GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
1
MỤC LỤC
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
2
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế chung của thời đại quốc tế hoá và sự hợp tác hoá, nước ta cũng
đang cuốn theo dòng xoáy sự phát triển hội nhập nền kinh tế thế giới. Sự gia nhập của
nước ta vào WTO đánh dấu bước phát triển và thách thức lớn đó là sự cạnh tranh tự do
và mạnh mẽ của các tập đoàn kinh tế, thị trường chứng khoán ngày càng bùng nổ. Trong
bối cảnh đó, kiểm toán là một trong những ngành, một trong những lĩnh vực thương mại
dịch vụ được quan tâm. Việc công khai hoá các bản khai tài chính được chứng nhận trung
thực hợp lý bởi một bên hoàn toàn độc lập đã khiến cho kiểm toán ngày càng trở nên phổ
biến đối với doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Nhưng một thực tế hiện nay là do cạnh
tranh giữa các công ty kiểm toán nên họ đã đua nhau hạ phí kiểm toán và tất nhiên, điều
này làm cho chất lượng của cuộc kiểm toán không còn được đảm bảo. Trong khi đó, mức
phí thu được từ việc cung cấp các dịch vụ ngoài kiểm toán như tư vấn thuế, thiết kế hệ
thống kiểm soát nội bộ cho khách hàng lại chiếm phần lớn trong doanh thu của các công
ty kiểm toán. Vậy vấn đề đặt ra là việc cung cấp dịch vụ ngoài kiểm toán ảnh hưởng như
thế nào đến tính độc lập của kiểm toán viên chắc hẳn là điều mà đông đảo các nhà đầu tư,
cũng như ban quản lý nhà nước quan tâm.
Từ đó vấn đề kiểm toán viên, nâng cao tính độc lập của kiểm toán viên là hết sức
cần thiết cho việc một báo cáo tài chính minh bạch. Vì vậy em đã chọn đề tài “Phân tích
ảnh hưởng của việc cung cấp các dịch vụ ngoài kiểm toán (tư vấn thuế, thiết lập hệ
thống kiểm soát nội bộ, ) đến tính độc lập của kiểm toán viên” làm đề tài cho đề án
môn học của mình.
Những kiến thức có được và qua thời gian nghiên cứu trong đề án em xin được
họ đã phát hiện ra sai sót và có ý kiến trên báo cáo kiểm toán.
Kiểm toán giúp cho đơn vị phát hiện ra các sai phạm và đề ra hướng giải quyết cho
doanh nghiệp, góp phần củng cố nề nếp tài chính. Thông qua việc thu thập bằng chứng
và các phương pháp phân tích tỷ suất, kiểm toán viên sẽ phát hiện ra những sai phạm
trong công tác kế toán, cũng như tình trạng tài chính của công ty, từ đó có những
hướng dẫn và tư vấn cho họ về công tác kế toán. Điều này được thể hiện trong chức
năng bày tỏ ý kiến.
Kiểm toán viên giúp cho doanh nghiệp cải thiện những chính sách và chiến lược để
đạt được hiệu quả kinh doanh cao.
Kiểm toán viên không những đánh giá về các sai phạm trong công tác kế toán và đề
ra hướng giải quyết mà họ còn cung cấp những dịch vụ khác như tư vấn tài chính, các
dịch vụ về kế toán…
Khi báo cáo tài chính được phát hành cùng báo cáo kiểm toán, nó khẳng định tính
chất pháp lý của những thông tin mà doanh nghiệp công bố ra bên ngoài. Nó đảm bảo
rằng những thông tin trên báo cáo tài chính là trung thực và khách quan hay không.
1.1.2 Những yêu cầu đối với kiểm toán viên
Kiểm toán viên là một nghề, giống những nghề khác như bác sĩ, giáo viên, kĩ sư. Nó
đòi hỏi trình độ chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp. Kiểm toán viên làm công
việc là kiểm tra độc lập, bày tỏ ý kiến về các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính.
Đây là một lĩnh vực khoa học chuyên môn có phạm vi rộng, đòi hỏi người làm kiểm
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
4
toán có một trình độ chuyên môn nhất định. Có như vậy, kiểm toán viên mới có thể
đưa ra đuợc những ý kiến kiểm toán đúng đắn hữu ích trong việc ra quyết định của
người sử dụng báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, có thể thấy kiểm toán là một lĩnh vực
hoạt động mang tính chủ quan, bởi căn cứ vào các bằng chứng thu thập được, kiểm
toán viên dựa trên các kinh nghiệm và óc xét đoán nghề nghiệp của mình để đưa ra ý
động mang tính chủ quan, kiểm toán viên căn cứ vào những bằng chứng thu thập được
và kiểm toán viên dựa vào những kinh nghiệm nghề nghiệp và óc phán xét để đưa ra
những ý kiến nhận xét trên báo cáo tài chính. Do vậy thì chỉ trình độ chuyên môn chưa
đủ kiểm toán viên cần phải có một cái tâm trong sáng.
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
5
Vấn đề đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên với niềm tin của công chúng đang
là vấn đề thách thức với nghề kiểm toán trong thế kỉ 21 này sau ảnh hưởng của vụ bê
bối tài chính năm 2001 và 2002. Đây không phải là vấn đề mà chỉ một số nước gặp
phải mà là vấn đề của tất cả các tổ chức của tất cả các nước.
Chuẩn mực kiểm toán số 200 về “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán
báo cáo tài chính” có quy định: “Kiểm toán viên phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức
nghề nghiệp kiểm toán như sau: độc lập, chính trực, khách quan, năng lực chuyên môn
và tính thận trọng, tính bí mật, tư cách nghề nghiệp, tuân thủ chuẩn mực chuyên môn”.
1.1.2.2.1 Tính độc lập
Tính độc lập được xem như là phẩm chất chủ yếu nhất của kiểm toán viên. Bởi thái
độ độc lập phụ thuộc vào hai yếu tố là bản chất thực của kiểm toán viên và cách nhìn
nhận công chúng đối với kiểm toán viên. Có thể bản chất của kiểm toán viên là không
cho phép bất cứ yếu tố nào ảnh hưởng tới tính độc lập của mình, ngay cả khi kiểm toán
viên có dính líu về mặt kinh tế hoặc tình cảm với đơn vị được kiểm toán. Tuy nhiên chỉ
bản chất thì vẫn chưa đủ mà phải đảm bảo về mặt hình thức thể hiện. Chẳng hạn, một
kiểm toán viên có dính líu về mặt kinh tế hoặc quan hệ nhân thân thì dù có thực bản
chất của kiểm toán viên là độc lập, công chúng vẫn cho rằng không đảm bảo tính độc
lập. Những người sử dụng báo cáo kiểm toán phải tin vào tính độc lập và sự vô tư của
kiểm toán viên trong việc đánh giá và đưa ra ý kiến trên báo cáo tài chính coi nó như là
một căn cứ về tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để
đưa ra những quyết định tài chính kinh tế đúng đúng đắn.
lý do trên, việc cẩn trọng để bảo vệ các bản tư liệu mật của công ty khách hàng là rất
quan trọng.
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp quy định kiểm toán viên có nghĩa vụ tôn trọng
nguyên tắc bảo mật các thông tin về khách hàng thu được trong quá trình kiểm toán, kể
cả sau khi kết thúc hợp đồng kiểm toán. Trừ khi thông tin cần được cung cấp cho cơ
quan chức năng có liên quan hoặc trách nhiệm nghề nghiệp hoặc luật pháp yêu cầu
phải báo cáo, kiểm toán viên không được tiết lộ thông tin, không được sử dụng các
thông tin này để thu lợi cá nhân hoặc thu lợi cho bên thứ ba. Kiểm toán viên không
được công bố thông tin bảo mật về khách hàng kể cả thông tin khác nếu không được sự
đồng ý của công ty khách hàng. Như vậy, kiểm toán viên có thể cung cấp thông tin cho
người khác chỉ khi được sự cho phép của công ty khách hàng. Đây là một điều kiện bắt
buộc, kể cả trong trường hợp kiểm toán viên bán kết quả làm việc của mình cho một
công ty kiểm toán khác hoặc muốn cho phép người kiểm toán viên kế tục xem xét tư
liệu lập cho công ty khách hàng trước đây.
1.1.2.2.5 Tư cách nghề nghiệp và tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp quy định kiểm toán viên phải trau dồi và bảo
vệ uy tín nghề nghiệp, không được gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp.
Hành vi làm mất tín nhiệm không được định nghĩa rõ ràng trong các nguyên tắc
của chuẩn mực, một vài hành vi sau của kiểm toán viên có thể được xem là ví dụ (theo
văn bản hướng dẫn thi hành chuẩn mực đạo đức của Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ):
• Kiểm toán viên giữ lại sổ sách của khách hàng sau khi một đòi hỏi không
được đáp ứng là một hành vi làm mất tín nhiệm. Ví dụ, giả sử ban quản trị công ty
khách hàng không trả thù lao cho công ty kiểm toán và do đó các kiểm toán viên từ
chối trả lại sổ sách của khách hàng.
• Một công ty kiểm toán phân biệt đối xử giữa các chủng tộc, màu da, tôn giáo,
giới tính, tuổi tác, hoặc quốc tịch cũng được xem là một hành vi làm mất tín nhiệm.
• Nếu một kiểm toán viên đồng ý thực hiện kiểm toán ở một cơ quan Nhà nước,
mà cơ quan này qui định các thể thức kiểm toán khác với các chuẩn mực kiểm toán đã
được thừa nhận, thì trách nhiệm đối với uy tín nghề nghiệp thể hiện ở chỗ kiểm toán
viên phải tuân thủ cả các thể thức của cơ quan Nhà nước đó và các chuẩn mực kiểm
hàng…; kiểm toán viên không được nhận làm kiểm toán cho những công ty khách hàng
mà mình có quan hệ nhân thân; kiểm toán viên không được cung cấp dịch vụ kiểm toán
cho đơn vị khách hàng mà mình cung cấp các dịch vụ tư vấn khác.
1.2.2 Phân biệt tính độc lập thực sự và độc lập bề ngoài
Trong kiểm toán, điều cơ bản không phải là sự đòi hỏi kiểm toán viên bao giờ cũng
giữ một thái độ độc lập khi thực thi trách nhiệm của mình mà còn cả những người sử
dụng các báo cáo tài chính phải có niềm tin vào tính độc lập đó. Hai mục đích này
thường được coi là tính độc lập thực sự và tính độc lập bề ngoà i .
-Tính độc lập thực sự có khi mà kiểm toán viên thực tế có khả năng duy trì thái độ
vô tư trong suốt quá trình kiểm toán. Tính độc lập thực sự chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều
yếu tố tuy nhiên có thể nói điều quan trọng nhất là bản thân người kiểm toán viên phải
tự tu dưỡng thì mới có được.
-Tính độc lập bề ngoài là kết quả của những lời giải thích của những người khác về
tính độc lập đó. Nó cũng chính là thái độ của những người khác về quá trình hành nghề
của kiểm toán viên.
Tính độc lập thực sự và tính độc lập bề ngoài là hai khía cạnh hoàn toàn khác nhau
nhưng chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn, nếu kiểm toán viên độc
lập thật sự nhưng những người sử dụng lại tin rằng họ là những người biện hộ cho
khách hàng thì phần lớn giá trị của cuộc kiểm toán sẽ bị mất.
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
8
1.2.3 Sự thể hiện của tính độc lập trong từng loại hình kiểm toán
1.2.3.1 Tính độc lập của kiểm toán viên nhà nước
Khác với kiểm toán độc lập, đối với loại hình kiểm toán Nhà nước thực hiện chức
năng kiểm toán dưới sự quản lý của Nhà nước. Tính độc lập không phải là khái niệm
dùng cho một cá nhân cụ thể mà để nói chung cho cả cơ quan kiểm toán, bởi vì họ
không thực hiện kiểm toán một cách độc lập như các kiểm toán viên độc lập.
luật.
Độc lập với cơ quan xét xử: Kiểm toán Nhà nước không làm "quan tòa" xét xử
các vi phạm pháp luật, làm tổn thất công quỹ, nhưng là "quan tòa" phán quyết các hành
vi vi phạm pháp luật làm tổn thất công quỹ đã được kiểm toán lượng hóa và có quyền
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
9
yêu cầu các cơ quan, tổ chức được kiểm toán phải khắc phục sửa chữa các yếu kém và
kiểm tra lại việc sửa chữa đó như thế nào.
Việc chuyển thông tin cho cơ quan xét xử là cần thiết nhưng việc thực hiện yêu
cầu kiểm toán của cơ quan xét xử hay không thì do Kiểm toán Nhà nước lựa chọn, cơ
quan Kiểm toán Nhà nước không can thiệp cũng như không tham gia vào việc xét xử
các vi phạm pháp luật về tài chính công.
Độc lập với các hoạt động tài chính của các cơ quan tài chính, của các Bộ,
UBND, các Doanh nghiệp Nhà nước và tổ chức xã hội có nghĩa vụ nhận tài trợ của
ngân sách Nhà nước.
Độc lập về các ý kiến tư vấn của mình cho quốc hội và chính phủ về những vấn
đề liên quan đến kế toán, báo cáo tài chính, nói rộng ra là các vấn đề liên quan đến tài
chính công khi Quốc hội và Chính phủ có yêu cầu.
Độc lập trong việc tìm kiếm bằng chứng kiểm toán và phán quyết đúng sai,
không chịu một áp lực nào từ phía khác mà chỉ căn cứ vào pháp luật hiện còn hiệu lực
các nguyên tắc, chuẩn mực để đưa ra các kết luận trong các báo cáo kiểm toán cũng
như các kiến nghị, yêu cầu của mình.
Trong quan hệ với các cơ quan kiểm toán tối cao của các Nhà nước và các tổ
chức kiểm toán quốc tế và khu vực, Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là cơ quan công
quyền có tư cách pháp nhân để xử lý các mối quan hệ với các cơ quan tổ chức này.
1.2.3.2 Tính độc lập của kiểm toán viên độc lập
Đây là lĩnh vực mà tính độc lập được thể hiện rõ nét nhất vì công việc kiểm toán
công việc của họ.
Độc lập điều tra:
Thể hiện: Việc độc lập trong việc lên chương trình đảm bảo cho kiểm toán viên có
thể lựa chọn chiến lược phù hợp nhất cho công việc kiểm toán của mình. Độc lập trong
điều tra, thực hiện kiểm toán sẽ đảm bảo cho họ thực hiện chiến lược của mình . Kiểm
toán viên phải có quyền tự do tiếp cận các tài liệu và sổ sách ghi chép của công ty. Mọi
câu hỏi đặt ra về hoạt động của công ty đều được phúc đáp đầy đủ.
Nhân tố ảnh hưởng: Việc chúng ta nhấn mạnh luận cứ cho rằng kiểm toán viên
không bị hạn chế trong việc thu thập bằng chứng kiểm toán là ý tưởng cho rằng công
việc kiểm toán cần được thực hiện với sự hợp tác đầy đủ của ban lãnh đạo cũng như
cán bộ công nhân viên của công ty đó. Nếu kiểm toán viên cho rằng họ gặp khó khăn
trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán mà họ cần, thì công việc kiểm toán có
thể trở nên tốn kém hơn rất nhiều. Tuy nhiên, điều này cũng có thể gây ra những ấn
tượng xấu cho những người quan tâm, do vậy điều này sẽ làm cho uy tín của các giám
đốc không còn tốt nữa.
Độc lập làm báo cáo:
Thể hiện: kiểm toán viên phải khách quan, trung thực trong việc nêu ý kiến trên cơ
sở kết quả công việc kiểm toán mà mình đã thực hiện.
Nhân tố ảnh hưởng: Nếu các giám đốc đã muốn lừa dối những người quan tâm
bằng cách công bố những thông tin sai lệch hay không đầy đủ, thì chắc chắn họ sẽ
không muốn để cho các kiểm toán viên công khai ra điều đó. Đó là lúc mà sự độc lập
của kiểm toán viên trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Phần lớn những bất đồng đều
bắt đầu từ những ý kiến, quyết định chủ quan, như cách giải quyết một tiêu chuẩn kế
toán hay là một con số ước tính, như khoản dự phòng cho những khoản khó đòi. Nếu
kiểm toán viên cứ khăng khăng không nhất trí với khách hàng thì điều đó cũng không
đảm bảo rằng kiểm toán viên sẽ nhận được sự ủng hộ của các cổ đông khi họ có những
quan điểm chung với giám đốc vì một mục tiêu nào đó. Kiểm toán viên thường hay bị
cám dỗ theo con đương ít bị chống đối một cách đơn giản là ngả theo ý kiến ban quản
trị khách hàng trong tất cả những mâu thuẫn, ngoại trừ những bất đồng cơ bản nhất.
Làm như vậy là kiểm toán viên tránh được sự trừng phạt có thể bị đe doạ bởi ban quan
toán viên đó.
Quan hệ sở hữu gián tiếp: Là quan hệ gần nhưng không trực tiếp giữa công ty
khách hàng và kiểm toán viên. Thí dụ: Khi một công ty kiểm toán tiến hành kiểm toán
một quỹ tương trợ có cổ phần, mà một người chung vốn trong công ty kiểm toán lại có
trong danh mục đầu tư của công ty khách hàng của cá nhân người đó.
Mặc dù trước đây đã có lần chấp nhận cho các kiểm toán viên sở hữu một lượng
cổ phần giới hạn trong công ty khách hàng, nhưng ngày nay điều đó được xem như là
một yếu tố ảnh hưởng đến tính độc lập của công tác kiểm toán và chắc chắn có khả
năng ảnh hưởng đến những nhận thức của người sử dụng về tính độc lập của kiểm toán
viên.
Theo nguyên tắc 101 (Tính độc lập) trong điều lệ đạo đức của AICPA:
Một hội viên hoặc một công ty mà ở đó anh ta là người chung vốn hoặc là cổ đông thì
sẽ không được diễn đạt ý kiến về các báo cáo tài chính của một doanh nghiệp trừ khi
anh ta và công ty của anh ta độc lập với doanh nghiệp đó.
*Tính độc lập sẽ được xem là bị vi phạm nếu, ví dụ:
Trong thời kỳ mà hợp đồng chuyên nghiệp của anh ta còn hiệu lực, hoặc vào thời điểm
mà anh ta trình bày quan điểm, anh ta hoặc công ty của anh ta:
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
12
Có hoặc được ủy thác để nhận bất kỳ một khoản lợi ích tài chính trực tiếp hoặc
khoản lợi ích tài chính trọng yếu gián tiếp nào ở doanh nghiệp đó, hoặc
Là người được ủy thác của bất kỳ tài sản nào hoặc người chấp hành hoặc người
quản lý của bất kỳ bất động sản nào, nếu tài sản đó hoặc bất động sản đó có nhận hoặc
được gắn với bất kỳ một khoản lợi ích tài chính trực tiếp hoặc khoản lợi ích tài chính
trọng yếu gián tiếp nào ở doanh nghiệp đó, hoặc
Có chung vốn đầu tư kinh doanh với doanh nghiệp hoặc với bất kỳ quan chức,
giám đốc hoặc cổ đông chính nào của doanh nghiệp đó mà có quan hệ quan trọng đối
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
13
Nếu kiểm toán viên vừa làm công tác kế toán như trực tiếp ghi sổ, giữ sổ kế toán
và lập báo cáo tài chính vừa làm công tác kiểm toán thì tính độc lập cũng bị ảnh hưởng.
Sự bất kiêm nhiệm luôn là yếu tố quan trọng trong việc quản lý. Kiểm toán và kế toán
là hai lĩnh vực độc lập hoàn toàn với nhau theo yêu cầu của quản lý, báo cáo tài chính
sẽ không còn đáng tin cậy khi nó do cùng được một cá nhân lập và sau đó là xác minh
và bày tỏ ý kiến. Tất nhiên, trong thời kỳ ngày nay, các nhân viên kiểm toán tất nhiên
sẽ không được làm việc tại công ty mà mình kiểm toán nếu như công việc đó hoàn toàn
không phải là công tác kiểm toán nhưng khó có thể kiểm soát được điều này.
1.2.4.5 Tranh chấp giữa công ty kiểm toán và khách hàng
Khi có một vụ kiện tụng hoặc khả năng sinh ra một vụ kiện tụng giữa công ty
kiểm toán và khách hàng của họ , khả năng công ty kiểm toán và khách hàng còn giữ
được tính độc lập, khách quan là rất đáng nghi vấn. Thí dụ: nếu Ban quản trị kiện công
ty kiểm toán, khiếu nại một khuyết điểm trong lần kiểm toán trước, công ty kiểm toán
sẽ không được xem là độc lập đối với lần kiểm toán trong năm hiện hành. Tương tự,
nếu công ty kiểm toán kiện Ban quản trị vì sự quản lý lừa đảo hoặc dối trá, tính độc lập
cũng bị mất.
Vụ kiện từ phía khách hàng liên quan tới thuế hoặc các dịch vụ không phải là
kiểm toán khác, hoặc vụ kiện cả công ty khách hàng và công ty kiểm toán từ một thành
phần khác, cũng thờng không làm hại đến tính độc lập. Tuy vậy, việc xem xét chính
trong tất cả các vụ kiện này thường không làm ảnh hưởng khả dĩ đến khả năng giữ
vững tính khách quan và bình luận một cách thoải mái của Ban quản trị công ty khách
hàng và toàn thể nhân viên của công ty kiểm toán.
1.2.5 Ảnh hưởng của tính độc lập đến chất lượng kiểm toán
Tính độc lập là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với chất lượng kiểm toán. Do vậy, khi
đề cập đến chất lượng kiểm toán thì tính độc lập là vấn đề đầu tiên mà chúng ta cần
nhắc đến, ảnh hưởng của tính độc lập đến chất lượng kiểm toán được biểu hiện rất rõ
kiểm toán viên sẽ bị đặt vào sức ép về tâm lý có thể là trong ý muốn hoặc ngoài ý muốn
nhưng chắc chắn sẽ có những hành vi thiên vị, che giấu cho những sai phạm trọng yếu
của công ty, bỏ qua những chi tiết quan trọng. Đây là chúng ta đang xét đến khía cạnh
độc lập thực sự. Ngoài ra, kiểm toán viên có thể giữ vững được thái độ độc lập của
mình nhưng cũng sẽ không được người khác tin tưởng vào kết quả làm việc của họ vì ai
cũng sẽ cho rằng anh ta làm việc cho những người quen của anh ta, như vậy chắc chắn
sẽ không làm việc một cách độc lập. Những người có liên quan và có quan tâm đến các
thông tin trên báo cáo tài chính vừa được kiểm toán sẽ không còn tín nhiệm với nó nữa,
họ có thể sẽ không tin vào khả năng tài chính của công ty nếu họ có ý định đầu tư vào
công ty đó hoặc cho rằng công ty có thể đang làm ăn thua lỗ và không nên tiếp tục quan
hệ mua bán với công ty này, nếu không có thể họ sẽ bị lỗ.
Nếu như khi kiểm toán viên có quan hệ thân mật với đơn vị được kiểm toán thì
kết quả kiểm toán có thể có lợi cho các khách hàng kiểm toán thì khi giữa họ có sự
tranh chấp, kiện tụng nhau, kết quả kiểm toán có thể sẽ không có lợi gì cho khách hàng,
ý kiến mà kiểm toán viên đưa ra có thể không được khách quan, hoặc họ sẽ không có
những ý kiến tư vấn bổ ích cho công tác quản lý của công ty nữa.
Tính độc lập của kiểm toán viên thường được thể hiện trên các khía cạnh: độc
lập trong việc lên chương trình, độc lập trong việc điều tra, độc lập trong việc làm báo
cáo.
Kết quả của báo cáo kiểm toán sẽ ít có giá trị nếu nó không được điều tra kỹ
lưỡng, tuy nhiên điều này là bất lợi cho các giám đốc nếu họ muốn che giấu điều gì đó,
nếu kiểm toán viên bớt việc điều tra, tìm hiểu thì không những khách hàng kiểm toán sẽ
che giấu được những thông tin cần che giấu mà còn bớt được chi phí kiểm toán. Do
vậy, nếu kiểm toán viên tự mình độc lập khỏi những yêu cầu của khách hàng thì chất
lượng công việc của họ sẽ cao hơn. Khi làm báo cáo, tính độc lập cực kỳ quan trọng vì
giám đốc có thể sẽ không muốn kiểm toán viên công khai những thông tin kế toán sai
lệch mà họ đang muốn giấu diếm.Vì vậy, họ sẽ làm mọi cách để khiến cho kiểm toán
viên phải có ý kiến có lợi cho họ.
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
thực sự của kiểm toán viên
Khi công ty kiểm toán là cung cấp dịch vụ ngoài kiểm toán cho công ty, thì họ đã
có một mối quan hệ với nhau và nó tác động đến tính độc lập của kiểm toán viên. Kiểm
toán viên chỉ thực sự độc lập khi đảm bảo độc lập trong mối quan hệ đối với khách
hàng, song tính độc lập có nguy cơ bị ảnh hưởng do những nguy cơ: tư lợi, tự kiểm tra,
sự bào chữa, quan hệ khác và sự đe dọa :
• Nguy cơ do tư lợi: diễn ra khi công ty kiểm toán hoặc một thành viên nhóm
kiểm toán có thể thu được lợi ích tài chính hoặc các xung đột lợi ích cá nhân khác với
khách hàng sử dụng dịch vụ bảo đảm. Và ở đây khi cung cấp dịch vụ ngoài kiểm toán
cho công ty khách hàng thì việc tư lợi giữa kiểm toán viên với công ty khách hàng
nhằm thu được lợi ích tài chính cho các bên là rất dễ để diễn ra, và khó có thể kiểm
soát được.
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
16
• Nguy cơ tự kiểm tra: Khi mà kiểm toán viên vừa là nhân viên tư vấn cho công
ty khách hàng về hệ thống kế toán như tư vấn thuế, hoặc thiết kế hệ thống kiểm soát
nội bộ, lại chính là người kiểm toán cho báo cáo tài chính của công ty khách hàng thì
nguy cơ này rất dễ xảy ra, bởi vì chính kiểm toán viên lại xem xét lại những đánh giá
trước đây do mình chịu trách nhiệm và cung cấp.
• Nguy cơ về sự bào chữa: Khi kiểm toán viên đã cung cấp dịch vụ ngoài kiểm
toán cho khách hàng kiểm toán lại kiểm toán báo cáo tài chính cho chính công ty đó,
thì nguy cơ về sự bào chữa rất cao, bởi vì lúc này mức độ về tính khách quan có thể bị
ảnh hưởng.
• “Nguy cơ bị đe doạ” xảy ra khi một thành viên của nhóm kiểm toán bị đe doạ
(đe doạ thật hoặc cảm thấy bị đe doạ) nhằm ngăn cản hành động theo đúng nguyên tắc
khách quan và hoài nghi nghề nghiệp cần thiết. Hiện nay, khi mà thực trạng về giá phí
kiểm toán khi cung cấp dịch vụ kiểm toán lại rất thấp do sự cạnh tranh của các công ty
ty cổ phần Dược Viễn Đông,… và trên thế giới là các vụ vỡ lỡ kiểm toán gây chấn
động nền tài chính thế giới đó, chúng ta chắc hẳn không thể quên những bê bối kiểm
toán cho những tập đoàn hùng mạnh nhất nhì thế giới: tập đoàn Enron và Worldcom
của Hoa Kì, tập đoàn Parmalat của Ý, Và điểm nhấn mạnh ở đây là tất cả các vụ bê
bối kiểm toán này đều bắt nguồn từ những nguyên nhân xuất phát từ đạo đức nghề
nghiệp của kiểm toán viên, mà quan trọng nhất là xuất phát từ việc thiếu tính độc lập
của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán mà cụ thể hơn chính là xuất phát từ
nguyên nhân chính các công ty kiểm toán đồng thời cũng cung cấp cả dịch vụ tư vấn
quản lý, kế toán cho khách hàng.
Ở đây, em xin phân tích kĩ một vụ bê bối và có tác động rất lớn đến nền tài chính trên
thế giới, rất đáng để các công ty kiểm toán nói chung và kiểm toán viên nói riêng đã,
đang hành nghề và sẽ trở thành kiểm toán viên thấy rõ những ảnh hưởng của nó, và đây
cũng là bài học rất quí giá cho bất kì ai đã, đang và sắp hành nghề kiểm toán. Đó chính
là vụ bê bối “Enron-Arthur Andersen-Bài học về sự sụp đổ”
2.1 Giới thiệu về tập đoàn Enron và công ty kiểm toán Arthur Andersen
2.1.1 Khái quát về tập đoàn năng lượng Enron
Tập đoàn năng lượng Enron tên ban đầu là công ty Northern Natural Gas được
thành lập năm 1931 tại Omaha Nebraka và được tái cơ cấu năm 1979 khi công ty này
được sáp nhập Holding Company Inter-North. Năm 1985 công ty mua lại Houston Gas
Natural và đổi tên thành tập đoàn Enron. Sau này chính CEO của Houston đã chuyển
trụ sở của Enron về Houston, Texas, USA.
Enron ban đầu hoạt động trong lĩnh vực truyền tải và phân phối điện, gas trên toàn
nước Mỹ; xúc tiến, xây dựng, đưa vào hoạt động các nhà máy điện, các hệ thống
đường ống khí thiên nhiên. Enron sở hữu một mạng lưới lớn các đường ống khí thiên
nhiên xuyên biển, xuyên biên giới như: Northern Natural Gas, Florida Gas
Transmission , công ty Transwestern Pipenline cùng với 1 đối tác phía Canada. Doanh
thu của Enron chủ yếu thu từ các hoạt động trên và nó tài trợ cho các hoạt động đầu tư
mạo hiểm của Enron. Năm 1998 Tập đoàn này lấn sân sang lĩnh vực cung cấp nước và
thành lập tập đoàn Azurix. Tuy nhiên Azurix đã thất bại thảm hại đặc biệt tại Bunos
Aires. Thất bại này đã khiến Enron mất một khoản tiền lớn.
lên ngôi, khi gặp khó khăn thì bán ngay lập tức. Nhờ hoạt động tài chính thuận lợi,
Enron đã vươn sang các mặt hàng như giấy, nước, nhựa, kim loại và phương tiện viễn
thông.
Năm 2000, Enron là một trong 7 công ty Mỹ có doanh số hơn 100 tỷ USD, lợi
nhuận lên tới 10 tỷ USD. Hệ thống thông tin đại chúng, điển hình là tạp chí Fortune,
luôn công bố những thông tin thiếu thực tế điều mà Enron là công ty có nhiều tiềm
năng nhất với số vốn kinh doanh 63 tỷ USD.
Sai lầm của công ty này chính là phụ thuộc quá nhiều vào các giao dịch tài chính.
Vào tháng 8/2001, Giám đốc Điều hành Jeffrey Skilling từ chức vì lý do cá nhân.
Enron công bố lỗ 618 triệu USD trong quý III nhưng thực tế lên tới 1,2 tỷ USD. Khi
công ty khó khăn, họ thuyết phục nhân công nhận lương và thưởng bằng cổ phiếu. Làm
cách đó, giá trị của Enron đã bị giảm sút nghiêm trọng. Khi Ủy ban Chứng khoán Mỹ
điều tra, Giám đốc tài chính Fastow phải ra đi, cổ phiếu của Enron tụt giá thảm hại,
lòng tin của khách hàng đã mất khiến họ không đầu tư nữa.
Chính những thông tin sai lệch về khả năng quản lý, Enron được quảng cáo rất
hiệu quả qua công ty kiểm toán Arthur Andersen, nhờ vậy số người mua cổ phiếu của
công ty cao kỷ lục. Chi nhánh Houston của Arthur Andersen đã đưa ra những Báo cáo
Kiểm toán sai lệch nhằm có lợi cho Enron nên đã nhận được 1 triệu USD/tuần còn
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
19
tham gia cả việc tìm kiếm đối tác cho Enron. Số tiền kếch xù trên đã làm mờ mắt các
nhân viên kiểm toán và họ dễ dàng bỏ qua nguyên tắc. Điều trần trước Quốc hội Mỹ ,
Tổng giám đốc điều hành Arthur Andersen, ông Joe Berardino thừa nhận họ đã phạm
sai lầm nghiêm trọng. Tuy khẳng định rằng Arthur Andersen đã làm tất cả để hạn chế
thấp nhất khả năng đổ vỡ của Enron, nhưng họ lại hủy hầu hết tài liệu có liên quan đến
vụ việc, ngay cả khi Ủy ban Chứng khoán đã mở cuộc điều tra.
Nhiều nhà phân tích chứng khoán tháng 11/2001 còn tư vấn cho khách hàng mua
Điểm lý thú là Andersen đã ký hợp đồng làm tư vấn cho Enron, sau đó chính
mình lại đóng vai trò kiểm toán để xác nhận những báo cáo tài chính của Enron. Phí tư
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
20
vấn và kiểm toán đều là những con số khổng lồ. Ví dụ, năm 2000, phí tư vấn là 27 triệu
USD và phí kiểm toán là 25 triệu USD.
Tin vào danh tiếng của Arthur Andersen (hoặc cố tin), đến lượt các công ty phân
tích chứng khoán và ngân hàng đầu tư ở phố Wall cho đến trước cuộc khủng hoảng vẫn
khuyên các nhà đầu tư mua cổ phiếu của Enron.
2.3 Phân tích nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân trong sự kiện sụp đổ của Eron và A&A, tuy nhiên trong
phạm vi của đề án này, em xin phân tích những nguyên nhân đứng trên giác độ do ảnh
hưởng của đạo đức nghề nghiệp và cụ thể hơn là những nguyên nhân xuất phát từ tính
độc lập của kiểm toán viên:
Thứ nhất: Như chúng ta được biết Enron là một công ty năng lượng lớn của Mỹ-
khách hàng của Andersen. Năm 2000, Enron trả cho Andersen 25 triệu USD phí kiểm
toán và 27 triệu USD phí dịch vụ khác-một mức phí quá lớn. Bù lại, Enron được
Andersen bảo kê về tín nhiệm đối với nhà đầu tư khi báo cáo tính hình kinh doanh có
lãi của mình, nhưng thực chất là lỗ 500 triệu USD từ năm 1997.
Andersen đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc độc lập về mặt kinh tế, chạy theo
lợi nhuận kết xù thu được từ phí kiểm toán để công bố một báo cáo kiểm toán sai lệch
về Enron.
Thứ hai: Kế toán trưởng của Enron là kiến trúc sư trưởng của vụ lừa dối cổ đông lại
nguyên là kiểm toán viên của Andersen.
Vi phạm nguyên tắc độc lập về mặt tình cảm
Thứ ba: Andersen đã kí hợp đồng làm tư vấn cho Enron, sau đó chính mình lại đóng
vai trò kiểm toán để xác nhận những báo cáo tài chính của Enron
các ủy ban kiểm toán gồm từ 3 đến 5 người hoặc đôi khi lên đến 7 người, và họ phải
không có trách nhiệm điều hành trong việc quản lý tài chính. Nhiệm vụ chính là xét
duyệt các báo cáo tài chính, xem xét tính hiệu quả của các hệ thống kế toán và kiểm tra
nội bộ của công ty cùng các kết quả thu được của các kiểm toán viên, đưa ra kiến nghị
về việc chỉ định trả thù lao cho các kiểm toán viên bên ngoài.
Một ủy ban kiểm toán được xây dựng và vận hành tốt là yếu tố quan trọng trong
việc xác định tính độc lập của công ty kiểm toán. Nó sẽ quyết định những vấn đề như:
nên giữ lại công ty kiểm toán nào và phạm vi của các dịch vụ mà công ty kiểm toán
phải thực hiện. Ủy ban họp định kì với công ty kiểm toán để bàn về các phát hiện và
tiến trình kiểm toán, giúp giải quyết những mâu thuẫn giữa công ty kiểm toán với ban
quản trị. Các công ty tham gia thị trường chứng khoán cần có ủy ban kiểm toán và cần
xác định thành phần tham gia ủy ban.
Trên thế giới ủy ban kiểm toán được thành lập khá phổ biến và gần như bắt buộc.
Trong khi đó tại Việt Nam hiện nay các công ty tham gia thị trường chứng khoán vẫn
chưa thành lập ủy ban này. Điều này có thể hiểu là do thị trường chứng khoán tại Việt
Nam còn đang ở những bước đi chập chững do đó khái niệm ủy ban kiểm toán còn khá
mới mẻ. Nhưng hi vọng rằng trong một tương lai không xa điều này sẽ sớm phổ biến
rõ rệt.
3.2 Bổ sung các qui định, luật định cũng như cần có những chuẩn mực cụ thể rõ
ràng về việc các công ty kiểm toán đồng thời cung cấp dịch vụ kiểm toán và dịch
vụ ngoài kiểm toán
Cần công khai minh bạch rõ ràng, các khoản thu nhập từ việc cung cấp dịch vụ ngoài
kiểm toán. Đồng thời, nên nêu rõ những trường hợp nào nếu công ty đã cung cấp dịch
vụ ngoài kiểm toán thì sẽ không được cung cấp dịch vụ kiểm toán cho cùng công ty
khách hàng. Và đồng thời cũng cần đưa ra những chế tài xử phạt những vi phạm một
cách rõ ràng.
3.3Tổ chức các cuộc kiểm tra quá trình kiểm toán
Để đảm bảo tính độc lập của kiểm toán viên, hạn chế những ảnh hưởng của việc
cung cấp dịch vụ ngoài kiểm toán đến đạo đức của kiểm toán viên nói chung và tính
độc lập của kiểm toán viên nói riêng. Vai trò của các hiệp hội kiểm toán, và trách
thể tác động đến cả tính độc lập thực sự và tính độc lập bề ngoài. Cho nên việc đào tạo
để giúp kiểm toán viên nắm rõ những qui định về tính độc lập cũng như hiểu về những
yêu cầu về mặt đạo đức sẽ giúp hạn chế phần nào ảnh hưởng của việc cung cấp các
dịch vụ ngoài kiểm toán đến tính độc lập của kiểm toán viên.
Để tạo cho kiểm toán viên có tính độc lập trong công việc, cần phải đào tạo đội ngũ
kiểm toán viên một cách chính qui hơn và thường xuyên nâng cao tay nghề cho kiểm
toán viên. Hiện tại, đội ngũ kiểm toán viên của chúng ta mặc dù đã có nhiều tiến bộ về
mọi mặt nhưng vấn chưa đảm bảo nhu cầu đặt ra, do đó để tiến kịp với các nước trong
khu vực cũng như quốc tế, chúng ta cần có chính sách đúng đắn đối với vấn đề này.
Ngoài ra, để tránh tình trạng hạn chế tính độc lập trong quá trình kiểm toán, cần
phải xây dựng thêm những chuẩn mực kiểm toán về vấn đề tính độc lập để tạo dựng cơ
sở pháp lý đối với vấn đề này.
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Huyền
23
3.6 Trách nhiệm của kiểm toán viên
Để tăng cường tính độc lập trong kiểm toán nói chung và hạn chế những ảnh hưởng
từ việc cung cấp dịch vụ ngoài kiểm toán đến tính độc lập của kiểm toán viên, kiểm
toán viên phải tuân thủ các nguyên tắc nghề nghiệp:
Phải luôn luôn trau dồi cho mình đầy đủ kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ.
Không được để cho các lợi ích vật chất chi phối đến sự khách quan và độc lập
nghề nghiệp.
Kiểm toán viên không được nhận làm cho các công ty mà mình có quan hệ kinh
tế hoặc quyền lợi kinh tế.
Không được nhận làm ở những nơi mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc.
Trong quá trình kiểm toán, nếu có sự hạn chế về tính độc lập thì phải loại bỏ sự
hạn chế này và nếu không loại bỏ được thì phải nêu điều này trong báo cáo kiểm toán.
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
2. Kiểm toán- Alvin A.Aren
3. Kiểm toán( ĐH Tài chính-Kế toán)
4. Kiểm toán-Lý thuyết và thực hành(JOHN DUNN- TS Vũ Trọng Hùng dịch)
5. Tạp chí Kiểm toán.
6. Tạp chí Kế toán.
7. Tạp chí Kinh tế và phát triển.
8. Tạp chí Tài chính.
9. Tạp chí Tổ chức Nhà nước.
10.Quyết định 87/2005/QĐ-BTC của Bộ tài chính ngày 01/12/2005 về việc ban hành
và công bố Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam.
11. Các website
– Luật kiểm toán nhà nước của Việt Nam đạt chuẩn Quốc tế.
– Hoạt động kiểm toán phải độc lập
SVTH: Huỳnh Thị Mai Ly
Đề án môn học