NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐH KINH TẾ KỸ THUẬT BÌNH DƯƠNG
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN LÀ GIAI ĐOẠN PHÁT
TRIỂN CAO CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH
TRANH MÀ GIAI ĐOẠN TỘT CÙNG CỦA NÓ LÀ CHỦ
NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC
Bình Dương, ngày 25 tháng 04 năm 2012
Lớp: DE11KT163
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
LỜI MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế - xã hội phát triển cao của xã hội loài người,
xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu
và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ thứ 18. Sau
cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18 hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa dần dần
chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ phong kiến,
quý tộc. Và sau này hình thái chính trị - kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu
và thế giới.
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản (với tư cách một hình thái kinh tế) từ chủ nghĩa
phong kiến không do một lý thuyết gia nào xây dựng. Tuy nhiên A.Smithlà người có đóng
góp to lớn nhất xây dựng một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh về chủ nghĩa tư bản tự
do hay tự do kinh tế
Trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa các cá nhân dùng sở hữu tư nhân để tự do
kinh doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông qua cạnh tranh trong
các điều kiện của thị trường tự do, mọi sự phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán
của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế.
Tiếp theo sau giai đoạn cạnh tranh tự do, chủ nghĩa tư bản phát triển lên đến giai đoạn
1. Chủ nghĩa tư bản độc quyền và nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ
cạnh tranh tự do sang độc quyền
a) CNTB độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như một sự tất
yếu, phù hợp với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, điều kiện hoàn cảnh thế
giới mới, quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
b) Nguyên nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ cạnh tranh tự do
sang độc quyền
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác dụng của tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm
xuất hiện những ngành sản xuất mới. Ngay từ đầu nó đã là những ngành có trình độ tích tụ
cao, đó là những xí nghiệp lớn đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, những thành tựu của khoa học kỹ thuật mới xuất
hiện như lò luyện kim mới Bétsơme, Máctanh, Tômát,đã tạo ra sản lượng lớn gang thép với
chất lượng cao, phát hiện ra hóa chất mới như axít sunphuaric (H
2
SO
4
), thuốc nhuộm, máy
móc mới ra đời: động cơ điêzen, máy phát điện, máy tiện, máy phay…, phát triển những
phương tiện vận tải mới: xe hơi, tàu thủy, xe điện, máy bay…, đặc biệt là đường sắt. Những
thành tựu khoa học - kỹ thuật này một mặt làm xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi xí
nghiệp phải có quy mô lớn, mặt khác nó dẫn đến tăng năng suất lao động, tăng khả năng tích
lũy tư bản, thúc đẩy phát triển sản xuất lớn.
Trong điều kiện phát triển của khoa học – kỹ thuật, sự tác động của các quy luật kinh tế
của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá trị thặng dư,quy luật tích lũy… ngày càng mạnh mẽ,
làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn.
Lớp: DE11KT163
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
Sự phát triển của cạnh tranh, một mặt buộc các nhà Tư Bản phải cải tiến kỹ thuật, tăng
qui mô tích lũy. Mặt khác, đã dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ kỹ thuật kém, hoặc bị
trug sản xuất đến mức cao như vậy đã trực tiếp dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền.
Bởi vì, một mặt, do có một số ít các xí nghiệp lớn nên có thể dễ dàng thỏa hiệp với nhau; măt
khác, các xí nghiệp có quy mô lớn , kỹ thuật cao nên cạnh tranh gay gắt quyết liệt. Do đó đã
dẫn đến khuynh hướng thỏa hiệp với nhau để nắm độc quyền.
''Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tậptrung vào trong tay
phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa nào đó nhằm mục đích thu đượclợi
nhuận độc quyền cao.''
Khi bắt đầu chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền hoá thì hình thức thống trị là công ty cổ
phần. Những liên minh độc quyền này đầu tiên hình thành theo sự liên kết ngang ( cùng
ngành) dưới hình thức: Cácten, Xanhđica, Trớt.
Sau đó là sự liên kết dọc. Sự liên kết này không chỉ các xí nghiệp lớn mà cả các Xanhđica,
Trớt thuộc các ngành khác nhau nhưng có liên quan với nhau về kinh tế - kỹ thuật dẫn đến
hình thành các công ty độc quyền lớn như: Côngxoocxiom.
Lớp: DE11KT163
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
Nhưng từ giữa thế kỷ 20 đã phát triển lên một hình thức mới: liên kết đa ngành hình
thành các công ty lớn như: Cônglômêrát, Consơn thâu tóm nhiều công ty xí nghiệp thuộc
những ngành công nghiệp khác nhau.
Vị trí, vai trò của cá tổ chức độc quyền: Nhờ nắm được địa vị thống trị trong lĩnh vực
sản xuất và lưu thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền.
Giá cả độc quyền là giá cả hàng hóa có sự chệnh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất:
* Họ định ra giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa bán ra.
* Họ định ra giá cả độc quyền thấp hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa mua vào,
qua đó thu được lợi nhuận độc quyền.
Vậy giá cả độc quyền là: Giá cả độc quyền = chi phí sản xuất + P độc quyền.
Nhưng giá cả độc quyền không thủ tiêu được tác động của quy luật giá trị và quy luật giá trị
thặng dư, vì xét trên phạm vi toàn xã hội thì: Tổng giá cả vẫn bằng tổng giá trị; tổng số lợi
nhuận vẫn bằng tổng số giá trị thặng dư.
Do đó những gì mà độc quyền thu được cũng là cái mà tầng lớp tư sản vừa và nhỏ, nhân dân
lao động ở các nước TB, thuộc địa mất đi.
sản so với trong cạnh tranh tự do. Sự thống trị của bọn tài phiệt đã làm nảy sinh chủ nghĩa
Lớp: DE11KT163
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
phát xít, chủ nghĩa quân phiệt, chạy đua vũ trang v v.nhằm áp bức bóc lột các nước đang
phát triển và chậm phát triển.
c) Xuất khẩu tư bản:
V.I.Lenin chỉ ra rằng: xuất khẩu hàng hóa là đặc điểm của giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự
do cạnh tranh, còn xuất khẩu tư bản là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền.
- Xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng
dư.
- Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm
mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư
bản đó.
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,xuất khẩu tư bản là tất yếu:
Vì trong các nước tư bản có hiện tượng "thừa tư bản", các nước phát triển đã tích lũy được
môt khối lượng tư bản lớn, cần tìm nơi đầu tư có nhiều lợi nhuận so với đầu tư ở trong nước.
trong khi đó, giá trị nguyên liệu và nhân công ở các nước chậm phát triển rẻ, nhưng lại thiếu
vốn và kỹ thuật nên tỷ suất lợi nhuận cao, hấp dẫn đầu tư tư bản và có thị trường tiêu thụ hàng
hóa rộng lớn.
Có hai hình thức xuất khẩu tư bản chủ yếu
- Xuất khẩu tư bản trực tiếp: Xây dựng các xí nghiệp, trực tiếp KD thu lợi nhuận,
- Xuất khẩu tư bản gián tiếp: Cho vay tư bản để thu lợi tức….
Xuất khẩu TB vừa có tác dụng tích cực vừa có tác dụng tiêu cực, đặc biệt là đối với các
nước nhận đầu tư, có thể dẫn tới tình trạng lệ thuộc về kinh tế, dẫn tới lệ thuộc về chính trị.
Việc xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài, là công
cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị, bóc lột, nô dịch của tư bản tài chính trên phạm vi toàn
cầu.
d) Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế
Việc xuất khẩu TB tăng lên về quy mô và mở rộng phạm vi tất yếu dẫn đến việc phân
chia thế giới về mặt kinh tế, nghĩa là phân chia lĩnh vực đầu tư TB, phân chia thị trường thế
nghĩa tư bản độc quyền.
a) Quan hệ giữa độc quyền và tự do cạnh tranh trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc
quyền.
Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do, độc quyền đối lập với cạnh tranh tự do. Nhưng sự
xuất hiện của độc quyền không làm thủ tiêu cạnh tranh tự do, trái lại, nó còn làm cho cạnh
tranh trở nên đa dạng, gay gắt và có sức phá hoại to lớn hơn.
Quan hệ cạnh tranh trong cntb độc quyền phát triển hơn so với trong cntb cạnh tranh tự
do. ở đây không chỉ tồn tại sự cạnh tranh giữa những người sản xuất nhỏ, giữa những nhà tư
bản vừa và nhỏ như trong cạnh tranh tự do mà có thêm các loại cạnh tranh:
- Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các xí nghiệp ngoài độc quyền. các tổ chức độc
quyền tìm cách chèn ép . chi phối, thôn tính các xí nghiệp ngoài độc quyền bằng nhiều biện
pháp để đánh bại đối thủ.
- Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau. Có thể trong cùng một ngành, các ngành
khác nhau nhưng có liên quan với nhau về nguồn nguyên nhiên liệu kết thúc bằng sự phá
sản của một bên, hoặc là sự thỏa hiệp.
- Cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền. Nhằm giành thị trường tiêu thụ, chiếm cổ
phiếu khống chế
b) quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư
Các tổ chức độc quyền hình thành do chính sự vận động nội tại của chủ nghĩa tư bản
sinh ra. Độc quyền là biểu hiện mới, mang những quan hệ mới nhưng nó không vượt ra khỏi
các quy luật của chủ nghĩa tư bản, mà chỉ là sự tiếp tục mở rộng,phát triển những xu thế sâu
sắc nhất của chủ nghĩa tư bản và nền sản xuất hàng hóa nói chung, nên nó cũng làm cho các
quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hóa và của chủ nghĩa tư bản có những biểu hiện mới.
Do chiếm được vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền đã áp đặt giá cả độc quyền,
thấp hơn khi mua và cao hơn khi bán. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là trong giai đoạn
chủ nghĩa tư bản độc quyền quy luật giá trị không còn hoạt động. về thực chất, giá cả độc
quyền vẫn không thoát ly và không phủ định cơ sở của nó là giá trị.
Nếu trong chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện tành quy luật giá
cả sản xuất, thì trong chủ nghĩa tư bản độc quyền quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá
cả độc quyền.
các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không muốn kinh doanh vì đầu tư lớn,
thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận (như giao thông vận tải, giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ
bản ). Nhà nước tư sản trong khi đảm nhiệm kinh doanh những ngành đó, tạo điều kiện cho
các tổ chức độc quyền tư nhân kinh doanh các ngành khác có lợi hơn.
Ba là, Sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giai cấp giữa giai
cấp tư sản và giai cấp vô sản, nhân dân lao động. Nhà nước phải có chính sách để giải quyết
những mâu thuẫn đó: Trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phat triển phúc lợi xã
hội.
Bốn là, Sự tích tụ và tập trung tư bản cao dẫn đến mâu thuẫn giữa các tổ chức độc
quyền với nhau, mâu thuẫn giữa tư bản độc quyền với các tổ chức kinh doanh vừa và
nhỏ….trở nên gay gắt.
Năm là, Cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự bành trướng của các tổ chức
liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột lợi ích
giữa các đối thủ trên thị trường thế giới. Đòi hỏi có sự điều tiết các quan hệ chính trị, kinh tế
quốc tế của nhà nước tư sản. Nhà nước tư sản có vai trò quan trọng để giải quyết các quan hệ
đó.
Ngoài ra, việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh với CNXH hiện thực và
tác động của cách mạng khoa học- công nghệ, đòi hỏi có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước.
b) Bản chất
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một nấc thang phát triển của CNTB độc quyền, là sự
kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư bản thành
một thiết chế và thể chế thống nhất nhằm phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu
nguy cho CNTB
Xét về bản chất chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước vẫn là chủ nghĩa tư bản, chịu sự chi
phối của quy luật giá trị thặng dư, mặc dù đã có nhiều thay đổi so với chủ nghĩa tư bản thời kỳ
canh tranh tự do.
Lớp: DE11KT163
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản
độc quyền, nhưng nó vẫn chưa thoát khỏi chủ nghĩa tư bản độc quyền.
sự biến đổi, không chỉ can thiệp vào nền sản xuất xã hội bằng thuế và phấp luật mà còn có vai
trò tổ chức và quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước.
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa nhằm duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, làm cho chủ nghĩa tư bản thích
nghi với điều kiện lịch sử mới.
2. Những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước so với chủ
nghĩa tư bản độc quyền cũ
Xét về phương diện lịch sử, chủ nghĩa tư bản vào thế kỷ XX trở lại đây đã có những biến đổi
sâu sắc, có thể coi như một bước phát triển mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
a) Những biểu hiện mới trong năm đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền
- Sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền:
Sự xuất hiện ngày càng nhiều những công ty độc quyền xuyên quốc gia bên cạnh sự phát triển
của các xí nghiệp vừa và nhỏ.
Hiện tượng liên kết đa dạng tiếp tục phát triển, sức mạnh của các consơn và
cônglômêrát ngày càng được tăng cường. Cách mạng khoa học công nghệ dường như biểu lộ
Lớp: DE11KT163
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
thành hai xu hướng đối lập nhau nhưng thực ra là thống nhất với nhau: xu hướng tập trung và
phi tập trung hóa. Sự xuất hiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ là do:
Thứ nhất: việc ứng dụng các thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ cho phép
tiêu chuẩn hóa và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu rộng, dẫn tới hình thành hệ thống
gia công, nhất là trong những ngành sản xuất ô tô, máy bay, đồ điện, cơ khí, dệt, may mặc, đồ
trang sức, xây dựng nhà ở.
Nhìn bề ngoài, dường như đó là hiện tượng "phi tập trung hóa", nhưng thực chất đó chỉ
là một biểu hiện mới của sự tập trung sản xuất, trong đó các hãng vừa và nhỏ lệ thuộc và chịu
sự chi phối của các chủ hãng lớn về công nghệ, vốn, thị trường, v.v
Thứ hai: những ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cơ chế thị trường.
Những doanh nghiệp vừa và nhỏ nhạy cảm với thay đổi trong sản xuất, linh hoạt ứng phó
với tình hình biến động của thị trường, mạnh dạn trong việc đầu tư vào những ngành mới đòi
hỏi sự mạo hiểm, kể cả những ngành lúc đầu ít lợi nhuận và những ngành sản phẩm đáp ứng
tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau. Nguyên nhân chủ yếu của sự chuyển hướng đầu tư nói
trên là:
Lớp: DE11KT163
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
+ Về phía các nước đang phát triển, phần lớn những nước này ở trong tình hình chính
trị thiếu ổn định; thiếu môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi; thiếu đội ngũ chuyên gia, cán
bộ khoa học - kỹ thuật, trình độ dân trí thấp không đủ mức cần thiết để tiếp nhận đầu tư nước
ngoài.
+ Về phía các nước TBCN phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ làm xuất
hiện nhiều ngành sản xuất và dịch vụ mới, nhất là những ngành có hàm lượng khoa học cao,
đòi hỏi lượng vốn lớn để đầu tư vào nghiên cứu KH-KT và sản xuất. Có một sự di chuyển vốn
trong nội bộ các công ty độc quyền xuyên quốc gia. Các công ty này cắm chi nhánh ở nhiều
nước, nhưng phần lớn chi nhánh của chúng đặt ở các nước TBCN phát triển. Để vượt qua
những hàng rào bảo hộ mậu dịch và khắc phục những trở ngại do việc hình thành các khối
liên kết như EU, NAFTA các công ty xuyên quốc gia đã đưa tư bản vào trong các khối đó
để phát triển sản xuất.
Tuy nhiên, một loạt công ty ở các nước Anh, Pháp, Hà Lan đã vượt qua cả lệnh cấm
vận của Mỹ để đầu tư vào các nước đang phát triển. Chẳng hạn họ đầu tư thăm dò và khai
thác dầu khí ở Việt Nam, đó là bằng chứng rõ rệt chứng minh cho xu hướng trên. Sở dĩ như
vậy là vì tình trạng thiếu dầu khí và những kim loại quý hiếm vẫn đang là "gót chân Asin" của
nền kinh tế các nước TBCN phát triển, trong khi đó các nước đang phát triển giàu tài nguyên
lại thiếu vốn và kỹ thuật để khai thác.
- Sự phân chia thế giới giữa các liên minh của chủ nghĩa tư bản:
Xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá ngày càng tăng bên cạnh xu hướng khu vực hóa nền kinh
tế. Sức mạnh và phạm vi bành trướng của các công ty độc quyền xuyên quốc gia tăng lên
càng thúc đẩy xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế và sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa
chúng với nhau, đồng thời thúc đẩy việc hình thành CNTB độc quyền nhà nước quốc tế.
Cùng với xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá đời sống kinh tế lại diễn ra hiện tượng khu
vực hóa, hình thành ngày càng nhiều liên minh kinh tế khu vực như: Liên hợp châu Âu (EU),
Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình
nên đa dạng: nó vừa bao gồm các xí nghiệp thuộc nhà nước trong các ngành sản xuất vật
chất, vừa bao gồm các tổ chức tài chính thuộc ngân hàng, ngành kinh tế thứ ba (dịch vụ), cùng
những công trình cơ sở hạ tầng xã hội mới xây dựng do nhà nước TBCN đầu tư.
- Kinh tế thuộc nhà nước và tư nhân kết hợp tăng lên mạnh mẽ: Năm 1979, trong 40
công ty công nghiệp lớn nhất của Tây Âu có 7 công ty hỗn hợp vốn giữa nhà nước và tư nhân,
trong đó vốn nhà nước chiếm khoảng một nửa. Trong công ty dầu lửa của Mỹ, cổ phần do
Chính phủ nắm là 46%. ở Cộng hoà Liên bang Đức đã có 1.000 xí nghiệp thuộc Nhà nước và
tư nhân kết hợp.
- Chi tiêu tài chính của các nhà nước TB phát triển dùng để điều tiết quá trình tái sản xuất xã
hội tăng lên nhiều : Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, khoản chi này chiếm khoảng 10% tỷ
trọng tổng giá trị sản phẩm quốc dân, thì đến đầu những năm 1980, khoản chi này đã chiếm
hơn 30%, cá biệt có nước vượt quá 50%.
-Phương thức điều tiết của nhà nước cũng thay đổi một cách linh hoạt, mềm dẻo hơn, kết hợp
điều tiết tình thế với điều tiết dài hạn. Các công cụ và phạm vi điều tiết của nhà nước cũng đa
dạng và mở rộng hơn.
4. Sự biến đổi thích nghi của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay và hành
động của chúng ta
Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa tư bản luôn tìm cách thích nghi trước sự biến đổi
nhanh chóng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế, chính trị quốc tế, nhưng bản chất của
chúng vẫn không thay đổi. Bởi vậy, trong quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta
phải đề cao cảnh giác, chủ động chống lại âm mưu "diễn biến hòa bình", ra sức phát huy nội
lực và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Chủ nghĩa tư bản ra đời cách đây hơn 500 năm và có bốn lần thay đổi lớn. Vào giữa
thế kỷ thứ XVIII, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ nhất nổ ra, chủ nghĩa tư bản
nông nghiệp và thương nghiệp chuyển thành chủ nghĩa tư bản công nghiệp và tự do cạnh
tranh. Cuối thế kỷ thứ XIX, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ hai xuất hiện, chủ
nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền. Từ sau cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới vào những năm 30 của thế kỷ XX và rõ nhất là sau chiến tranh thế giới
thứ hai, chủ nghĩa tư bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Bắt
đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học -
tiền vốn, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và thị trường làm công cụ, cùng với các
thủ đoạn chính trị, ngoại giao, văn hóa, tư tưởng để thực hiện "diễn biến hòa bình", "giành
thắng lợi không cần chiến tranh" hay còn được gọi là "một thứ chiến tranh không có khói
súng". Nếu trong thời kỳ "chiến tranh lạnh", chiến lược của chủ nghĩa đế quốc là "ngăn chặn",
dẫn đến sự xuất hiện của chủ nghĩa cơ hội trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản ở một số nước
xã hội chủ nghĩa, thì ngày nay chúng tiến hành chiến lược "vượt trên ngăn chặn", tấn công
thẳng vào hệ thống chính trị của các nước xã hội chủ nghĩa bằng âm mưu "diễn biến hòa
bình".
Nhìn lại thế giới trong mấy thập kỷ qua, chúng ta thấy nổi lên các sự kiện chứng minh
bản chất xâm lược, thôn tính của chủ nghĩa đế quốc hiện đại. Nói cách khác, trong thời đại
ngày nay, bản chất của chủ nghĩa đế quốc không hề thay đổi mà chỉ có sự thích nghi của
chúng trước những biến đổi của tình hình.
Việc gia nhập nền kinh tế của thế giới đang đưa lại cho nước ta nhiều cơ hội lớn:
- Có điều kiện thuận lợi để tiếp cận thị trường thế giới, thu hút đầu tư, tiếp thu kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý của các nước tư bản phát triển, nhằm phát
triển lực lượng sản xuất cũng như nền sản xuất xã hội.
- Đối diện với các cuộc cạnh tranh quyết liệt và điều đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp ở
nước ta đổi mới, năng động hơn để tồn tại, phát triển và thúc đẩy người lao động phấn đấu
nâng cao kỹ năng lao động để đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động.
- Cho phép nước ta cải thiện vị trí của mình khi tham gia vào việc xác định các quy chế
thương mại toàn cầu và có điều kiện để đấu tranh bảo vệ lợi ích của mình trong việc giải
quyết các tranh chấp thương mại, tránh mọi sự phân biệt đối xử.
- Chúng ta phải cải cách hệ thống ngoại thương để bảo đảm tính thống nhất, minh bạch
của các chính sách thương mại; bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật cho phù hợp với luật
pháp quốc tế . Những việc làm này sẽ có tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của nước ta.
Tuy nhiên, cần nhận thức sâu sắc rằng, những cơ hội trên đây chỉ là những điều kiện,
khả năng, chứ không tự động trở thành hiện thực. Việc có tận dụng và biến chúng thành hiện
Lớp: DE11KT163
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
giới chỉ là một trong các phương tiện để đi đến mục tiêu đó. Cái thiếu nhất của nền kinh tế
nước ta là thiếu một lực lượng sản xuất phát triển. Đảng ta đã đề ra chủ trương phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO để phát triển lực
lượng sản xuất và trên cơ sở đó, từng bước xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, làm
cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Ba là, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta phải ra sức phát huy nội lực, vì
chỉ trên cơ sở nội lực được phát huy, mới thu hút mạnh đầu tư nước ngoài và mới có điều kiện
để kết hợp nội lực với ngoại lực trong công cuộc xây dựng đất nước.
Bốn là, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta phải nỗ lực vượt bậc để tranh
thủ tối đa ngoại lực, nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời giữ vững định hướng
XHCN trong công cuộc xây dựng đất nước.
Năm là, chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác, liên minh với các nước,
nhưng hội nhập mà không hòa nhập, hợp tác chân thành nhưng không từ bỏ đấu tranh chống
lại các âm mưu đen tối của các thế lực thù địch, vì chỉ có đấu tranh thì mới thực hiện được
mục tiêu của hợp tác.
Trong mấy chục năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã phải đối phó với các âm
mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Cái cốt lõi của "diễn biến hòa bình" là tạo
Lớp: DE11KT163
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN GVHD: ĐỖ THẮNG
ra lực lượng tại chỗ để tiến hành cuộc thay đổi chế độ. Để làm được điều đó, chúng tìm cách
thay đổi ý thức xã hội của quần chúng nhân dân, trước hết là ý thức chính trị.
Các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, đài phát thanh, đài truyền hình, mạng
Internet được chúng sử dụng một cách tối đa vào cuộc tiến công xuyên tạc đó. Đồng thời,
chúng sử dụng các vấn đề "tự do", "dân chủ", "nhân quyền" và tôn giáo, dân tộc để kích động
ly khai chế độ mà chúng ta xây dựng. Chúng vu cáo "Cộng sản cấm đạo" và tìm cách phát
triển tôn giáo ở các vùng dân tộc ít người, làm hậu thuẫn cho những phần tử xấu trong tôn
giáo tập hợp lực lượng để chống lại Đảng và Nhà nước ta.
Bên cạnh đó, chúng lợi dụng chính sách mở cửa, giao lưu văn hóa của chúng ta để gieo
rắc những quan điểm, giá trị phương Tây, phát triển văn hóa xa rời chuẩn mực thẩm mỹ, lối
sống, đạo đức truyền thống, hồi phục đồi phong, hủ tục, mê tín dị đoan, làm băng hoại bản sắc
tính chất phiêu lưu quân sự trong giải quyết vấn đề khu vực của chủ nghĩa đế quốc vẫn tiếp
tục tăng lên. Đó cũng là bản chất của chúng trong tình hình mới mà những người cách mạng
phải thấy rõ để không lơ là cảnh giác khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, phải
thấy rằng, âm mưu của chủ nghĩa đế quốc xuất phát từ bản chất của chúng, nhưng âm mưu đó
có thực hiện được hay không, điều đó không chỉ phụ thuộc vào chúng mà còn phụ thuộc vào
đường lối, sách lược của Đảng ta, sự đối phó của nhân dân ta và phong trào đấu tranh của loài
người tiến bộ. Chúng ta tin tưởng rằng, với đường lối, sách lược đúng đắn của Đảng và sự nỗ
lực phấn đấu của toàn dân, chúng ta nhất định đối phó có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn
của các thế lực thù địch.
Lớp: DE11KT163