Tính độc lập của kiểm toán viên và sự ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán - Pdf 30

Trường đại học Kinh tế quốc dân
Khoa Kế toán
___@@@___
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
Đề tài:
Tính độc lập của Kiểm toán viên và sự ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Huệ
Líp: Kiểm toán 43A
Giáo viên hướng dẫn: Đinh Thế Hùng
PHẦN MỞ ĐẦU.
Chóng ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường được hơn 10 năm, trong khoảng
thời gian đó nền kinh tế của chúng ta đã có những bước tiến đáng kể trong mọi lĩnh vực,
số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đã tăng lên như nấm. Để hoạt động tài chính
của các công ty được hiệu quả hơn, ở Việt nam đã xuất hiện một ngành hết sức mới mẻ,
đó là ngành Kiểm toán.
Kiểm toán thực hiện chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của
tài liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tài chính để
từ đó tư vấn cho công ty được kiểm toán các phương hướng điều chỉnh về công tác kế
toán nói riêng và công tác quản lý của các cấp quản trị nói chung.
Để một cuộc kiểm toán thành công đòi hỏi rất nhiều yếu tố trong đó có thể coi chất
lượng kiểm toán là yếu tố quan trọng hàng đầu.
Kiểm toán viên là người trực tiếp xác minh và bày tỏ ý kiến đối với các báo cáo tài
chính, họ phải là người có kỹ năng và khả năng nghề nghiệp, phải chính trực khách quan,
độc lập và phải tôn trọng bí mật. Trong đó, có thể coi tính độc lập của kiểm toán viên là
yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với kết quả kiểm toán. Điều này chứng tỏ vai trò của
tính độc lập đối với hoạt động kiểm toán là rất quan trọng.
Chính vì những lý do trên nên với tư cách là một kiểm toán viên tương lai em đã
chọn đề tài này để viết. Đây là một đề tài vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn vì
vậy em đã chia bài viết của mình thành hai phần chính:
I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.

kiểm toán viên chỉ nhận làm những việc mà bản thân hoặc hãng của mình đủ trình độ hoàn
thành công việc đó.
Đạo đức của kiểm toán viên: Kiểm toán viên là người trung thực, thẳng thắn và có lương
tâm nghề nghiệp, phải là người trong sáng công minh và không được phép để cho sự định
kiến thiên lệch lấn át tính khách quan.
Kiểm toán viên phải có thái độ vô tư, không bị các lợi Ých vật chất chi phối và điều đó
không phù hợp với tính khách quan chính trực.
Kiểm toán viên phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp với uy tín của ngành nghề, uy tín của
bản thân và của hãng, phải tự kiềm chế những đức tính cẩn thận trong việc tiến hành và
lập các báo cáo kiểm toán.
Kiểm toán viên phải có đức tính cẩn thận trong việc tiến hành kiểm toán và lập báo cáo
kiểm toán. Ví dụ: Kiểm toán viên không được vội vã quyết định điều gì. Luôn luôn phải
đánh giá các bằng chứng sẵn có một cách cẩn thận.
Tính độc lập của kiểm toán viên : Kiểm toán viên phải luôn tỏ ra có thái độ độc lập, vô tư,
khong được để cho các ảnh hưởng chủ quan hoặc khách quan hoặc chi phối của vật chất
làm mất đi tính độc lập của mình đối với khách hàng kiểm toán. Kiểm toán viên phải luôn
luôn tỏ ra có thái độ vô tư, độc lập trong khi tiến hành công việc cũng như khi lập báo cáo
kiểm toán.
Nếu có sự hạn chế về tính độc lập của kiểm toán viên thì kiểm toán viên phải tìm cách loại
bỏ sự hạn chế đó, nếu không được thì phải nêu vấn đề này trong báo cáo kiểm toán.
Kiểm toán viên không có quyền lợi gì về kinh tế ở đơn vị mà kiểm toán viên đang nhận
làm kiểm toán.
Tôn trọng bí mật: Kiểm toán viên phải tôn trọng các bí mật của những thông tin đã thu
thập trong quá trình kiểm toán, không được để lé bất cứ thông tin nào cho người thứ ba
khi không có sự ủy quyền đặc biệt hoặc trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm nghề nghiệp yêu
cầu công bố.
Tôn trọng pháp luật: Trong hoạt động nghề nghiệp kiểm toán viên phải luôn coi trọng và
chấp hành đúng chế độ, thể lệ, nguyên tắc và luật pháp của Nhà nước và những nguyên
tắc chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế.
Kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm trước cơ quan pháp luật về hoạt động nghề nghiệp

thể.
 Kiểm toán viên chính: là người từng qua kiểm toán viên và qua kỳ thi nâng bậc. Về
chuyên môn họ phải có khả năng tổ chức một nhóm kiểm toán viên tiến hành
những công việc kiểm toán có quy mô lớn.
Những kiểm toán viên độc lạp được hành nghề trong một tổ chức (công ty) hoặc
vơi văn phòng tư tùy điều kiện cụ thể do pháp luật quy định.
Kiểm toán viên nhà nước: là những công chức(viên chức Nhà nước) làm nghề kiểm toán,
họ được tuyển chọn và hoạt động do tổ chức kiểm toán nhà nước phân công.Họ cũng được
xếp vào những bậc chung của công chức:
 Kiểm toán viên.
 Kiểm toán viên chính.
 Kiểm toán viên cao cấp.
Chức năng và quyền hạn cụ thể của từng ngành bậc cũng được quy định cụ thể tuỳ theo
từng nước nói chung cũng có sự gần gũi giữa các quốc gia và có các mối quan hệ tương
ứng với các chức danh của kiểm toán viên độc lập. Riêng kiểm toán viên cao cấp thường
giữ cương vị lãnh đạo cơ quan kiểm toán Nhà nước hoặc là những chuyên gia cao cấp có
chức năng và quyền hạn trong kiểm toán, trong tư vấn, thậm chí trong phán xử. tùy theo
quy định cụ thể của từng nước.
1.1.2. Chức năng và vai trò của kiểm toán viên.
1.1.2.1 Chức năng.
Kiểm toán viên là những người trực tiếp làm công tác kiểm toán. Vì vậy, kiểm toán viên
có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến trên các báo cáo tài chính.
 Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính pháp lý
của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tài chính.
Xác minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời , tồn tại và phát triển của hoạt
động kiểm toán. Bản thân chức năng này không ngừng phát triển và được thể hiện khác
nhau tùy đối tượng cụ thể của kiểm toán là báo cáo tài chính hay nghiệp vụ kinh tế cụ thể
hoặc toàn bộ tài liệu kế toán. Đối với các báo cáo tài chính, việc thực hiện chức năng này
trước hết được thể hiện ở sự xác nhận của người kiểm tra độc lập bên ngoài.
Việc xác minh cần có hai mặt:

pháp chọn mẫu kiểm toán.
Để thực hiện chức năng xác minh, kiểm toán viên không chỉ dùa vào những kỹ
năng nghề nghiệp và quan sát đối với từng hoạt động mà còn dùa vào hệ thống kiểm soát
nội bộ, hệ thống thông tin. Do vậy, kiểm toán viên phải trải qua bước công việc là đánh
giá hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Chc nng by t ý kin cú th c hiu rng vi ý ngha c kt lun v cht
lng thụng tin v c phỏp lý , t vn qua xỏc minh.
Cỏch thc thc hin chc nng by t ý kin v trỏch nhim v t vn cng rt
khỏc bit gia cỏc khỏch th kim toỏn v gia cỏc nc cú c s kinh t v phỏp lý khỏc
nhau.
Ti mt s ni, chc nng ny c th hin di hỡnh thc phỏp lý hay ngi ta cũn gi
l hỡnh thc " phỏn x nh mt quan tũa".Hỡnh thc ny ch yu l c s dng i vi
cỏc n v c t di s kim soỏt ca kim toỏn Nh nc. Tại một số nơi, chức
năng này đợc thể hiện dới hình thức pháp lý hay ngời ta còn gọi là hình thức " phán xử
nh một quan tòa".Hình thức này chủ yếu là đợc sử dụng đối với các đơn vị đợc đặt dới
sự kiểm soát của kiểm toán Nhà nớc.
Ti cỏc khu vc kinh doanh hoc cỏc d ỏn ngoi ngõn sỏch nh nc, chc nng
ny c th hin di hỡnh thc t vn. Cú ngha l cỏc kim toỏn viờn a ra cỏc li
khuyờn hoc cỏc ỏn. Sn phm ca by t ý kin kt qu xỏc minh v tin cy ca
thụng tin l " Bỏo cỏo kim toỏn" cũn sn phm by t ý kin di dng t vn l "th
qun lý".
Ngoi chc nng t vn cho qun tr doanh nghip, ngy nay cỏc cụng ty kim toỏn
chuyờn nghip cũn phỏt trin chc nng t vn ca mỡnh trong nhiu lnh vc chuyờn sõu
c bit l trong lnh vc ti chớnh nh vn u t, t vn v thu v.v
1.1.2.2. Vai trũ ca kim toỏn viờn.
Thụng tin k toỏn l rt quan trng i vi nhng ngi cú liờn quan n doanh
nghip. Nhng ngi cú nhu cu s dng v cỏc thụng ú nh l cỏc ngõn hng hay cỏc
nh u t ang mun u t vo doanh nghip ú s cú nhng quyt nh v vic cú nờn
u t tip hay khụng vi tỡnh trng ti chớnh ca cụng ty nh vy, i vi cỏc khỏch hng
hoc nh cung cp thỡ nhng thụng tin k toỏn v kh nng chi tr v hot ng kinh

cuộc khảo sát kiểm toán, đánh giá các kết quả và công bố báo cáo kiểm toán.
Tớnh c lp nht nh phi c xem nh mt trong nhng phm cht ch yu
nht ca kim toỏn viờn.
Ví dụ: nhân viên của một tổ chức thì không thể làm kiểm toán viên độc lập cho tổ
chức đó được.
Kiểm toán viên cũng không được có quyền lợi gì về kinh tế ở đơn vị mà kiểm toán
viên đang nhận làm kiểm toán.
Những quan hệ riêng tư, quan hệ gia đình cũng ảnh hưởng đến tính độc lập của
kiểm toán viên.
Trên thế giới, tính độc lập đã trở thành một yếu tố không thể không nhắc đến trước
khi thực hiện một cuộc kiểm toán, nó đã trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá
hiệu quả của hoạt động kiểm toán. Ở Việt Nam, tính độc lập của kiểm toán viên cũng đã
được quy định trong quy chế về hoạt động kiểm toán độc lập ban hành theo Nghị định số
07/CP ngày 29/1/1994.
Theo quy chế này, tính độc lập được thể hiện trên hai khía cạnh:
-Thể hiện ở quan hệ với khách hàng kiểm toán: kiểm toán viên không được có quan
hệ về kinh tế và không có quan hệ họ hàng thân thuộc với lãnh đạo công ty khách hàng.
-Thể hiện ở chuyên môn nghiệp vụ: kiểm toán viên phải độc lập về chuyên môn
nghiệp vụ (tuân theo pháp luật, chuẩn mực và phương pháp nghiệp vụ chuyên môn).
1.2.2. Phân biệt tính độc lập thực sự và tính độc lập bề ngoài.
Trong kiểm toán, điều cơ bản không phải là sự đòi hỏi kiểm toán viên bao giê cũng
giữ một thái độ độc lập khi thực thi trách nhiệm của mình mà còn cả những người sử dụng
các báo cáo tài chính phải có niềm tin vào tính độc lập đó. Hai mục đích này thường được
coi là tính độc lập thực sự và tính độc lập bề ngoà i .
-Tính độc lập thực sự có khi mà kiểm toán viên thực tế có khả năng duy trì thái độ
vô tư trong suốt quá trình kiểm toán. Tính độc lập thực sự chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều
yếu tố tuy nhiên có thể nói điều quan trọng nhất là bản thân người kiểm toán viên phải tự
tu dưỡng thì mới có được.
-Tính độc lập bề ngoài là kết quả của những lời giải thích của những người khác về
tính độc lập đó. Nó cũng chính là thái độ của những người khác về quá trình hành nghề

chương trình, độc lập điều tra và độc lập làm báo cáo. Mỗi điều này có ý nghĩa vô cùng
quan trọng đối với sự tin cậy của kiểm toán viên.
 Độc lập trong việc lên chương trình:
Hiển nhiên là các báo cáo kiểm toán sẽ Ýt có giá trị, trừ khi nó được xác nhận
bằng những kết quả điều tra kỹ lưỡng. Tuy nhiên, điều này có thể là bất lợi cho các giám
đốc. Nếu như họ muốn che giấu điều gì đó, thì họ sẽ muốn đến mức tối thiểu khả năng
khám phá ra nã. Ngay cả khi họ không có gì phải che giấu, thì các giám đốc vẫn có thể
muốn giảm bớt phí kiểm toán hay công bố sớm nhất báo cáo tài chính ngay sau khi kết
thúc năm.
Kiểm toán viên phải được tự do sắp xếp công việc theo cách mà họ thấy là thích
hợp. Quyền tự do này đặc biệt trong bối cảnh của mối quan hệ đang phát triển giữa một
công ty kế toán và công ty đó.Cách tiếp cận của kiểm toán viên phải được thay đổi cho
phù hợp khi công ty khách hàn phát triển lên và mở ra những hoạt động mới. Hơn nữa,
các kỹ thuật kiểm toán mới không ngừng được phát triển lên. Không thể chấp nhận để các
giám đốc cản trở kiểm toán viên lùa chọn chiến lược cơ bản mà họ có ý định vận dụng vào
công việc của mình.
 Độc lập điều tra:
Việc độc lập trong việc lên chương trình đảm bảo cho kiểm toán viên có thể lùa
chọn chiến lược phù hợp nhất cho công việc kiểm toán của mình. Độc lập điều tra sẽ đảm
bảo cách thức mà họ thực hiện chiến lược đó. Kiểm toán viên phải có quyền tự do tiếp cận
các tài liệu và sổ sách ghi chép của công ty. Mọi câu hỏi mà họ đặt ra cho công ty về hoạt
động kinh doanh hay cách thức hạch toán các giao dịch đều phải được trả lời.
Việc nhấn mạnh luận cứ cho rằng kiểm toán viên không bị hạn chế trong việc thu
thập các bằng chứng kiểm toán là ý tưởng cho rằng việc kiểm toán càn được thực hiện với
sự cộng tác đầy đủ của ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên của công ty đó. Điều này
hiẻn nhiên là rất có lưoi cho các cổ đông. Nếu kiểm toán viên có khó khăn trong việc thu
thập những thông tin mà họ cần, thì việc kiểm toán sẽ trở nên tốn kém hơn. Việc cản trở
kiểm toán viên cũng sẽ có thể có hại cho quyền lợi của các giám đốc, vì nó có thể gây Ên
tượng là các giám đốc này có điều gì đó muốn che giấu mà báo cáo kiểm toán lại bóc trần
các hành vi của họ.

chế độ chính trị khác nhau, các cơ quan Nhà nước lập ra trước hết là phục vụ cho mục đíc
chính trị của Nhà nước đó. Do đó, Kiểm toán Nhà nước Việt nam không thể độc lập về
chính trị được.
Trong chế độ chính trị xã hội của nước ta, tính độc lập của Kiểm toán Nhà nước
cũng không phải là tính độc lập có ngoại trừ không bị kiểm tra lại, không được quyền từ
chối những yêu cầu của Quốc hội và Chính phủ, không được làm ngơ trước những quan
điểm hay lợi Ých chính trị của cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào trái với Hiến pháp, pháp
luật của Nhà nước và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt nam. Vì vậy, tính độc lập
của Kiểm toán Nhà nước được thể hiện như sau:
 Độc lập ở việc điều hành tổ chức bộ máy và kiểm toán viên của mình để thực hiện
nhiệm vụ kiểm toán đã được phân giao trong các văn bản làm căn cứ pháp lý.
 Độc lập trong việc thực thi chức năng, ở đây có hàng loạt nội dung khác nhau như:
xác định mục tiêu kiểm toán, lùa chọn đối tượng, xác định quy trình kiểm toán,
phương pháp thực hiện, xác định giới hạn phạm vi kiểm toán, lập kế hoạch kiểm
toán v.v
 Độc lập trong việc bảo vệ chính kiến của mình, công bố thông tin kiểm toán không
thuộc bí mật quốc gia đối với các cơ quan mà Kiểm toán Nhà nước thấy cần thiết
cũng như công bố cho nhân dân biết, gửi các báo cáo kiểm toán đến các cơ quan
kiểm toán đến các cơ quan cũng như không bày tỏ ý kiến khi chưa có bằng chứng
tin cậy về một hiện tượng nào đó.
 Không tham gia vào các quyết định quản lý hành chính, quyết định về kinh tế của
các doanh nghiệp , không chịu trách nhiệm về các hành vi quản lý, sử dụng tài sản
Nhà nước, tình trạng lãi lỗ của các Doanh nghiệp Nhà nước, tự chịu trách nhiệm
trước Nhà nước và pháp luật Nhà nước về các kết luận kiểm toán, các thông tin
kiểm toán đã đưa ra và hành vi của đoàn và kiểm toán viên khi thực thi nhiệm vụ
sai trái với pháp luật.
 Độc lập với cơ quan xét xử: Kiểm toán Nhà nước không làm " quan tòa" xét xử
các vi phạm pháp luật, làm tổn thất công quỹ, nhung là "quan tòa" phán quyết các
hành vi vi phạm pháp luật làm tổn thất công quỹ đã được kiểm toán lượng hóa và
có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức được kiểm toán phải khắc phục sửa chữa

Tính độc lập của kiểm toán viên nội bộ phải được thể hiện ở trách nhiệm đối với
công ty, vì họ làm việc cho công ty nên phải có trách nhiệm phát hiện kịp thời những thiếu
sót trong hoạt động tài chính của công ty, để từ đó có nhứng kiến nghị với ban quản trị
nhằm xây dựng công ty ngày càng tốt hơn.
1.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến tính độc lập.
Chất lượng hàng hóa, dịch vụ là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự tồn tại và phát
triển của Doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, các đơn vị kinh doanh dịch vụ kiểm toán
cũng không nằm ngoài nguyên tắc này.Vì vậy, việc nâng cao chất lượng kiểm toán là
nhiệm vụ hàng đầu của kiểm toán. Để từng bước hoàn thiện phương pháp kiểm tra, soát
xét chất lượng kiểm toán chúng ta phải nghiên cứu một cách có hệ thống từ cơ sở lý luận,
thực trạng để đưa ra giải pháp phù hợp với thực tiễn hoạt động của các công ty kiểm toán.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên, ở đây chúng ta chỉ đề
cập một số yếu tố chính.
1.2.4.1.Các lợi Ých tài chính:
-Quan hệ sở hữu trực tiếp và quan hệ sở hữu gián tiếp.
Mặc dù trước đây đã có lần chấp nhận cho các kiểm toán viên sở hữu một lượng cổ
phần giới hạn trong công ty khách hàng, nhưng ngày nay điều đó được xem như là một
yếu tố ảnh hưởng đến tính độc lập của công tác kiểm toán và chắc chắn có khả năng ảnh
hưởng đến những nhận thức của người sử dụng về tính độc lập của kiểm toán viên.
Theo nguyên tắc 101 (Tính độc lập) trong điều lệ đạo đức của AICPA:
Một hội viên hoặc một công ty mà ở đó anh ta là người chung vốn hoặc là cổ đông thì sẽ
không được diễn đạt ý kiến về các báo cáo tài chính của một doanh nghiệp trừ phi anh ta
và công ty của anh ta độc lập với doanh nghiệp đó.
Tính độc lập sẽ được xem là bị vi phạm nếu, thí dụ:
Trong thời kỳ mà hợp đồng chuyên nghiệp của anh ta còn hiệu lực, hoặc vào thời điểm mà
anh ta trình bày quan điểm , anh ta hoặc công ty của anh ta:
 Có hoặc được ủy thác để nhận bất kỳ một khoản lợi Ých tài chính trực tiếp hoặc
khoản lợi Ých tài chính trọng yếu gián tiếp nào ở doanh nghiệp đó, hoặc
 Là người được ủy thác của bất kỳ tài sản nào hoặc người chấp hành hoặc người
quản lý của bất kỳ bất động sản nào, nếu tài sản đó hoặc bất động sản đó có nhận hoặc

ta không thể nói rằng kiểm toán viên phụ thuộc hoàn toàn vào thù lao mà công ty khách
hàng chi trả và chúng ta cũng không thể đo lường được điều đó nhưng chúng ta vẫn có thể
khẳng định rằng kiểm toán viên khó có thể giữ được trạng thái độc lập.
1.2.4.3.Mối quan hệ.
Khi kiểm toán viên có mối quan hệ cá nhân của họ với những người trong bộ máy
quản lý của đơn vị được kiểm toán cho dù mối quan hệ này có thể là trực tiếp hay gián
tiếp do nhưng người quen biết giới thiệu, tạo cho họ có một khoản lợi Ých thì tính độc lập
cũng bị ảnh hưởng. Ngay cả khi điều này không tác động đến tính độc lập của kiểm toán
viên thì khó có ai tin rằng anh ta sẽ độc lập thật sự.
1.2.4.4. Sự kiêm nhiệm.
Nếu kiểm toán viên vừa làm công tác kế toán như trực tiếp ghi sổ, giữ sổ kế toán và
lập báo cáo tài chính vừa làm công tác kiểm toán thì tính độc lập cũng bị ảnh hưởng. Sự
bất kiêm nhiệm luôn là yếu tố quan trọng trong việc quản lý. Kiểm toán và kế toán là hai
lĩnh vực độc lập hoàn toàn với nhau theo yêu cầu của quản lý, báo cáo tài chính sẽ không
còn đáng tin cậy khi nã do cùng được một cá nhân lập và sau đó là xác minh và bày tỏ ý
kiến. Tất nhiên, trong thời kỳ ngày nay, các nhân viên kiểm toán tất nhiên sẽ không được
làm việc tại công ty mà mình kiểm toán nếu như công việc đó hoàn toàn không phải là
công tác kiểm toán nhưng khó có thể kiểm soát được điều này.
1.2.4.5. Tranh chấp giữa công ty kiểm toán và khách hàng.
Khi có một vụ kiện tụng hoặc khả năng sinh ra một vụ kiện tụng giữa công ty kiểm
toán và khách hàng của họ , khả năng công ty kiểm toán và khách hàng còn giữ được tính
độc lập, khách quan là rất đáng nghi vấn. Thí dụ: nếu Ban quản trị kiện công ty kiểm toán,
khiếu nại một khuyết điểm trong lần kiểm toán trước, công ty kiểm toán sẽ không được
xem là độc lập đối với lần kiểm toán trong năm hiện hành. Tương tự, nếu công ty kiểm
toán kiện Ban quản trị vì sự quản lý lừa đảo hoặc dối trá, tính độc lập cũng bị mất.
Vụ kiện từ phía khách hàng liên quan tới thuế hoặc các dịch vụ không phải là kiểm
toán khác, hoặc vụ kiện cả công ty khách hàng và công ty kiểm toán từ một thành phần
khác, cũng thường không làm hại đến tính độc lập. Tuy vậy, việc xem xét chính trong tất
cả các vụ kiện này thường không làm ảnh hưởng khả dĩ đến khả năng giữ vững tính khách
quan và bình luận một cách thoải mái của Ban quản trị công ty khách hàng và toàn thể

Ngoài ra, chất lượng kiểm toán còn được đánh giá thông qua ý kiến tư vấn của
kiểm toán viên để khắc phục những sai phạm phát hiện được trong quá trình kiểm toán.
Như vậy, có thể thấy rằng chất lượng kiểm toán trước hết là dùa vào mức độ tin cậy
về tính trung thực và khách quan chứa đựng trong các ý kiến đánh giá của kiểm toán viên
về những số liệu, tài liệu được kiểm toán. Cụ thể là, sau mỗi cuộc kiểm toán, kiểm toán
viên phải đưa ra được ý kiến cụ thể trong những trường hợp sau:
• Ý kiến chấp nhận toàn bộ: là việc xác nhận số liệu báo cáo tài chính và thông tin tài
chính của đơn vị được kiểm toán, được kiểm toán viên nhận xét là trung thực, hợp
pháp, tuân thủ các nguyên tắc kế toán, chế độ quản lý và pháp luật của Nhà nước,
của các cơ quan quản lý có thẩm quyền cũng như quy định trong quy chế kiểm soát
nội bộ của đơn vị.
• Ý kiến khác với ý kiến chấp nhận toàn bộ: có thể là ý kiến xác nhận từng phần, ý
kiến mà kiểm toán viên chỉ chấp nhận tính xác thực, trung thực và hợp pháp ở một
số nội dung, chỉ tiêu của báo cáo tài chính , còn lại một số nội dung không chấp
nhận.Trong trường hợp như vậy, kiểm toán viên phải chỉ rõ số liệu nào, chỉ tiêu nào
là có sai phạm về tính trung thực, không hợp pháp hoặc phạm vi của cuộc kiểm
toán không đảm bảo tính đầy đủ, độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán.
• Ý kiến nhận xét trái ngược(bác bỏ): là ý kiến nhận xét được đưa ra khi các thông
tin trong báo cáo tài chính và các thông tin khác có liên quan, trình bày không đúng
quy định, sai nguyên tắc kế toán hoặc có những sai phạm trọng yếu. Trong trường
hợp như vậy, kiểm toán viên phải đánh giá được rủi ro kiểm toán và có các biện
pháp kiểm soát rủi ro kiểm toán từ khâu lập kế hoạch đến khâu thực hiện để giới
hạn rủi ro kiểm toán ở mức độ chấp nhận được.
• Ý kiến "từ bỏ": Trong trường hợp này, kiểm toán viên không thể bày tỏ lời nhận
xét của mình. Đó là trường hợp khi phạm vi kiểm toán viên bị giới hạn đến mức
không thể tập hợp được các bằng chứng kiểm toán cần thiết.
Ngoài những tiêu thức trên đây, chất lượng kiểm toán còn được đánh giá tùy thuộc vào
tính chất đặc thù của từng loại hình kiểm toán.
 Đối với loại hình kiểm toán độc lập: chất lượng kiểm toán còn được đánh giá thông
qua chỉ tiêu chi phí tài chính cho cuộc kiểm toán. Chi phí kiểm toán phải tương thích với

lợi nhưng với sự tham gia của các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ không đáp ứng
được nhiệm vụ được giao thì khả năng kết quả kiểm toán bị sai lệch và khả năng tồn tại
những sai phạm trọng yếu là cao. Khi đó, ý kiến đánh giá của kiểm toán viên rất có khả
năng bị sai lệch bởi vì họ chưa có đủ kinh nghiệm cũng như kiến thức để có thể phát hiện
kịp thời những sai phạm trong báo cáo tài chính
2.2.3 Quan hệ với khách hàng kiểm toán:
Nếu kiểm toán viên có quan hệ về kinh tế hoặc tình cảm với khách hàng kiểm toán sẽ làm
ảnh hưởng đến tính khách quan của các nhận xét trong các báo cáo kiểm toán. Để đảm bảo
tính khách quan cho kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán, Nhà nước và các cơ quan
kiểm toán phải có quy định rõ các trường hợp không được vào kiểm toán tại đơn vị, nếu
kiểm toán viên có lợi Ých kinh tế hoặc lợi Ých khác đối đơn vị được kiểm toán.Thông
thường, người ta cấm kiểm toán viên không được vào kiểm toán tại đơn vị nếu kiểm toán
viên có quan hệ là ông, bà nội, ngoại, bố, mẹ, anh, chị, vợ hoặc chồng là lãnh đạo trong
Hội đồng quản trị, Ban giám đốc hoặc kế toán trưởng có cổ phàn hoặc thủ trưởng đơn vị
đó có quyền hạ chi phối đến lợi Ých của kiểm toán viên.
2.2.4. Kiểm tra, giám sát trong quá trình kiểm toán:
Kiểm tra là một chức năng của quản lý, đối với kiểm toán thì chức năng này lại càng phải
được đề cao hơn nhằm ngăn chặn những biểu hiện qua loa, đại khái hoặc có tư tưởng thiên
vị vì lợi Ých cá nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán. Vì vậy, tổ chức quốc tế
các cơ quan kiểm toán tối cao đã rất chú trọng đến việc kiểm tra, giám sát chất lượng kiểm
toán ở từng giai đoạn kiểm toán cụ thể.Trong nhóm chuẩn mực thực hành có nêu:" Công
việc của kiểm toán ở mỗi cấp , mỗi giai đoạn phải được giám sát một cách đúng đắn trong
quá trình kiểm toán và các công việc được thể hiện bằng văn bản phải được một kiểm toán
viên cấp cao hơn của cơ quan kiểm toán kiểm tra lại."
Để nâng cao chất lượng kiểm toán, các cơ quan kiểm toán phải có quy chế quy định về
việc kiểm soát đối với hoạt động kiểm toán theo từng giai đoạn.
2.3.Tác động cụ thể của tính độc lập đến chất lượng kiểm toán.
Tính độc lập là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với chất lượng kiểm toán. Do vậy, khi đề
cập đến chất lượng kiểm toán thì tính độc lập là vấn đề đầu tiên mà chúng ta cần nhắc đến,
ảnh hưởng của tính độc lập đến chất lượng kiểm toán được biểu hiện rất rõ rệt:

khả năng tài chính của công ty nếu họ có ý định đầu tư vào công ty đó hoặc cho rằng công
ty có thể đang làm ăn thua lỗ và không nên tiếp tục quan hệ mua bán với công ty này, nếu
không có thể họ sẽ bị lỗ.
 Nếu như khi kiểm toán viên có quan hệ thân mật với đơn vị được kiểm toán thì kết
quả kiểm toán có thể có lợi cho các khách hàng kiểm toán thì khi giữa họ có sự tranh
chấp, kiện tụng nhau, kết quả kiểm toán có thể sẽ không có lợi gì cho khách hàng, ý kiến
mà kiểm toán viên đưa ra có thể không được khách quan, hoặc họ sẽ không có những ý
kiến tư vấn bổ Ých cho công tác quản lý của công ty nữa.
 Tính độc lập của kiểm toán viên thường được thể hiện trên các khía cạnh: độc lập
trong việc lên chương trình, độc lập trong việc điều tra, độc lập trong việc làm báo cáo.
Kết quả của báo cáo kiểm toán sẽ Ýt có giá trị nếu nó không được điều tra kỹ
lưỡng, tuy nhiên điều này là bất lợi cho các giám đốc nếu họ muốn che giấu điều gì đó,
nếu kiểm toán viên bớt việc điều tra, tìm hiểu thì không những khách hàng kiểm toán sẽ
che giấu được những thông tin cần che giấu mà còn bớt được chi phí kiểm toán. Do vậy,
nếu kiểm toán viên tự mình độc lập khỏi những yêu cầu của khách hàng thì chất lượng
công việc của họ sẽ cao hơn. Khi làm báo cáo, tính độc lập cực kỳ quan trọng vì giám đốc
có thể sẽ không muốn kiểm toán viên công khai những thông tin kế toán sai lệch mà họ
đang muốn giấu diếm.Vì vậy, họ sẽ làm mọi cách để khiến cho kiểm toán viên phải có ý
kiến có lợi cho họ.
Như vậy có thể nói rằng, tính độc lập của kiểm toán viên có ảnh hưởng trực tiếp
đến từng giai đoạn của cuộc kiểm toán, trong từng công việc của kiểm toán viên. Nếu như
kiểm toán viên không giữ được thái độ độc lập, khách quan thì những gì mà họ đưa ra
trong báo cáo kiểm toán đều không đáng tin cậy cho những người sử dụng nó.
II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
1. Thực trạng về tính độc lập ở Việt nam
Kiểm toán đã xuất hiện hơn 10 năm ở Việt Nam, trong thời gian đó, hoạt động kiểm toán
đã có những thay đổi rõ rệt, vai trò của kiểm toán ngày càng được coi tọng, vị trí của kiểm
toán cũng từng bước được nâng cao. Tính độc lập bao giê cũng được xem là yếu tố quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kiểm toán, nó là tiêu chí để đánh giá về chất
lượng kiểm toán viên và được coi như là một trong những phẩm chất của kiểm toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status