nhất, còn “pháp” và “thuật” chỉ là công
cụ.
5. KẾT LUẬN
Triết học Nho gia và triết học Pháp gia là hai đại diện cho hai tư tưởng
mâu thuẫn trong lịch sử triết học cổ đại của Trung Hoa. Mỗi trường phái đều có
lí luận riêng minh chứng cho tư tưởng chủ đạo của mình. Những tư tưởng đó là
phù hợp với tình hình chính trị xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.
Triết học Nho gia đã để lại cho đời những tư tưởng triết học về luân lí, đạo
đức chính trị - xã hội rất sâu sắc và vô cùng quí giá. Những tư tưởng về “nhân”,
“lễ”, “tín”, “nghĩa”…có í nghĩa lớn cho việc giáo dục thế hệ trẻ hiện nay.
Triết học pháp gia với tư tưởng nổi bật là “pháp trị” có cái nhìn khác biệt
và tiến bộ so với đương thời. Tư tưởng này đề cao quyền tự chủ về vận mệnh của
con người. Ca ngợi pháp luật là hình thức quản lí đất nước tốt nhất. “Pháp trị”
của pháp gia kết hợp với “nhân trị” của nho gia là cách tiếp cận mới cho việc
phát triển và ổn định xã hội sau này.
Tuy nhiên cả Nho gia và Pháp gia đều có những hạn chế nhất định. Ở Nho
gia đó là lối sống gia trưởng trong gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ. Đặc
biệt đạo tam tòng đã trói buộc người phụ nữ, họ không có quyền tự chủ quyết
định cuộc đời và tương lai của mình. Hơn nữa, cai trị đất nước chỉ bằng “nhân

biên) – Khoa lí luận chính trị - Tiểu ban triết học trường đại học kinh tế thành
phố Hồ Chí Minh.
Các trang web:
Timtailieu.vn/tai-lieu/nhung-tu-tuong-triet-hoc-nho-gia
Wikipedia.org/wiki/khong_tu
15
Lê Quang Thanh Trang Nhóm 12
MỤC LỤC
1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI………………………………………………… 1
2. TRIẾT HỌC NHO GIA……………………………………………… 2
2.1. Điều kiện hoàn cảnh ra đời, sự phát triển……………………………. 2
2.2. Một số tư tưởng triết học cơ bản của Nho gia cổ đại………………… 3
2.3. Tư tưởng triết học của Khổng Tử……………………………………. 3
2.4. Nhận xét……………………………………………………………… 5
3. TRIẾT HỌC PHÁP GIA………………………………………………. 5
3.1. Điều kiện hoàn cảnh ra đời, sự phát triển……………………………. 5
3.2. Tư tưởng của triết học Pháp gia thời cổ đại………………………… 6
3.3. Tư tưởng về pháp trị của Hàn Phi……………………………………. 7
3.4. Nhận xét……………………………………………………………… 8
4. SO SÁNH TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ TRIẾT HỌC PHÁP GIA THỜI
CỔ ĐẠI……………………………………………………………………. 8
4.1. Sự tương đồng giữa triết học Nho gia và triết học Pháp gia thời cổ đại8
4.2. Sự khác biệt giữa triết học Nho gia và triết học Pháp gia thời cổ đại… 9
5. KẾT LUẬN………………………………………………………… 13

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status