khiếu kiện hành chính , lịch sử và thực trạng và thực trạng khiếu kiện hành chính ở nước ta - Pdf 26


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH, LỊCH SỬ VÀ
THỰC TRẠNG KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA 6

1.1 Khái lược lịch sử khiếu kiện hành chính và tổ chức giải quyết khiếu kiện hành
chính ở nước ta 6

1.1.1. Thời phong kiến 6

1.1.2. Thời Ngụy quyền Sài Gòn 9

1.1.3 Ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975 9

1.2. Khái niệm và tính chất của khiếu kiện hành chính 11

1.2.1. Khái niệm khiếu kiện hành chính 11

1.2.2. Tính chất của khiếu kiện hành chính 13

1.3. Phân loại khiếu kiện hành chính 15

1.4. Ý nghĩa của khiếu kiện hành chính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền, nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam 17

1.5. Thực trạng khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay 20

1.5.1. Thực trạng khiếu nại hành chính 21

3.2. Vấn đề hòan thiện mô hình tài phán hành chính ở nước ta 77

3.2.1 Các quan điểm cần quán triệt 78

3.2.2. Mô hình tài phán hành chính được đề xuất 79

KẾT LUẬN 90Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Tổng hợp số liệu án hành chính thụ lý tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh trong 5 năm 2002-2006 [Nguồn báo cáo tổng kết họat động của TAND
tp.HCM, 79-83]:..................................................................................................92

Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính tại
thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1999 – 2005[82] ...............................................93

Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng các vụ án hành chính mà ngành Tòa án nhân dân đã thụ
lý, giải quyết từ năm 2002 đến 2006[73-77] .......................................................93

Bảng 2.3 Tổng hợp số lượng khiếu kiện hành chính mà Tòa án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh đã thụ lý, giải quyết từ năm 2002- 2006 [79-83] ..................................94

15/6/2004 : Luật 2004
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ban hành ngày
29/11/2005 : Luật 2005
- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính : Pháp lệnh TTGQCVAHC
- Pháp lệnh quy định xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo cuả công dân ngày 27/11/1981
: Pháp lệnh 1981
- Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo ngày 02/5/1991 : Pháp lệnh 1991
- Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 21/5/1996 : Pháp lệnh 1996
- Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
28/12/1998 : Pháp lệnh 1998
- Quyết định hành chính : QĐHC
- Xử phạt vi phạm hành chính : XPVPHC
- Tài phán hành chính :TPHC
- Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh : TAND tp.HCM
- Tòa án nhân dân tối cao : TANDTC
- Tổ chức thương mại thế giới : WTO
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

- Uỷ ban nhân dân : UBND
- Xã hội chủ nghĩa : XHCN
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
1
MỞ ĐẦU

Nhà nước XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân, quyền làm chủ
về mọi mặt của nhân dân được Nhà nước bảo đảm. Công dân , tổ chức có quyền khiếu
nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có căn cứ để cho rằng có QĐHC, HVHC
của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính

tế hoạt động giải quyết KKHC của chúng ta?
- Tại sao hoạt động giải quyết KKHC của Tòa án đã trải qua hơn 10 năm nhưng số
lượng đơn khởi kiện vẫn ít, tỷ lệ các phán quyết hành chính được thi hành còn thấp.
Trong khi đó số lượng đơn khiếu nại gửi đến các cơ quan hành chính vẫn còn nhiều.
Đâu là nguyên nhân của tình trạng trên? Chúng ta phải làm gì để khắc phục ?
- Việc duy trì hai hệ thống giải quyết các tranh chấp hành chính như hiện nay có
còn phù hợp hay không. Nếu còn phù hợp thì cần hoàn thiện như thế nào để các cơ
quan này hoạt động có hiệu quả hơn? Nếu việc tổ chức mô hình giải quyết như hiện nay
không còn phù hợp thì nên đổi mới như thế nào. Cơ sở lý luận và thực tiễn để đề ra mô
hình mới?
Là người trực tiếp tham gia giải quyết các KKHC ngay từ khi Toà hành chính-
Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, trên cơ sở các kiến thức tiếp
thu được trong quá trình theo học khoá đào tạo cao học luật, tôi chọn đề tài “Đổi mới
mô hình tổ chức giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay.” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
KKHC là một thực tế khách quan phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước của
mọi quốc gia, không phân biệt đó là chính thể hoặc chế độ chính trị nào.
Ngay từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn
đề giải quyết KKHC [65, Tr 30]. Nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
3
giải quyết KKHC (bao gồm giải quyết khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành
chính) đã được thực hiện như: Coâng trình “Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta”
cuûa Học viện Hành chính quốc gia do GS. TSKH Nguyễn Duy Gia chủ biên, Nhà xuất
bản Giáo dục Hà Nội-1995; “Tìm hiểu về tài phán hành chính ở Việt Nam” cuûa PTS
Phạm Hòang Thái và PTS Đinh Văn Mậu, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh -1996;
“Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền” cuûa PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nhà
xuất bản Tư pháp- 2004, trong đó có nghiên cứu về tổ chức Toà hành chính … Ngoài

- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp tổng hợp, thống kê;
- Phương pháp phân tích đánh giá…
5. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Để nghiên cứu về khiếu kiện hành chính và tổ chức mô hình giải quyết KKHC
không thể không vận dụng những quy tắc cơ bản, các phạm trù, khái niệm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như các khái niệm chính trị
học, hành chính học hiện đại. Chúng cho phép ta nhận thức và thấu hiểu bản chất cũng
như đặc điểm riêng của KKHC và việc giải quyết KKHC, hiểu được mối quan hệ giữa
chúng với nhau và giữa chúng với các vấn đề có liên quan khác.
Về mặt cơ sở lý luận, đề tài này sử dụng những thành tựu lý luận của khoa học
Luật hành chính thế giới, trước hết là của các nước XHCN. Hệ thống các khái niệm,
phạm trù, quan điểm được sử dụng trong đề tài cũng bắt nguồn từ những kết luận khoa
học của lý luận luật hành chính XHCN, ñồng thời còn tiếp thu những yếu tố khoa học,
hợp lý liên quan đến các lý luận về KKHC và các mô hình tổ chức giải quyết KKHC
của các nước có chế độ chính trị khác nhau.
Nguồn tư liệu quan trọng của đề tài này là các nghị quyết của Đảng CSVN, đặc
biệt là chủ trương đổi mới và tăng cường hiệu lực của bộ máy nhà nước, thực hiện cải
cách bộ máy hành chính nhà nước và tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật của
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
5
Đảng và Nhà Nước ta hiện nay. Ngoài ra, đề tài này còn tham khảo, sử dụng các giáo
trình có liên quan , các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước…
Cơ sở thực tiễn chủ yếu của luận văn là thực tiễn hoạt động giải quyết KKHC của
của Tòa án nhân dân; hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước.
Nguồn thông tin được sử dụng làm cơ sở nghiên cứu thực tiễn nêu trên là các văn
bản quy phạm pháp luật, các báo cáo tổng kết hoạt động, các tham luận… của các cơ
quan nhà nước, các nhà khoa học có liên quan và các hiểu biết của tác giả trong hơn 10

Nho gio đã thâm nhập, có thời kỳ còn chiếm giữ vị trí độc tôn trong hoạt động của nhà
nước phong kiến Việt Nam. Theo quan điểm Nho gia, trong quan hệ giữa Vua- Dân thì
vua là người thay trời trị dân. Toàn bộ quyền lực quốc gia tập trung vào tay vua, từ lập
pháp, hành pháp đến tư pháp. Vua là gạch nối giữa trời với dân, vua có nghĩa vụ thay
trời lo cho dân được ấm no, hạnh phúc[24,Tr68].
Trong thời kỳ ấy mọi tầng lớp nhân dân phải có nghĩa vụ tuân thủ lệnh vua, như
con tuân lệnh Cha: “Vua nói chết không chết là bất trung – Cha nói chết không chết là
bất hiếu”. Trong cái trật tự ấy của Nho gio” vua là con trời”, ” ý vua là ý trời”, “Vua sẽ
thay trời trị dân”.
Theo sử cũ, khi Lý Công Uẩn lên ngôi (1009 - 1028), là vị vua khai sáng triều đại
quân chủ trung ương tập quyền hoàn chỉnh đầu tiên ở Việt Nam đã ban hành chiếu chỉ
đích thân trực tiếp giải quyết các khiếu kiện của dân. Chiếu rằng “Từ nay hễ có ai kiện
tụng, được đến triều tâu bày, Vua sẽ đích thân xét quyết cho” [38,Tr142].
Trong các triều đại phong kiến Việt Nam sau đó, đã hình thành một truyền thống
dân chủ trong chế độ quân chủ ở Việt Nam là dân có thể kiện đến triều đình các hành vi
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
7
sai trái, phạm pháp của quan lại để vua xét xử. Trước điện triều có đặt sẵn một cái trống
hay cái chuông để có oan ức điều gì thì dân có thể đến đánh trống, đánh chuông kêu
oan lên Vua.
Vào thời Trần, ở trung ương, bên cạnh các cơ quan, chức quan đã có từ thời Lý,
triều đình còn đặt thêm nhiều cơ quan chuyên trách mới trong đó có Thẩm hình viện và
Tam ty viện. Thẩm hình viện là cơ quan xét xử cao nhất, Tam ty viện là cơ quan có
chức năng giám sát việc thi hành pháp luật cuả các quan lại và viên chức nhà nước, là
cơ quan đề nghị Nhà Vua sưả đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cuả Nhà nước. Ngoài
các chức quan như đã có dưới triều Lý, nhà Trần còn đặt thêm các chức quan như Tư
đồ, Tư mã, Tư không, gọi chung là Tam tư, trong đó Tư mã là quan phụ trách công việc
chinh phạt như quốc phòng, công an, tư pháp[26,Tr91]. Có chức quan là Ngự sử đài với
nhiệm vụ là chuyển những giấy tờ trình nhà vua, chuyển đơn khiếu tố cuả tất cả các nơi

Nguyễn lúc đó kẻ nào đón xa giá nhà vua hoặc đánh trống Đăng Văn để khiếu oan mà
việc không có gì khẩn thiết thì bị xử phạt 100 trượng; nếu khiếu oan không có sự thực
thì theo mức nặng của tội vu cáo mà xử tội.
Các quy định trên chứng tỏ nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có quan tâm đến
việc khiếu kiện của dân. Không ít quan lại làm điều phi pháp nếu bị kiện đến tai vua thì
bị trừng trị thích đáng như: Cách chức; thu hồi áo, mão…Theo Đại Nam Thực Lục
Chính Biên vào năm 1832 bọn lại viên và người coi kho ở Sơn Nam và Hải Dương có ý
gian đem cái quan hộc dùng để đong gạo thu thuế đẽo đáy cho trũng xuống và mỗi lần
đong thì nặng tay ấn gạo xuống để lạm thu cho nhiều… Khi vụ việc bị khiếu kiện, nhà
Vua đã ra lệnh chém bêu đầu những kẻ cầm đầu, đục lấy mỗi bên một mảnh xương sọ,
phơi gió cho khô, treo ở cửa để răn đe người khác. Vua còn bảo quần thần rằng: “Lấy
được mảnh xương sọ mà cứu được ức muôn người khỏi khổ luỵ, thì dù có mang tiếng
là hình phạt tàn khốc cũng không hề gì” [38, Tr144].

Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
9
1.1.2. Thời Ngụy quyền Sài Gòn
Năm 1885 kinh đô thất thủ, vua nhà Nguyễn thực tế lúc đó không còn quyền hành
thực sự nên Tam pháp ty bị bị bỏ, trống Đồng Văn bị dẹp. Cũng kể từ thời điểm này,
đất nước ta luôn chìm trong khói lửa chiến tranh cho đến năm 1954, bằng các thoả
thuận tại Hiệp định Géneve đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc.
Tại miền Nam Việt Nam kế thừa Dụ số 2 ngày 05/01/1950 (được ban hành khi Việt
Nam còn là thành viên trong Khối liên hiệp Pháp), chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp
tục ban hành Dụ số 36 ngày 08/11/1954 tiếp tục duy trì tổ chức Tòa hành chính và Dụ
số 38 ngày 09/11/1954 về việc thành lập Tham chính viện.
Theo các quy định có liên quan thì Tòa hành chính có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
các vụ án đòi bồi thường liên quan đến pháp nhân hành chính, các vụ kiện xin thủ tiêu
các QĐHC có tính cách cá nhân liên quan đến tình trạng hành chính của công chức cấp
trung, cấp thấp, các vụ tranh tụng liên quan đến tuyển cử hội đồng hàng tỉnh, hàng

ương đến điạ phương phải trả lời kịp thời và đầy đủ tất cả các vấn đề cuả nhân dân đặt
ra [ 67,Tr1030]. Một sự kiện đáng ghi nhớ là ngày 07/11/1979 Thủ tướng Chính phủ đã
có Chỉ thị số 363/TTg trong đó quy định: Sau khi xác minh sự phản ánh cuả quần
chúng, báo, đài có thể tự động đăng công khai các vấn đề để đấu tranh chống tiêu cực.
Trong thời hạn 30 ngày các cơ quan liên quan phải trả lời việc được báo đài nêu lên
hoặc chuyển thư đến.
Ngày 27/11/1981 Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh quy định việc xét và
giải quyết KNTC cuả công dân (Pháp lệnh 1981); quy định về quyền KNTC cuả công
dân đến các cơ quan hành chính nhà nước và thủ tục giải quyết KNTC cuả công dân tại
các cơ quan hành chính nhà nước. Ngày 02/5/1991 Hội đồng nhà nước có Pháp lệnh
KNTC cuả công dân (Pháp lệnh 1991) để thay thế cho Pháp lệnh 1981. Đến ngày
02/12/1998 Pháp lệnh 1991 được nâng lên thành một đạo luật là Luật KNTC (Luật
1998).
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
11
c bit, moọt bc ngot quan trng trong quỏ trỡnh phỏt trin ca phỏp lut v
gii quyt KKHC nc ta l ngy 21/5/1996 U ban thng v quc hi thụng qua
Phỏp lnh Th tc gii quyt cỏc v ỏn hnh chớnh, cú hiu lc t ngy 01/7/1996
(Phỏp lnh 1996). Theo ú trong mt s trng hp, ngoi vic khiu ni theo th tc
KNTC, mi cỏ nhõn, c quan, t chc cũn cú quyn khi kin v ỏn hnh chớnh n
Tũa ỏn yờu cu Tũa ỏn bo v cỏc quyn v li ớch hp phỏp cu mỡnh khi b cỏc
QẹHC, HVHC cu cỏc c quan nh nc, cỏn b, cụng chc, ngi cú thm quyn
trong cỏc c quan nh nc xõm phm. Vn ny s c xem xột c th trong cỏc
phn sau.
1.2. Khỏi nim v tớnh cht ca khiu kin hnh chớnh
1.2.1. Khỏi nim khiu kin hnh chớnh
Xem xột quỏ trỡnh phỏt trin ca quyn khiu ni, KKHC trong lch s nh trờn ó
cho ta nhng nột khỏi quỏt v KKHC. Nhng v mt phỏp lý, cho n nay vn cha cú
mt vn bn quy phm phỏp lut no nh ngha khỏi nim KKHC l gỡ. Tuy nhiờn,

Điều 2 Luật 1998 và khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh 1996, khái niệm “quyết định hành
chính” được định nghĩa như sau: “Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản
của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn
đề cụ thể trong hoạt động quản lý nhà nước”. Với định nghĩa này, QĐHC được xác
định bởi những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Là một mệnh lệnh mang tính bắt buộc thi hành (khác với các văn bản hành chính
khác như: công văn, báo cáo, tờ trình, diễn văn…. không chứa đựng các mệnh lệnh
hành chính).
- Phải được thể hiện bằng văn bản (khác với hành vi hành chính, có thể bằng văn
bản, bằng hành động hoặc không hành động).
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
13
- Phải do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền của cơ quan
hành chính nhà nước ban hành (phân biệt với các quyết định do các cơ quan, tổ chức
khác ban hành).
- Được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ
thể trong hoạt động quản lý nhà nước (phân biệt với văn bản quy phạm pháp luật:
mang tính bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần).
+ “Hành vi hành chính” là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có
thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện các nhiệm vụ, công vụ
(khoản 11 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo và khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính).
HVHC có thể bằng văn bản nhưng không chứa đựng mệnh lệnh, có thể chứa đựng
mệnh lệnh nhưng không bằng văn bản, có thể là hành động (như: khám xét người, thu,
giữ, làm hư hỏng tài sản…), có thể là không hành động (không thực hiện các công vụ,
nhiệm vụ của mình, như: Không cấp giấy phép xây dựng, không giao đất, không thu
hồi giấy chứng nhận đã cấp…).
+ “Khiếu nại hành chính” là việc người khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân

hệ pháp luật hành chính, thúc đẩy xã hội phát triển triển theo đúng định hướng cuả nhà
cầm quyền.
1.2.2.2. Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị
Nhà nước nói chung, hệ thống hành chính nhà nước nói riêng có hai chức năng:
duy trì trật tự chung, lợi ích chung cuả xã hội và bảo vệ quyền và lợi ích cuả giai cấp
cầm quyền. Theo quan điểm cuả Các-Mác thì chính trị là lĩnh vực thể hiện ý chí, lợi ích
cuả giai cấp thống trị. Như vậy, KKHC trước hết phải phù hợp với lợi ích chính trị cuả
giai cấp cầm quyền và không làm phương hại đến lợi ích chung cuả giai cấp cầm
quyền.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
15
Ở nước ta, Nhà nước cộng hoà XHCN Việt Nam là nhà nước cuả dân, do dân và vì
dân, dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức do
Đảng Cộng sản lãnh đạo. Do đó, KKHC cũng phải được thực hiện phù hợp với lợi ích
chung cuả giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động.
1.2.2.3. Tính hệ thống, thứ bậc
Quản lý nhà nước là một hệ thống theo thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ trung
ương đến điạ phương, trong đó cấp dưới phục tùng cấp trên, nhận chỉ thị, mệnh lệnh và
chiụ sự kiểm tra thường xuyên cuả cấp trên. Mỗi cấp cơ quan, mỗi cán bộ, công chức
làm việc trong cơ quan nhà nước đều hoạt động trong phạm vi thẩm quyền được giao.
Do vậy, KKHC cũng phải được thực hiện theo thứ bậc tương ứng, tức là việc khiếu
kiện cũng phải được thực hiện theo nguyên tắc từ dưới lên trên.
1.2.2.4. Tính bảo đảm bằng pháp luật
Quan hệ pháp luật hành chính là một quan hệ không bình đẳng giữa một bên là
các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước với bên kia là các cá nhân, cơ quan, tổ
chức là đối tượng bị quản lý phải tuân thủ các quyết định quản lý, hành vi quản lý cuả
chủ thể quản lý theo nguyên tắc phục tùng. Do đó, để bảo đảm quyền KKHC cuả người
khiếu kiện và bảo đảm trật tự cuả quản lý nhà nước, việc KKHC phải được quy định

- Khiếu kiện QÑHC, HVHC cuả cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong cơ
quan nhà nước;
Hoặc:
- Khiếu kiện QÑHC, HVHC cuả cơ quan nhà nước, cuả cán bộ, công chức, người có
thẩm quyền trong cơ quan nhà nước cấp trung ương.
- Khiếu kiện QÑHC, HVHC cuả cơ quan nhà nước, cuả cán bộ, công chức, người có
thẩm quyền trong cơ quan nhà nước các cấp điạ phương.
+ Dưạ vào tính bảo mật cuả các thông tin liên quan, khiếu kiện hành chính được
chia thành:
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
17
- KKHC thuộc hoặc có liên quan đến bí mật quốc gia;
- KKHC thuộc hoặc có liên quan đến bí mật an ninh, quốc phòng;
- KKHC thuộc hoặc có liên quan đến bí mật cuả bộ, ngành;
- KKHC khác.
1.4. Ý nghĩa của khiếu kiện hành chính trong điều kiện xây dựng
nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở
Việt Nam

KKHC có tính chất hai mặt. Một mặt nó là hình thức thể hiện quyền cá nhân trong
việc tự do đánh giá họat động của công quyền nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
của mình,với ý nghĩa tích cực này họat động KKHC đã góp phần thúc đẩy sự phát triển
lành mạnh của quyền lực, đem lại các hiệu quả ích lợi cho xã hội. Cùng với mặt tích
cực trên, nếu KKHC vượt quá mức cho phép hoặc bị lạm dụng, trong xã hội sẽ xuất
hiện hiện tượng thiếu lành mạnh lôi cuốn dư luận và các nguồn lực vào hướng thiếu ổn
định, gây ảnh hươởg đến sự phát triển bền vững [35,Tr4].
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, việc xây dựng một nhà nước thực sự là
cuả dân, do dân và vì dân như Điều 2 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định là một trong
những nhiệm vụ bức xúc, vô cùng quan trọng.

kinh tế cũ đã tồn tại suốt một thời gian dài nên cho dù chúng ta có chuyển đổi sang cơ
chế quản lý mới thì các thói quen, sự ảnh hưởng cuả cơ chế cũ cũng vẫn còn và tác
động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp. KKHC chính là một kênh
thông tin giúp chúng ta phát hiện và có các chấn chỉnh kịp thời.
Thực tế đã chứng minh, qua việc giải quyết một số khiếu kiện cụ thể cuả các doanh
nghiệp, chúng ta đã phát hiện được sự không phù hợp trong các quy định cuả pháp luật
về xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục hải quan, áp thuế suất hàng nhập khẩu, thuế giá
trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân…, từ đó có những
hướng dẫn, giải thích hoặc quy định điều chỉnh lại cho phù hợp.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
19
Với chính sách mở cưả và hội nhập quốc tế, từ năm 1977 chúng ta đã trở thành
thành viên cuả Liên hiệp quốc, những năm 1980 chúng ta đã hội nhập kinh tế đa
phương thông qua Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV). Ngày13/7/2000 Chính phủ Việt
Nam và Chính phủ Hoa Kỳ đã ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa
Kỳ. Đặc biệt bằng việc ký kết Nghị định thư ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức
tham gia làm thành viên thứ 150 cuả Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Qua nghiên
cứu một số quy định cuả Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ
(HĐTMVM) và các quy định cuả WTO liên quan đến KKHC, chúng ta có thể thấy rõ
các đòi hỏi về một cơ chế pháp lý cho việc KKHC khi thực hiện HĐTMVM và tham
gia WTO:
- Hầu hết các yêu cầu cuả HĐTMVM liên quan đến đến việc khiếu kiện, xét xử và
điều chỉnh các quyết định hành chính đều phải thực hiện ngay từ khi hiệp định có hiệu
lực (10/12/2001). Đối với WTO, tất cả các cam kết trên đều phải thực hiện ngay khi gia
nhập[1,Tr4].
- Yêu cầu của Hoa Kỳ với Việt Nam là phải duy trì các cơ quan tài phán, thủ tục
hành chính, tư pháp và các cơ chế khác, để xem xét lại và sưả đổi nhanh chóng theo
yêu cầu cuả người bị ảnh hưởng bởi các quyết định hành chính liên quan đến các vấn
đề theo HĐTMVM[13,Tr44]. Các thủ tục này bao gồm cơ hội khiếu kiện mà không bị

phải được giải quyết một cách minh bạch, công bằng, công khai, nhanh chóng trên cơ
sở tôn trọng các điều ước quốc tế đã được công nhận hoặc thoả thuận.
1.5. Thực trạng khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay

Như đã trình bày ở trên, KKHC bao gồm hai loại: khiếu nại đến các cơ quan hành
chính nhà nước (khiếu nại hành chính) và khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có
thẩm quyền, vì vậy, vấn đề được xem xét theo hai loại này.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
21
1.5.1. Thực trạng khiếu nại hành chính
Trong thời gian qua tình hình khiếu nại trong lĩnh vực hành chính ở nước ta diễn
biến phức tạp, số lượng vụ việc khiếu nại gia tăng, năm sau cao hơn năm trước, tính
chất gay gắt, đặc biệt là tình trạng khiếu kiện đông người diễn ra trên diện rộng ở nhiều
tỉnh, thành phố trên cả nước. Theo thống kê từ năm 1999 đến năm 2005, cả nước có
2.161 đoàn khiếu kiện đông người, vượt cấp lên trung ương. Các cơ quan hành chính
các cấp đã tiếp 1.867.864 lượt công dân đến trình bày KNTC, kiến nghị, phản ánh.
Riêng tại trụ sở tiếp công dân cuả trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh đã tiếp 113.101 lượt người và 2.902 đoàn đông người khiếu kiện lên
trung ương. Số lượng người đến KNTC tại Trụ sở tiếp dân cuả Trung ương Đảng và
Nhà nước từ năm 1999 đến năm 2002 liên tục tăng, đặc biệt là hai năm 2001- 2002,
mỗi năm người khiếu kiện vượt cấp lên trung ương tăng hơn 20% (năm 2001 tiếp
20.525 lượt người, tăng 27,6% so vơí năm trước; năm 2002 tiếp 25.734 lượt người,
tăng 21,7%). Ở nhiều điạ phương đã phát sinh khiếu kiện đông người gay gắt, phức
tạp, trở thành “điểm nóng” như:
Việc khiếu tố ở 20/22 xã thuộc huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định; khiếu kiện tranh
chấp đất cuả hơn 2000 hộ dân ở huyện Ba Trái, Giồng Trơm, Thạnh Phú tỉnh Bến Tre;
Khiếu kiện về đai cuả hơn 300 hộ nông dân với nông trường 30/4, tỉnh Sóc Trăng;
Khiếu kiện về đất đai cuả nhiều hộ nông dân người Khơme ở An Giang…Các đoàn
khiếu kiện đông người ở các điạ phương thườg lên trung ương trong thời gian diễn ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status