Luận văn Tính độc lập của Kiểm toán viên lý luận và thực tiễn - Pdf 26

Mc lc
Mc Trang
Trang
Li núi u 3
Ph n I : c s lớ lu n v tớnh c l p c a ki m toỏn viờn 4
1.1. Khỏi quỏt chung v ki m toỏn 4
1.1.1. Khỏi ni m, b n ch t, ch c n ng, ý ngh a 4
1.1.2. Ki m toỏn viờn v phõn lo i ki m toỏn viờn. 5
1.1.3. L nh v c ki m toỏn. 8
1.1.4. T ch c b mỏy ki m toỏn. 9
1.1.5. D ch v ki m toỏn. 10
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân

Công trình nghiên cứu khoa học
Đề tài: Tính độc lập của kiểm toán viên- lý luận và thực tiễn
Giáo viên hớng dẫn: ThS. Phan Trung Kiên
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Nguyễn Thị Nga
Nguyễn Huy Quang
Tống Thị Huyền Trang
Lớp : Kiểm toán 45A
Khoa : Kế toán
Hà Nội, Tháng 2- 2006
1.2. Tính c l p c a ki m toán viên.độ ậ ủ ể 12
1.2.1. Tính c l p c a ki m toán viên nh n c.độ ậ ủ ể à ướ 13
1.2.2. Tính c l p c a ki m toán viên c l p.độ ậ ủ ể độ ậ 14
1.1.3. Tính c l p c a ki m toán viên n i bđộ ậ ủ ể ộ ộ 16
PH n II. Tính c l p c a ki m toán viên trong th c h nh ki m toán ầ độ ậ ủ ể ự à ể ở
Vi t Nam.ệ 18
2.1. Tính c l p c a ki m toán viên trong quá trình ki m toán.độ ậ ủ ể ể 18

mục đích kiểm tra độc lập của nó thì vẫn được duy trì và củng cố. Vấn đề đặt
ra là trong khi các cổ đông, các ngân hàng đều hi vọng hoạt động kiểm toán
là độc lập, kết quả mà một cuộc kiểm toán mang lại là hoàn toàn đáng tin cậy
thì thực sự có được như họ mong đợi hay không. Do đó, một điều rất quan
trọng là các kiểm toán viên phải độc lập trong mỗi cuộc kiểm toán mà họ
tham gia, nếu không hoạt động kiểm toán sẽ mất đi ý nghĩa của nó.
Có thể thấy rằng hiểu như thế nào cho đúng về tính độc lập của kiểm
toán viên cũng không phải là điều đơn giản. Vấn đề này đã được nhắc đến
nhiều trong các văn bản và các sách viết về kiểm toán khác nhau. Tuy nhiên
trong quá trình học tập nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, chúng tôi thấy
đây là một vấn đề hay và còn có thể nghiên cứu và khai thác thêm, vì vậy
chúng tôi đã lùa chọn đề tài: “Tính độc lập của kiểm toán viên- lý luận và
thực tiễn ”.
Hi vọng rằng đề tài sẽ có tính ứng dụng cao, có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo cho các kế toán, kiểm toán viên cũng như sinh viên
chuyên ngành kế toán, kiểm toán trong các trường đại học.
3
Phần I : cơ sở lí luận về tính độc lập của kiểm toán viên
1.1. Khái quát chung về kiểm toán
Trước khi nghiên cứu về tính độc lập của kiểm toán viên, chúng ta cần
phải hiểu về hoạt dộng kiểm toán một cách sơ bộ để có thể thấy được tầm
quan trọng cũng như ý nghĩa của đề tài.
1.1.1. Khái niệm, bản chất, chức năng, ý nghĩa
Khái niệm: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng
về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù
hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình
kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc
lập.”(Auditing_ an integrated approach, Alvin A.Aren, J.K. Locbbecke,
Prentice Hall, 1997)
Bản chất của kiểm toán: kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về

1.1.2. Kiểm toán viên và phân loại kiểm toán viên.
Tính độc lập gắn liền với kiểm toán viên, do đó việc nghiên cứu tính
độc lập cũng cần phải gắn liền với việc nghiên cứu kiểm toán viên.
Kiểm toán viên là khái niệm chung chỉ những người làm công tác
kiểm toán cụ thể có trình độ nghiệp vụ tương xứng với công việc đó. Kiểm
toán viên theo nghĩa hẹp thường được hiểu là kế toán viên công chứng
(CPA), tuy nhiên trên cả lý luận và thực tế, khái niệm kiểm toán viên bao
gồm kiểm toán viên nhà nước, kiểm toán viên độc lập và kiểm toán viên nội
bộ.
a. Kiểm toán viên nhà nước.
Kiểm toán viên nhà nước là những công chức, viên chức nhà nước làm
nghề kiểm toán. Do đó họ được tuyển chọn và hoạt động do tổ chức kiểm
5
toán nhà nước phân công theo quy định của pháp luật. Đồng thời họ được
xếp vào các ngành bậc chung của công chức (theo tiêu chuẩn cụ thể của từng
nước trong từng thời kì):
• Kiểm toán viên dự bị;
• Kiểm toán viên;
• Kiểm toán viên chính;
• Kiểm toán viên cao cấp.
Kiểm toán viên nhà nước phải có đủ các tiêu chuẩn của cán bộ, công
chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức và các tiêu chuẩn sau
đây:
• Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung
thực, khách quan;
• Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành
kiểm toán, kế toán, tài chính, ngân hàng, kinh tế luật hoặc chuyên
ngành khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động kiểm toán;
• Đã có thời gian làm việc liên tục năm năm trở lên theo chuyên ngành
được đào tạo hoặc có thời gian làm nghiệp vụ kiểm toán ở Kiểm toán

quan đến kiểm toán. Tuy nhiên những người này cũng cần có trình độ nghiệp
vụ tương xứng, có thể được đào tạo qua trường líp. Trong một số trường hợp,
kiểm toán viên nội bộ cũng có thể là kiểm toán viên chuyên nghiệp như các
giám định viên, các kiểm soát viên chuyên nghiệp. Người được bổ nhiệm
hoặc được giao nhiệm vụ làm kiểm toán viên nội bộ phải có đủ các tiêu
chuẩn sau:
• Có phẩm chất trung thực khách quan, chưa có tiền án tiền sự;
• Đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán hoặc
quản trị kinh doanh;
7
ó cụng tỏc trong lnh vc qun lớ ti chớnh, k toỏn t nm nm tr
lờn, trong ú cú ít nht 3 nm kinh nghim lm vic ti doanh nghip
ni c giao nhim v kim toỏn viờn;
ó qua hun luyn v nghip v kim toỏn, kim toỏn ni b theo ni
dung chng trỡnh thng nht ca B Ti chớnh v c cp chng
ch.
1.1.3. Lnh vc kim toỏn.
Trờn c s hiu mt cỏch khỏi quỏt chung v bn cht chc nng ca
kim toỏn v v kim toỏn viờn, cn hiu nhng iu ú mt cỏch c th vo
tng loi hỡnh kim toỏn. Cng nh cỏc hot ng khỏc, kim toỏn cú th
phõn loi theo nhiu tiờu thc khỏc nhau m trc ht l theo tng lnh vc
kim toỏn. Theo cỏch ny, kim toỏn cú th phõn thnh kim toỏn (bỏo cỏo)
ti chớnh, kim toỏn nghip v (hot ng) v kim toỏn tuõn th.
a. Kim toỏn ti chớnh.
Kim toỏn ti chớnh l hot ng xỏc minh v by t ý kin v s trỡnh
by trung thc v hp lý ca cỏc bỏo cỏo ti chớnh. Kim toỏn ti chớnh
thng c thc hin bi cỏc kim toỏn viờn c lp v kim toỏn viờn nh
nc. Kt qu ca kim toỏn bỏo cỏo ti chớnh s phc v cho n v, Nh
nc v cỏc bờn th ba, nhng ch yu l phc v cho cỏc bờn th ba nh c
ụng, nh u t, ngõn hng h a ra nhng quyt nh kinh t ca

là các kiểm toán viên nhà nước không nhất thiết phải có chứng chỉ CPA.
Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ.
Kiểm toán nhà nước tiến hành các cuộc kiểm toán mang tính chất bắt buộc
9
theo kế hoạch hàng năm, được thủ tướng chính phủ phê duyệt và không thu
phí kiểm toán. Báo cáo kiểm toán có giá trị pháp lý cao.
b. Kiểm toán độc lập.
Kiểm toán độc lập là tổ chức của các kiểm toán viên chuyên nghiệp
hành nghề kiểm toán, kinh doanh các dịch vụ kế toán, tư vấn. Chủ thể kiểm
toán là các kiểm toán viên độc lập nhất thiết phải có chứng chỉ CPA. Lĩnh
vực kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tài chính. Kiểm toán độc lập tiến hành
các cuộc kiểm toán có thu phí kiểm toán và trên cơ sở có thoả thuận với
khách hàng. Báo cáo kiểm toán có giá trị pháp lý cao do chủ thể kiểm toán
hoàn toàn độc lập về quan hệ xã hội và quan hệ kinh tế với khách thể kiểm
toán.
c. Kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán nội bộ là tổ chức của các kiểm toán viên không chuyên
nghiệp thực hiện kiểm toán, phục vụ mục đích quản trị nội bộ trong doanh
nghiệp. Chủ thể kiểm toán là các kiểm toán viên nội bộ, thông thường là các
kiểm toán viên không chuyên nghiệp. Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu là kiểm
toán nghiệp vụ và kiểm toán tuân thủ. Kiểm toán nội bộ tiến hành các cuộc
kiểm toán mang tính chất bắt buộc mà không thu phí kiểm toán. Tính độc lập
của kiểm toán nội bộ chỉ mang tính tương đối, do kiểm toán nội bộ là một bộ
phận của doanh nghiệp nên không thể hoàn toàn độc lập được. Báo cáo kiểm
toán chỉ có giá trị trong nội bộ doanh nghiệp.
1.1.5. Dịch vụ kiểm toán.
Nghiên cứu về đặc điểm dịch vụ kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng
tới chất lượng dịch vụ kiểm toán cho phép chúng ta thấy được tầm quan
trọng của tính độc lập của kiểm toán viên và mối liên hệ ràng buộc giữa việc
tăng cường tính độc lập của kiểm toán viên và nâng cao chất lượng dịch vụ

11
thuộc vào khách hàng, các kiểm toán viên là những người làm công ăn lương
cho nhà nước. Trong trường hợp này, tiền lương và tiền thưởng cho các kiểm
toán viên nhà nước càng cần phải được chú ý hơn để tránh việc nhận tiền từ
phía đơn vị được kiểm toán. Đối với kiểm toán nội bộ, các kiểm toán viên
nội bộ sẽ được trả lương bởi chính các đơn vị đi thuê họ. Khi đó các đơn vị
nên trả cho họ một khoản thù lao tương xứng với công sức mà họ đã bỏ ra để
họ luôn có động lực làm tốt công việc.
Việc thực hiện và tuân thủ các quy định trong hợp đồng kiểm toán: khi
các kiểm toán viên chấp hành cũng như tuân thủ tốt các quy định trong hợp
đồng kiểm toán, thì các yêu cầu từ phía khách hàng về kết quả kiểm toán sẽ
được đảm bảo. Như vậy đối với khách hàng, chất lượng dịch vụ kiểm toán
cũng đạt yêu cầu.
1.2. Tính độc lập của kiểm toán viên.
Chóng ta đã nhắc nhiều tới tính độc lập của kiểm toán viên, vậy độc
lập là gì? Theo cuốn “Kiểm toán” của hai tác giả A.A. Aren và J.K.
Locbbecke: Tính độc lập trong kiểm toán có nghĩa là việc có một quan điểm
vô tư khi thực hiện các cuộc khảo sát kiểm toán, đánh giá các kết quả và
công bố các báo cáo kiểm toán. Tính độc lập nhất định phải được xem như
một trong những phẩm chất chủ yếu nhất của kiểm toán viên. LÝ do mà rất
nhiều người sử dụng thuộc nhiều thành phần khác nhau sẵn sàng dùa vào các
báo cáo của kiểm toán viên về tính trung thực của các báo cáo tài chính là sự
tin tưởng của họ vào quan điểm vô tư đó.
Tính độc lập không đòi hỏi người đưa ra ý kiến đánh giá nghề nghiệp
phải hoàn toàn độc lập về các quan hệ kinh tế, tài chính và các mối quan hệ
khác vì các thành viên trong xã hội đều có mối quan hệ với nhau. Các mối
quan hệ về kinh tế, tài chính và các quan hệ khác cần được đánh giá thoả
đáng xem có ảnh hưởng đến tính độc lập hay không. Nếu xét thấy chúng có
ảnh hưởng đến tính độc lập thì các mối quan hệ đó không chấp nhận được.
12

kiểm toán và góp phần nâng cao chất lượng của báo cáo kiểm toán.
Chuẩn mực này giúp kiểm toán viên xác định rõ quy định có tính
nguyên tắc trong hoạt động và yêu cầu về phẩm chất nghề nghiệp kiểm toán
nhà nước.
Tính độc lập, khách quan và chính trực trong hoạt động của kiểm toán
viên yêu cầu:
• Khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên chỉ tuân thủ pháp luật và
các chuẩn mực, quy trình kiểm toán.
• Phải thẳng thắn, trung thực và có lương tâm nghề nghiệp, tôn trọng
lợi Ých của Nhà nước, của nhân dân, làm hết sức mình vì sự lành
mạnh của nền tài chính quốc gia và của cơ sở đang kiểm toán.
• Không để cho những định kiến thiên lệch lấn át tính khách quan.
• Phải có thái độ quan điểm vô tư, không bị các lợi Ých vật chất và
các quyền lợi cá nhân chi phối.
Không được kiểm toán ở những đơn vị mà ở đó kiểm toán viên có quan hệ
họ hàng ruột thịt (bố, mẹ, vợ, hoặc chồng con, anh chị em ruột) với những
người giữ chức vụ lãnh đạo và có quan hệ về lợi Ých kinh tế (góp vốn, mua
cổ phần cho vay vốn ) ở đơn vị được kiểm toán.
1.2.2. Tính độc lập của kiểm toán viên độc lập.
Tính độc lập của kiểm toán viên độc lập trên thế giới được quy định
trong chuẩn mực đạo đức của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), còn ở Việt
Nam thì được quy định trong quyết định số 87/2005/QĐ-BTC về việc ban
hành và công bố Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt
Nam. Về cơ bản, chuẩn mực đạo đức của Việt Nam hoàn toàn dùa trên chuẩn
mực đạo đức Quốc tế, do đó nội dung của những quy định về tính độc lập
của kiểm toán viên độc lập là khá giống nhau. Cụ thể:
14
Tính độc lập bao gồm:
Độc lập về tư tưởng – là trạng thái suy nghĩ cho phép đưa ra ý kiến mà
không chịu ảnh hưởng của những tác động trái với những đánh giá chuyên

về tính độc lập thì kiểm toán viên hành nghề, người hành nghề kế toán phải
tìm mọi cách loại bỏ sự hạn chế này. Nếu không thể loại bỏ được thì phải
nêu rõ điều này trong báo cáo kiểm toán hoặc báo cáo dịch vô kế toán.
1.1.3. Tính độc lập của kiểm toán viên nội bộ
Theo “Các chuẩn mực Nghề nghiệp Hoạt động Kiểm toán Nội bộ”
được Viện Kiểm toán viên Nội bộ Hoa Kì thông qua tháng 6 năm 1978, có
quy định về tính độc lập của kiểm toán viên nội bộ:
100 Tính độc lập – kiểm toán viên nội bộ phải độc lập với những hoạt động
mà họ kiểm toán.
Kiểm toán viên nội bộ độc lập khi họ có thể thực hiện công việc của
mình một cách tự do và khách quan. Tính độc lập cho phép kiểm toán
viên nội bộ có những phán đoán khách quan và không thành kiến, cần
thiết để tiến hành đúng đắn những cuộc kiểm toán. Điều này đạt được
nhờ địa vị trong tổ chức và tính khách quan.
110 Địa vị trong tổ chức - Địa vị trong tổ chức của bộ phận kiểm toán nội bộ phải
thỏa đáng để cho phép hoàn thành nhiệm vụ kiểm toán.
Kiểm toán viên nội bộ phải được sự ủng hộ của ban giám đốc và hội
đồng quản trị để họ có được sự cộng tác của những bộ phận được kiểm
toán và để công việc của họ không bi can thiệp.
120 Kiểm toán viên nội bộ phải khách quan khi khi làm các cuộc kiểm toán.
Khách quan là thái độ tinh thần độc lập mà kiểm toán viên nội bộ phải
có trong khi thực hiện kiểm toán. kiểm toán viên nội bộ không để cho
nhận định của mình về các vấn đề kiểm toán lệ thuộc vào nhận định
của người khác.
16
Tính khách quan đòi hỏi kiểm toán viên nội bộ thực hiện các cuộc
kiểm toán một cách trung thực trong công việc của họ và không có sự
thỏa hiệp về chất lượng đáng kể nào xảy ra. Kiểm toán viên nội bộ
không để mình lâm vào tình trạng không có khả năng nhận định nghề
nghiệp một cách khách quan.

Kiểm toán Nhà nước là loại hình kiểm toán do các kiểm toán viên là
công chức của Nhà nước tiến hành. Tuỳ theo từng quốc gia, có thể có những
kiểm toán viên nhà nước khác nhau như các kiểm soát viên thuế vụ, các
thanh tra, các kiểm toán viên thuộc Cơ quan Kiểm toán nhà nước. Tuy nhiên
dù là dưới hình thức nào thì trong quá trình thực hiện công việc kiểm toán
được phân công thì các kiểm toán viên luôn luôn phải độc lập và tỏ ra độc
lập để hoạt động kiểm toán đạt chất lượng và hiệu quả.
Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, các kiểm toán viên muốn đảm
bảo tính độc lập thì trước hết phải độc lập khảo sát và thu thập thông tin về
đơn vị được kiểm toán, đây là cơ sở để đề ra một kế hoạch kiểm toán thích
hợp. Khảo sát để thu thập thông tin cần thiết về đặc điểm tổ chức, quản lý
18
cũng như tình hình, kết quả hoạt động của đơn vị được kiểm toán nhằm giúp
kiểm toán viên xác định những nội dung quan trọng cần tập trung kiểm toán,
làm cơ sở để đề ra một kế hoạch kiểm toán thích hợp, giảm thiểu rủi ro kiểm
toán. Để khảo sát thông tin về đơn vị được kiểm toán thì trong giai đoạn này
các kiểm toán viên phải độc lập và tự mình thực hiện những công việc như:
phỏng vấn, trao đổi, quan sát thực tế quá trình làm việc và hoạt động của đơn
vị, tập hợp các tài liệu về tình hình hoạt động của đơn vị. Từ các thông tin
thu thập được kiểm toán viên sẽ độc lập tiến hành phân tích, nghiên cứu và
dùa vào đó để đánh giá mức độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ, xác
định những điểm mạnh, yếu và các vấn đề cần chú ý trong quá trình kiểm
toán.
Trong giai đoạn này các kiểm toán viên Nhà nước trước hết phải tuân
thủ các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp. Trong đó độc lập là nguyên tắc
hành nghề cơ bản của kiểm toán viên. Từ đó để có thể tiếp tục lập các kế
hoạch kiểm toán đúng đắn. Ở Việt Nam thì quá trình khảo sát và điều tra của
kiểm toán viên Nhà nước chủ yếu là dùa vào hệ thống tài liệu đã được lưu trữ
từ các cuộc kiểm toán trước. Mặt khác do hoạt động kiểm toán ở nước ta
được quy định bằng một hệ thống văn bản pháp luật chặt chẽ nên tính độc

định của pháp luật về kiểm toán. Chẳng hạn trong quá trình kiểm toán thì
phải chuẩn bị các điều kiện như thành lập đoàn kiểm toán, phổ biến quy chế
làm việc của đoàn kiểm toán, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho kiểm toán
viên trước mỗi cuộc kiểm toán, và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho đoàn
kiểm toán.
Sau khi lập kế hoạch kiểm toán và đảm bảo các điều kiện cần thiết cho
quá trình kiểm toán nhất là việc đảm bảo tính độc lập của kiểm toán viên
trong quá trình kiểm toán thì sẽ công bố quyết định kiểm toán.
b. Kiểm toán độc lập
20
Đối với kiểm toán độc lập thì đây là giai đoạn rất quan trọng vì nó
quyết định hiệu quả của một cuộc kiểm toán cũng như danh tiếng của công ty
kiểm toán đó. Vì vậy trong giai đoạn này, hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt
nam cũng như trên thế giới phải chuẩn bị kĩ cho cuộc kiểm toán cũng như là
đảm bảo sự độc lập trong quá trình kiểm toán. Một điều mà bất cứ một kiểm
toán viên chuyên nghiệp nào cũng hiểu rất rõ là khi một kiểm toán viên bị
coi là phụ thuộc hay tính độc lập của kiểm toán viên đó bị hạn chế thì kết quả
của báo cáo kiểm toán đó sẽ không có ý nghĩa để các đối tượng quan tâm đến
doanh nghiệp sử dụng được. Vì các thông tin báo cáo tài chính đó đã bị làm
sai lệch đi rất nhiều. Vì vậy trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán thì việc tiếp
nhận khách hàng rất quan trọng. Công ty kiểm toán khi được mời kiểm toán
phải tìm hiểu rõ về khách hàng đó, dù là khách hàng truyền thống hay là
khách hàng mới. Quá trình tìm hiểu thông tin về khách hàng sẽ có tác dụng
giúp công ty kiểm toán, một là đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của công
ty đó; hai là giúp kiểm toán viên lập được kế hoạch và phương pháp kiểm
toán phù hợp, đặc biệt là chỉ định kiểm toán viên thực hiện công việc kiểm
toán. Một kiểm toán viên phải độc lập với công ty được kiểm toán cả về quan
hệ kinh tế cũng như quan hệ xã hội thì mới có thể thực hiện tốt công việc
kiểm toán được.
Chóng ta đều biết rằng một báo cáo kiểm toán sẽ Ýt có giá trị trừ khi

luật và đạo đức nghề nghiệp. Kiểm toán viên không nên nhận lời kiểm toán
khi tính độc lập không được đảm bảo hoặc xét thấy không đủ năng lực phục
vụ khách hàng.
Cũng như kiểm toán nhà nước việc phân công kiểm toán viên thực
hiện kiểm toán rất quan trọng. Theo 87/2005/QĐ-BTC có viết rằng: “Độc lập
là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên. Chuẩn mực đạo đức
nghề nghiệp kế toán, kiểm toán yêu cầu mọi kiểm toán viên hành nghề và
thành viên nhóm kiểm toán cung cấp dịch vụ kiểm toán (dịch vụ đảm bảo),
22
công ty kiểm toán phải độc lập với các khách hàng sử dông dịch vụ kiểm
toán. Do vậy việc phân công kiểm toán viên phải đảm bảo rằng kiểm toán
viên đó phải độc lập với khách hàng kiểm toán. Có như vậy thì việc lập kế
hoạch kiểm toán cũng như việc thực hiện kế hoạch kiểm toán mới thực sự có
chất lượng và đạt hiệu quả cao. Theo VSA200 kiểm toán viên phải tuân thủ
các quy tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán như sau: độc lập, chính trực,
khách quan, năng lực chuyên môn và tính hệ trọng, tính bí mật, tư cách nghề
nghiệp và tuân thủ chuyên môn.
Khi thấy rằng có thể nhận lời mời kiểm toán, kiểm toán viên sẽ trao
đổi và thoả thuận sơ bộ với khách hàng về mục đích và phạm vi kiểm toán,
việc cung cấp tài liệu kế toán, các phương tiện cần thiết cho cuộc kiểm toán
của khách hàng, vấn đề sử dụng nhân viên của khách hàng để tiết kiệm thời
gian và chi phí kiểm toán, vấn đề kiểm tra số dư đầu kì đối với khách hàng
mới, phí kiểm toán để tránh mâu thuẫn lợi Ých giữa hai bên làm giảm tính
độc lập của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán.
Sau khi đã đạt được một số thoả thuận giữa hai bên thì hợp đồng kiểm
toán được kí kết và đưa ra một bản cam kết bảo đảm tính độc lập trong quá
trình kiểm toán. Bản cam kết về sự độc lập này sẽ là ràng buộc đối với cả
công ty kiểm toán cũng như đơn vị mời kiểm toán.
Bản cam kết V/v
Bản cam kết tính độc lập của kiểm toán viên

lập là một hoạt động hết sức đặc biêt. Vì nó là hoạt động đảm bảo và tư vấn
mang tính độc lập, khách quan được thiết lập nhằm tăng thêm giá trị và cải
thiện cho các hoạt động của tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp tổ chức hoàn
thành mục tiêu thông qua việc đưa ra một cách tiếp cận có hệ thống và kỷ
cương nhằm đánh giá và cải thiện tính hữu hiệu trong quản trị rủi ro, kiểm
24
soát và giám sát. Do đó một khi hoạt động kiểm toán nội bộ hoạt động có
hiệu quả thì đó là một điều kiện rất thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng và
phát triển hơn nữa. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán thì lập kế hoạch
công việc kiểm toán bao gồm lập kế hoạch kiểm toán cho từng năm và cho
từng cuộc kiểm toán cụ thể. Đây là công việc rất quan trọng thể hiện chiến
lược trong quá trình kiểm toán nội bé.
Kiểm toán nội bộ là một bộ phận của doanh nghiệp được kiểm toán.
Vì vậy muốn hoạt đông kiểm toán có hiệu quả thì kiểm toán viên nội bộ phải
được sự ủng hộ của ban giám đốc và hội đồng quản trị để họ có được sự
cộng tác của các bộ phận được kiểm toán và để công việc của họ không bị
can thiệp. Nghĩa là trong đơn vị đặc biệt là trong khi thực hiện các công việc
kiểm toán thì kiểm toán viên luôn được tạo mọi điều kiện để thể hiện sự độc
lập cũng như tính khách quan trong công việc. Tức là không bị cản trở khi
xác định phạm vi công việc, trong thực hiện công việc và trong quá trình báo
cáo kết quả của mình.
2.1.2. Độc lập trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Việc độc lập trong việc lên chương trình cũng như độc lập trong quá
trình lập kế hoạch kiểm toán đảm bảo cho kiểm toán viên có thể lùa chọn
chiến lược phù hợp nhất cho công việc kiểm toán của mình. Vì vậy trong giai
đoạn thực hiện kiểm toán thì sự độc lập lại trở nên quan trọng hơn vì đây là
quá trình mà kiểm toán viên bắt tay vào việc xác minh tính trung thực và hợp
lý của các thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Đây là giai đoạn mà tính độc lập của kiểm toán viên thể hiện rõ ràng nhất.
a. Kiểm toán nhà nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status