BÁO CÁO THỰC TẬP
Tuyến đi: Hà Nội – Hải Phòng – Huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh – Thị Trấn Cái Rồng,
tỉnh Quảng Ninh
Bản đồ tuyến hành trình
Thời gian thực tập: từ ngày 09/01/2009 đến ngày 11/01/2009
Số điểm khảo sát: 14 điểm
I. Khái quát về khu vực khảo sát
1. Vị trí địa lý
Quảng Ninh là tỉnh ven biển nằm ở phía đông bắc Bắc Bộ, phía bắc giáp với Trung Quốc,
phía đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp thành phố Hải Phòng, tỉnh Hải Dương,
phía tây giáp tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Bắc Giang. Quảng Ninh có toạ độ địa lý khoảng 106
o
26'
đến 108
o
31' kinh độ đông và từ 20
o
40' đến 21
o
40' vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây,
nơi rộng nhất là 195 km. Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km. Điểm cực bắc là dãy
núi cao thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Điểm cực nam ở đảo Hạ
Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Điểm cực tây là sông Vàng Chua ở xã Bình
Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều. Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở
đông bắc xã Trà Cổ, thị xã Móng Cái. Quảng Ninh có bờ biển dài 250 km với hơn 2000
đảo lớn nhỏ trong đó có 1030 đảo có tên. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là
8.239,243 km
2
(phần đã xác định). Trong đó diện tích đất liền là 5.938 km
2
; vùng đảo,
Quảng Ninh có nhiều sông suối nhưng các sông đều ngắn, nhỏ, độ dốc lớn. Lưu lượng và
lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa. Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá
nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh. Lưu lượng mùa khô 1,45 m
3
/s,
mùa mưa lên tới 1500 m
3
/s, chênh nhau 1.000 lần. Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh
Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại có nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn
như vùng biển Trung Bộ. Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-
4m.
3. Đặc điểm địa chất, địa mạo
A. Địa Chất
Cấu tạo nền địa chất bao gồm các thành tạo có tuổi từ Ordovic đến Đệ tứ, trong đó
chủ yếu là các đá trầm tích và trầm tích phun trào. Nét nổi bật nhất là các trầm tích hạt
thô như cát kết, cuội kết chiếm tỷ trọng lớn trong các hệ tầng và các thành tạo phun trào ở
đây chủ yếu có thành phần axit. Đặc điểm đó tạo nên tính sắc sảo của địa hình các dãy
núi và khả năng tạo vỏ phong hoá sét bị hạn chế.
- Đá cổ nhất trong lưu vực thuộc hệ tầng Tấn Mài tuổi Ordovic thượng - Silur (O
3
-
S tm). Hệ tầng được phân chia thành 2 phân hệ tầng có đặc điểm thạch học khác nhau:
Phân hệ tầng dưới chủ yếu gồm các thành tạo hạt thô như cát kết thạch anh, cát kết
tuf, đá phiến thạch anh - sericit, sạn kết tuf; chiếm tỷ lệ nhỏ hơn là bột kết. Trầm tích có
tính phân nhịp rõ. Đầu mỗi nhịp là trầm tích hạt thô, cuối là hạt nhỏ, chiều dày mỗi nhịp từ
vài mét đến vài chục mét. Phân hệ tầng dày 900 - 1000 m.
Phân hệ tầng trên có quan hệ chuyển tiếp với phân hệ tầng dưới, gồm các tập đá
có độ hạt nhỏ hơn phân hệ tầng trên như bột kết phân dải, cát sét kết, xen kẽ dạng nhịp
với đá phiến sét, phylit, đá phiến silic, đá phiến sericit, cát kết tuf. Bề dày của phân hệ
tầng là 700 m.
các lớp mỏng cát kết thạch anh và bột kết, sét than, dày 600 - 700m.
– Dải than Hòn Gai có cấu tạo gần theo phương vĩ tuyến, kéo dài từ Móng
Cái qua Cẩm Phả và Hòn Gai. Chúng tạo nên bàng loạt mỏ quan trọng, trong đó đáng kể
là các mỏ Kế Bào, Mông Dương, Cọc Sáu, Bắc Quảng Lợi, Đèo Nai, Khe Chàng, Khe
Tam, Ngã hai Khe Hùm, Vàng Danh, Hà Tu, Hà Lầm, Đồng Cóc, Đồng Đăng, Yên Lập.
Thành phần của các trầm tích chứa than và số lượng các vỉa than rất hay thay đổi
trong không gian. Các trầm tích chứa than được Paplốt (1960) xếp vào điệp Hồng Gai
bao gồm ba phụ điệp. Phụ điệp chứa than căn bản có cuội kết hạt trung bình, sỏi kết và
cát kết hạt không đều, có ít thấu kính than đá mỏng. Phụ điệp chứa than và trên than căn
bản là cuội cát kết có lớp kẹp bột kết, bột kết than, sét kết và các vỉa than đá với chiều
dày mấy chục mét. Nghiên cứu một cách chi tiết ở Cẩm Phả, Phạm Thế Hiển và Vũ
Quang Bình chia trầm tích phụ điệp chứa than ra ba tập (tập trầm tích lục địa đới trầm
tích chuyển tiếp, tập trầm tích lục địa trên).
Cấu tạo của dải than là cấu tạo của một địa hào, được giới hạn bởi các đứt gãy gần
phương vĩ tuyến. Móng của các trầm tích chứa than chủ yếu là các trầm tích Cacbon -
Pecmi. Trầm tích chứa than tạo nên một hệ thống nếp uốn đều đặn, thường có dạng đẳng
thước hoặc hơi kéo dài chủ yếu có phương gần vĩ tuyến, một số cấu tạo nếp uốn có
phương kinh tuyến. Các cấu tạo uốn nếp bị làm phức tạp thêm bởi hệ thống đứt gãy theo
phương vĩ tuyến và kinh tuyến.
Từ mô tả trên cho thấy các vật liệu thải của các khu khai thác than trong hệ tầng
chủ yếu vẫn là vật liệu hạt thô, lượng bột sét chiếm tỷ lệ nhỏ. Sản phẩm vỏ phong hoá
thường là litoma hoặc saprolit với bề dày hạn chế.
- Hệ tầng Hà Cối (J
1-2
hc): Hệ tầng được chia thành 2 phân hệ tầng có thành phần
khác biệt nhau:
Phân hệ tầng dưới gồm chủ yếu các thành tạo hạt thô như cuội kết, sạn kết thạch
anh phân lớp dày xen các lớp mỏng cát kết, bột kết màu nâu đỏ, dày 200 - 300m.
Phân hệ tầng trên gồm chủ yếu các đá hạt mịn như cát kết hạt vừa, bột kết, sét kết
màu nâu đỏ, nâu tím, dày 300 - 350m.
Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và
bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và
giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh.
Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn
đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn
250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo
chỉ như một hòn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô
Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình
karst bị nước bào mòn tạo nên những hang động kỳ thú.
Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát
trắng táp lên từ sóng biển. Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu
trung bình là 20 m. Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá
ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng.
II. Mô tả điểm khảo sát
1. Quảng Ninh 1: Đường đi Đầm Hà
Thời gian khảo sát: 1h30’ chiều 9/1/2009
Vị trí địa lý: X: 755669, Y: 2361858
Khảo sát bậc thềm tích tụ tuổi Q
2
3
Đặc điểm địa hình: Phía dưới bậc thềm là đá gốc Jura-Hà Cối có màu tím gan gà, phía
trên là bậc thềm tích tụ có màu vàng bề mặt thềm tích tụ dày 2,5-3 m.
Đặc điểm vật liệu: Thành phần cấu tạo vật liệu của bậc thềm có lẫn cả cuội sỏi granit,
thạch anh. Phần chân đế là đá trầm tích có thành phần vật liệu cát bột kết.
Nguồn gốc địa hình: Phần đế phía dưới là đá trầm tích Jura-Hà Cối thành tạo trong
môi trường lục địa khô bị oxy-hóa nên có màu tím, thành phần vật liệu cát bột kết.
Bậc thềm phủ lên trên thành phần vật liệu đa dạng được mang từ các khối núi ở Bình
Liêu trong quá trình tích tụ
Vết lộ đá gốc Jura-Hà Cối
2. Quảng Ninh 2: Sông Đầm Hà
Hiện trạng: người dân hút cát ở ngoài xa mang về làm vật liệu xây dựng, và ngăn đập
làm đầm nuôi tôm.
Bãi triều
Vật liệu bãi triều
4. Quảng Ninh 4: Cầu Đồng Lốc
Thời gian khảo sát: 4h45’ chiều 9/1/2009
Vị trí địa lý: X: 764527, Y: 2362743
Khảo sát đoạn sạt lở do lũ
Đặc điểm địa hình: Lòng sông có những tảng cuội rất lớn xen lẫn với cuội nhỏ, con
đường vắt qua sông bị phá hỏng do lũ. Hai bên bờ bị sạt lở mạnh, cây cối đổ rạp về
hướng hạ lưu. Một đoạn khúc uốn bị đục thủng
Hiện trạng: người dân chọn cuội làm vật liệu xây dựng ở hai bên bờ sông, nhà dân
xây dựng trên bãi bồi rất nguy hiểm
Lòng sông và con đường sau khi bị lũ tàn phá
5. Quảng Ninh 5: Đường đi Cái Bầu
Thời gian khảo sát: 8h sáng 10/1/2009
Vị trí địa lý: X: 763032, Y: 2362647
Khảo sát địa hình đồi thấp
Dãy đồi núi thấp chạy theo phía Bắc có độ chênh cao tương đối trung bình từ 10-25 m
Địa hình đồi núi thấp
6. Quảng Ninh 6: Cầu Tiên Yên
Thời gian khảo sát:
Vị trí địa lý: X: 750267, X: 2360311
Khảo sát dấu vết do lũ lụt gây ra
Đặc điểm địa hình: Từ cầu có thể nhìn thấy vết tích của trận lũ lớn năm 2008 như rác
vẫn còn thấy trên ngọn cây, cây nghiêng ngả về phía hạ lưu, các dòng cạn là kết quả
của dòng lũ đục qua
Hiện trạng: Nhà dân xây sát khu vực bãi bồi cao sẽ nguy hiểm khi có lũ lớn xuất hiện
như đợt lũ năm 2008
7. Quảng Ninh 7: Cầu Khe Tiên
Thời gian khảo sát: 11h45’ ngày 10/1/2009
Vị trí địa lý: X: 744976, X: 2327697
Khảo sát bãi thải của khu vực khai thác than Cọc Sáu
Đặc điểm địa hình: Vật liệu thải của các bãi khai thác được đổ tập trung tạo thành một
dạng địa hình giống ngọn núi ở phía trên. Trên sườn xuất hiện nhiều vết rạn dài là kết
quả của quá trình trượt. Phía dưới xây dựng đập ngăn vật liệu.
Hiện trạng: do các vật liệu tạo núi nhân tạo là vật liệu bở rời nên dễ gây trượt lở tạo ra
lũ bùn gây nguy hiểm cho các hộ dân sống ở phía dưới.
Vật liệu thải chất thành núi Vật liệu thải rời rạc, không gắn kết
11. Quảng Ninh 11: Cầu Cửa Ông
Thời gian khảo sát:
Vị trí địa lý: X: 747017, Y: 2327697
Khảo sát đứt gãy kiến tạo phay thuận trên đường đi
Đứt gãy kiến tạo phay thuận
12. Quảng Ninh 12: Bãi Triều Vân Đồn
Thời gian khảo sát: 2h chiều ngày 10/1/2009
Vị trí địa lý: X: 743740, Y: 2328383
Khảo sát bãi triều
Hình thành do di chuyển bồi tích dọc TB-ĐN, chịu tác động đồng thời của sông. Bờ
biển bị xói lở, lộ đá
Đoạn bờ xói lở
Bãi triều Vân Đồn
13. Quảng Ninh 13: Suối Lộ Phong
Thời gian khảo sát:
Vị trí địa lý: X: 725954, Y: 2317317
Vật liệu thải khai thác than chảy ra từ bãi thải
Tuy có lưới chắn nhưng vật liệu vẫn đổ ra rất nhiều. Lưới chắn này về mùa lũ sẽ là
nơi tích lũy năng lượng của dòng do vật liệu thải ở lưới cản dòng chảy. Nếu dòng quá
lớn thì đến lúc nào đó lưới sẽ bị phá vỡ, vật liệu tích tụ từ trước cùng dòng tạo thành
lũ bùn, rất nguy hiểm cho khu vực phía dưới
nhưng bây giờ đã không còn do tôm không sống được trong môi trường nước ở đây.
Trong 10 năm trở lại đây, Quảng Ninh phát triển về kinh tế rất mạnh từ những nguồn lợi
về khoáng sản, tự nhiên của tỉnh. Hạ tầng cơ sở phát triển mạnh nhưng thiếu sự quy
hoạch tổng thể nên đã gây lên sự lộn xộn. Cảnh quan tự nhiên dành cho du lịch đang mất
dần thay vào đó là những nhà máy xi măng và khu vực khai thác than.
Đề nhằm làm giảm tác động của vật liệu thải đến môi trường, người ta đã cho xây dựng
các đập chắn, ngăn cho vật liệu thải không chảy xuống các sông. Nhưng những con đập
này quá bé so với những núi vật liệu thải phía trên nên đã làm phản tác dụng ban đầu của
nó. Con đập giờ trở thành nơi tích lũy năng lượng và vật liệu của dòng lũ bùn phía trên.
Một khi con đập bị vỡ thì khả năng phá hủy của dòng lũ bùn phía trên là rất lớn
Kết luận
Tuyến hành trình của đợt thực tập đã đi qua những điểm nóng về môi trường và tai biến
của tỉnh Quảng Ninh, đã cung cấp cho sinh viên những kinh nghiệm quý báu trong việc
quan sát những điều kiện có thể gây ra các tai biến thiên nhiên, xác định những mối quan
hệ qua lại giữa các nhân tố tự nhiên và nhân tố nhân sinh. Giúp sinh viên nhớ lại các kiến
thức đã học và nắm được những cách sử dụng GPS và bản đồ. Sinh viên xin chân thành
cám ơn các thầy giáo đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên trong đợt thực tập.