Đổi mới mô hình tổ chức giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay - Pdf 13

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................... 1
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH, LỊCH SỬ VÀ THỰC TRẠNG
KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA .................................................................. 6
1.1 Khái lược lịch sử khiếu kiện hành chính và tổ chức giải quyết khiếu kiện hành
chính ở nước ta ........................................................................................................... 6
1.1.1. Thời phong kiến ............................................................................................ 6
1.1.2. Thời Ngụy quyền Sài Gòn .............................................................................. 9
1.1.3 Ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975 ............................................... 9
1.2. Khái niệm và tính chất của khiếu kiện hành chính ............................................ 11
1.2.1. Khái niệm khiếu kiện hành chính ................................................................. 11
1.2.2. Tính chất của khiếu kiện hành chính ........................................................... 13
1.3. Phân loại khiếu kiện hành chính ...................................................................... 15
1.4. Ý nghĩa của khiếu kiện hành chính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền, nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam ................................... 17
1.5. Thực trạng khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay ......................................... 20
1.5.1. Thực trạng khiếu nại hành chính ................................................................... 20
1.5.2 Thực trạng khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án ......................................... 24
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH , THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA .................. 28
2.1. Cơ sở lý luận về tài phán hành chính ................................................................... 28
2.1.1. Khái niệm và tính chất cuả tài phán hành chính ............................................ 28
2.1.2. Vai trò của tài phán hành chính .................................................................... 32
2.1.3 Mô hình tổ chức giải quyết khiếu kiện hành chính ở một số quốc gia ............ 36
2.1.4. Các quan điểm và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động tài phán hành chính ở
nước ta ................................................................................................................... 46
2.2. Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tài phán hành chính ở Việt Nam . 51
2.2.1. Thực trạng pháp luật về tài phán hành chính ở Việt Nam ............................. 51
2.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về tài phán hành chính ở Việt Nam .............. 67

- Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 : Luật 1998
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ban hành ngày 15/6/2004
: Luật 2004
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ban hành ngày 29/11/2005
: Luật 2005
- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính : Pháp lệnh TTGQCVAHC
- Pháp lệnh quy định xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo cuả công dân ngày 27/11/1981
: Pháp lệnh 1981
- Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo ngày 02/5/1991 : Pháp lệnh 1991
- Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 21/5/1996 : Pháp lệnh 1996
- Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
28/12/1998 : Pháp lệnh 1998
- Quyết định hành chính : QĐHC
- Xử phạt vi phạm hành chính : XPVPHC
- Tài phán hành chính :TPHC
- Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh : TAND tp.HCM
- Tòa án nhân dân tối cao : TANDTC
- Tổ chức thương mại thế giới : WTO
- Uỷ ban nhân dân : UBND
- Xã hội chủ nghĩa : XHCN
1
MỞ ĐẦU

Nhà nước XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân, quyền làm chủ về
mọi mặt của nhân dân được Nhà nước bảo đảm. Công dân , tổ chức có quyền khiếu nại
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có căn cứ để cho rằng có QĐHC, HVHC của
cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Do vai trò , vị trí quan trọng của quyền khiếu nại trong đời sống chính trị, xã hội
ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã chú ý đặc biệt đến công tác giải quyết khiếu

- Việc duy trì hai hệ thống giải quyết các tranh chấp hành chính như hiện nay có còn
phù hợp hay không. Nếu còn phù hợp thì cần hoàn thiện như thế nào để các cơ quan này
hoạt động có hiệu quả hơn? Nếu việc tổ chức mô hình giải quyết như hiện nay không còn
phù hợp thì nên đổi mới như thế nào. Cơ sở lý luận và thực tiễn để đề ra mô hình mới?
Là người trực tiếp tham gia giải quyết các KKHC ngay từ khi Toà hành chính- Tòa
án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, trên cơ sở các kiến thức tiếp thu
được trong quá trình theo học khoá đào tạo cao học luật, tôi chọn đề tài “Đổi mới mô
hình tổ chức giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay.” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
KKHC là một thực tế khách quan phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước của
mọi quốc gia, không phân biệt đó là chính thể hoặc chế độ chính trị nào.
Ngay từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề
giải quyết KKHC [65, Tr 30]. Nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động giải
quyết KKHC (bao gồm giải quyết khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành chính)
3
đã được thực hiện như: Coâng trình “Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta” cuûa Học
viện Hành chính quốc gia do GS. TSKH Nguyễn Duy Gia chủ biên, Nhà xuất bản Giáo
dục Hà Nội-1995; “Tìm hiểu về tài phán hành chính ở Việt Nam” cuûa PTS Phạm Hòang
Thái và PTS Đinh Văn Mậu, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh -1996; “Thể chế tư
pháp trong nhà nước pháp quyền” cuûa PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nhà xuất bản Tư
pháp- 2004, trong đó có nghiên cứu về tổ chức Toà hành chính … Ngoài ra, một số cơ sở
đào tạo đại học luật, đại học hành chính như Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật Đại học
quốc gia Hà Nội, Học viện hành chính quốc gia, cũng đã nghiên cứu và đưa vào giáo
trình luật hành chính cuả mình những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giải quyết
KKHC. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nêu trên chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở
những vấn đề chung nhất về lý luận và thực tiễn. Về phía các cơ quan hành chính nhà
nước , ngày 19/11/2004 Thủ tướng Chính phủ có Văn bản số 6327/VPCP-CV giao
Thanh tra Chính phủ chủ trì, soạn thảo Đề án thành lập cơ quan TPHC ở Việt Nam.
Hiện nay công trình này đang trong giai đọan triển khai nên nhìn chung vấn đề tổ chức

Về mặt cơ sở lý luận, đề tài này sử dụng những thành tựu lý luận của khoa học
Luật hành chính thế giới, trước hết là của các nước XHCN. Hệ thống các khái niệm,
phạm trù, quan điểm được sử dụng trong đề tài cũng bắt nguồn từ những kết luận khoa
học của lý luận luật hành chính XHCN, ñồng thời còn tiếp thu những yếu tố khoa học,
hợp lý liên quan đến các lý luận về KKHC và các mô hình tổ chức giải quyết KKHC của
các nước có chế độ chính trị khác nhau.
Nguồn tư liệu quan trọng của đề tài này là các nghị quyết của Đảng CSVN, đặc biệt
là chủ trương đổi mới và tăng cường hiệu lực của bộ máy nhà nước, thực hiện cải cách
bộ máy hành chính nhà nước và tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật của Đảng
5
và Nhà Nước ta hiện nay. Ngoài ra, đề tài này còn tham khảo, sử dụng các giáo trình có
liên quan , các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước…
Cơ sở thực tiễn chủ yếu của luận văn là thực tiễn hoạt động giải quyết KKHC của
của Tòa án nhân dân; hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước.
Nguồn thông tin được sử dụng làm cơ sở nghiên cứu thực tiễn nêu trên là các văn
bản quy phạm pháp luật, các báo cáo tổng kết hoạt động, các tham luận… của các cơ
quan nhà nước, các nhà khoa học có liên quan và các hiểu biết của tác giả trong hơn 10
năm trực tiếp tham gia vào hoạt động giải quyết KKHC tại Tòa án nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hy vọng các giải pháp đổi mới mô hình tổ chức giải quyết KKHC ở nước ta do đề
tài này đề xuất sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống lý luận khoa học luật hành
chính và cung cấp được những thông tin có ý nghĩa cho các cơ quan chức năng trong
việc đổi mới và hoàn thiện mô hình tổ chức giải quyết KKHC ở nước ta.
7. Về kết cấu của đề tài
Nội dung đề tài được chia làm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về KKHC, lịch sử và thực trạng KKHC ở nước ta.
- Chương 2: Cơ sở lý luận về tài phán hành chính, thực trạng pháp luật và thực hiện
pháp luật về tài phán hành chính ở nước ta.


7
sai trái, phạm pháp của quan lại để vua xét xử. Trước điện triều có đặt sẵn một cái trống
hay cái chuông để có oan ức điều gì thì dân có thể đến đánh trống, đánh chuông kêu oan
lên Vua.
Vào thời Trần, ở trung ương, bên cạnh các cơ quan, chức quan đã có từ thời Lý, triều
đình còn đặt thêm nhiều cơ quan chuyên trách mới trong đó có Thẩm hình viện và Tam
ty viện. Thẩm hình viện là cơ quan xét xử cao nhất, Tam ty viện là cơ quan có chức năng
giám sát việc thi hành pháp luật cuả các quan lại và viên chức nhà nước, là cơ quan đề
nghị Nhà Vua sưả đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cuả Nhà nước. Ngoài các chức
quan như đã có dưới triều Lý, nhà Trần còn đặt thêm các chức quan như Tư đồ, Tư mã,
Tư không, gọi chung là Tam tư, trong đó Tư mã là quan phụ trách công việc chinh phạt
như quốc phòng, công an, tư pháp[26,Tr91]. Có chức quan là Ngự sử đài với nhiệm vụ là
chuyển những giấy tờ trình nhà vua, chuyển đơn khiếu tố cuả tất cả các nơi lên nhà vua,
kiểm tra, giám sát và phát hiện lầm lỡ cuả các quan lại, viên chức lên vua.
Ở điạ phương, mỗi lộ có 2 viên quan trông coi về hành chính và tư pháp là An phủ
chánh sứ và An phủ phó sứ. Quan lại hành chính ở điạ phương đồng thời phụ trách cả
việc xét xử tội phạm và các kiện tụng khác.
Đến thời nhà Lê, tổ chức cơ quan xét xử vẫn chưa có sự độc lập hẳn so với cơ quan
hành pháp nhưng đã có sự phát triển vượt bậc so với các triều đại trước. Hệ thống cơ
quan hành chính vẫn thực hiện chức năng tài phán, tuy nhiên đã xuất hiện một số cơ
quan được phân định chuyên trách quyền tài phán như: Thưà ty, Hiến ty, Ngự sử đài, Đại
lý tự… trong đó Thưà ty có thẩm quyền xét xử những vụ kiện đặc biệt (điền thổ, hộ hôn,
công nợ, thuế khoá, phân định điạ giới hành chính giữa các làng, khiếu kiện việc bầu cử
xã trưởng…), Hiến Ty có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ sang đoạt tài sản, ức hiếp do
các quan lại cầm quyền gây ra, các vụ sách nhiễu cuả viên chức thu thuế, việc mua bán
cuả các nhà chức trách, các vụ sách nhiễu trong thi hành các trát án, việc giả mạo dấu má
hay tư cách sai nha…[9,Tr 141-152].
8
Dưới triều Nguyễn, có cơ quan phụ trách giải oan cho dân là Tam pháp

Hiệp định Géneve đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc.
Tại miền Nam Việt Nam kế thừa Dụ số 2 ngày 05/01/1950 (được ban hành khi Việt
Nam còn là thành viên trong Khối liên hiệp Pháp), chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục
ban hành Dụ số 36 ngày 08/11/1954 tiếp tục duy trì tổ chức Tòa hành chính và Dụ số 38
ngày 09/11/1954 về việc thành lập Tham chính viện.
Theo các quy định có liên quan thì Tòa hành chính có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các
vụ án đòi bồi thường liên quan đến pháp nhân hành chính, các vụ kiện xin thủ tiêu các
QĐHC có tính cách cá nhân liên quan đến tình trạng hành chính của công chức cấp
trung, cấp thấp, các vụ tranh tụng liên quan đến tuyển cử hội đồng hàng tỉnh, hàng quận,
hàng xã; sơ và chung thẩm các vụ kiện liên quan đến thuế trực thu và các thuế đồng hoá
với thuế trực thu. Tham chính viện là cơ quan cấp trên của Toà hành chính, trong đó có
Ban tài phán có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án do Toà hành chính đã xử sơ
thẩm; xét xử sơ và chung thẩm những việc xin thủ tiêu các QĐHC cá biệt hay lập quy có
vi phạm, các vụ tranh tụng liên quan đến tình trạng hành chính của các công chức cao
cấp…
Ngoài ra, trong tổ chức Tối cao pháp viện còn có Ban bảo hiến có thẩm quyền giải
thích luật; xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, sắc lệnh, nghị định…và Ban phá án có
thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm các bản án đã có hiệu lực pháp luật [38,
Tr148].
1.1.3 Ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975
Tại miền Bắc Việt Nam, chính quyền thuộc về nhân dân. Đảng và Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa đã chủ trương xây dựng một nhà nước Việt Nam của dân, do dân
và vì dân: “Tất cả quyền binh trong nước là của tòan thể nhân dân”( Điều 1 Hiến pháp
10
1946) “Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước phải dưạ vào dân, lắng nghe ý kiến và
chiụ sự kiểm sóat cuả nhân dân. Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung
thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức
phục vụ nhân dân”( Điều 29 Hiến pháp 1959); “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi vi
phạm pháp luật cuả nhân viên cơ quan nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải

cho ta những nét khái quát về KKHC. Nhưng về mặt pháp lý, cho đến nay vẫn chưa có
một văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa khái niệm KKHC là gì. Tuy nhiên,
thông qua việc sử dụng thuật ngữ “khiếu kiện hành chính”, tại Pháp lệnh 1996 và việc sử
dụng của các luật gia, các nhà khoa học thì nó được hiểu theo hai cách:
Theo nghĩa hẹp, “khiếu kiện hành chính” được hiểu là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức
khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị QÑHC,
HVHC xâm phạm. Với ý nghĩa này thì khái niệm KKHC đồng nhất với khái niệm khởi
kiện hành chính [ 23, Tr 944 và 986].
Theo nghĩa rộng, “khiếu kiện hành chính” là việc cá nhân, cơ quan tổ chức khiếu nại
đến cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị QÑHC, HVHC xâm phạm[45,Tr2-3],
[40,Tr1]. Khái niệm KKHC maø đề tài này nghieân cöùu được hiểu theo nghĩa rộng.
KKHC là sự biểu hiện cuả tranh chấp hành chính phát sinh trong quá trình thực hiện
chức năng quản lý nhà nước giữa một bên là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
trong cơ quan nhà nước với một bên là các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi các chủ thể này
tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính.
12
Để hiểu rõ thêm về khái niệm KKHC ta cần tìm hiểu thêm về một số khái niện liên
quan như: Quyết định hành chính, hành vi hành chính, khiếu nại hành chính, khởi kiện
hành chính.
+ “Quyết định hành chính” hiểu theo nghĩa rộng là các quyết định do cơ quan nhà
nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành để thực hiện chức
năng quản lý nhà nước, bao gồm quyết định quy phạm pháp luật hành chính và QĐHC
cá biệt (ngoài hai loại quyết định trên, có quan điểm còn đưa thêm một số lọai QĐHC
khác như: Quyết định chung hay còn gọi là quyết định chính sách [24.Tr137], [34,Tr99],
quyết định chỉ đạo, hướng dẫn[28,tr67] nhưng theo quan điểm của chúng tôi thì các lọai
quyết định này cũng chỉ là các dạng cụ thể của quyết định quy phạm pháp luật hoặc
QĐHC cá biệt) . Hiện nay, pháp luật cuả chúng ta chưa có các quy định về khiếu kiện và
giải quyết khiếu kiện đối với các quyết định quy phạm pháp luật. Khái niệm QĐHC (đối
tượng KKHC) được hiểu là các quyết định cá biệt. Theo khoản 10 Điều 2 Luật 1998 và

khiếu nại, tố cáo).
+ “Khởi kiện hành chính” là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức làm đơn kiện yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị QÑHC,HVHC xâm phạm
( tham khảo khỏan 5 Điều 4 Pháp lệnh TTGQCVAHC).
1.2.2. Tính chất của khiếu kiện hành chính
Do tính đa dạng cuả khái niệm KKHC nên việc nghiên cứu những nét đặc trưng cuả
nó cũng chỉ mang tính tương đối. Đặt trong tổng thể hoạt động quản lý nhà nước và thể
chế chính trị cuả quốc gia, khái niệm KKHC có những tính chất như: Tính khách quan;
Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị; Tính hệ thống, thứ bậc; Tính bảo đảm
bằng pháp luật…
1.2.2.1. Tính khách quan
14
KKHC là sự việc mang tính khách quan phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước
cuả mỗi quốc gia, không phụ thuộc vào hình thức chính thể và chế độ chính trị cuả quốc
gia đó như thế nào. Bởi lẽ về mặt lý luận, theo quan điểm cuả chủ nghĩa Mác - LêNin thì
mâu thuẫn chính là động lực cuả sự phát triển, mà KKHC chính là một sự thể hiện cuả
các mâu thuẫn giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính. Về mặt thực
tiễn thì những sơ suất, sai sót cuả cơ quan nhà nước, những bất cập cuả bộ máy hành
chính là những vấn đề khó tránh khỏi khi tác nghiệp. Mặt khác, với sự phát triển không
ngừng cuả xã hội thì mỗi một thao tác hành chính trong thực tế cũng luôn chứa đựng các
yếu tố không phù hợp, dù rất nhỏ và ngay bản thân các chủ thể là đối tượng bị quản lý
khi tham gia vào quan hệ hành chính cũng luôn đòi hỏi nhận được một sự quản lý “hoàn
hảo”, mà sự hoàn hảo thì luôn mang tính tương đối.
Luôn tồn tại với tư cách là một thực tế khách quan, KKHC đòi hỏi các quốc gia
không được phủ nhận mà phải nhìn nhận và có các hình thức, biện pháp tổ chức giải
quyết các khiếu kiện này một cách hợp lý, hiệu quả nhằm làm lành mạnh hoá các quan
hệ pháp luật hành chính, thúc đẩy xã hội phát triển triển theo đúng định hướng cuả nhà
cầm quyền.
1.2.2.2. Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị
Nhà nước nói chung, hệ thống hành chính nhà nước nói riêng có hai chức năng: duy

bỏ trống, giành giật, đổ lỗi cho nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết
khiếu kiện.
Việc phân loại KKHC có thể dưạ vào nhiều tiêu chí khác nhau. Cũng giống như caùc
phân loại khác, phân loại khiếu kiện hành chính cuõng chỉ mang tính chất tương đối.
+ Theo chủ thể giải quyết khiếu kiện, KKHC bao gồm hai loại: khiếu nại đến các cơ
quan hành chính nhà nước (khiếu nại hành chính) và khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa
16
án có thẩm quyền. Đây là cách phân loại chung nhất và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
quan trọng nhất.
+ Dưạ vào các lĩnh vực quản lý nhà nước, KKHC có thể phân thành:
- KKHC trong lĩnh vực quản lý kinh tế;
- KKHC trong lĩnh vực quản lý văn hoá - xã hội;
- KKHC trong lĩnh vực quản lý về hành chính, chính trị.
+ Dưạ vào đặc trưng cuả đối tượng bị quản lý, KKHC được chia thành:
- KKHC trong quản lý đô thị;
- KKHC trong quản lý nông thôn.
+ Dưạ vào đối tượng khiếu kiện, KKHC được chia thành:
- Khiếu kiện QĐHC;
- Khiếu kiện HVHC.
+ Dưạ vào chủ thể bị khiếu kiện, KKHC được chia thành:
- Khiếu kiện QÑHC, HVHC cuả cơ quan nhà nước;
- Khiếu kiện QÑHC, HVHC cuả cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong cơ
quan nhà nước;
Hoặc:
- Khiếu kiện QÑHC, HVHC cuả cơ quan nhà nước, cuả cán bộ, công chức, người có
thẩm quyền trong cơ quan nhà nước cấp trung ương.
- Khiếu kiện QÑHC, HVHC cuả cơ quan nhà nước, cuả cán bộ, công chức, người có
thẩm quyền trong cơ quan nhà nước các cấp điạ phương.
+ Dưạ vào tính bảo mật cuả các thông tin liên quan, khiếu kiện hành chính được chia
thành:

có những chấn chỉnh, xử lý kịp thời nhằm bảo đảm cho pháp luật cuả Nhà nước ta được
chấp hành nghiêm chỉnh, tất cả các cơ quan nhà nước, các nhân viên nhà nước đều phải
tôn trọng pháp luật, đặt mình dưới pháp luật.
18
Thông qua KKHC cuả các cá nhân, cơ quan, tổ chức, chúng ta cũng phát hiện các
quyền lợi hợp pháp cuả các chủ thể bị QÑHC, HVHC xâm phạm, để từ đó có các biện
pháp, hình thức khắc phục nhằm khôi phục các quyền lợi hợp pháp cuả các chủ thể, bảo
đảm các quyền tự do, lợi ích cuả công dân phải được không ngừng mở rộng và được
pháp luật bảo hộ.
Thay vì lưạ chọn các hình thức phản ứng tiêu cực trước sự xâm hại cuả các QÑHC,
HVHC như la hét, chống đối…, việc khiếu kiện đến các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong khuôn khổ pháp luật cuả các cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng thể hiện sự tôn
trọng pháp luật, sự tin tưởng vào việc giải quyết đúng đắn các khiếu kiện cuả cơ quan
nhà nước.
Với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã,
từ năm 1986 đến nay Nhà nước ta đã không ngừng có các chính sách khuyến khích, tạo
điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. Tuy nhiên, do cơ chế quản lý
kinh tế cũ đã tồn tại suốt một thời gian dài nên cho dù chúng ta có chuyển đổi sang cơ
chế quản lý mới thì các thói quen, sự ảnh hưởng cuả cơ chế cũ cũng vẫn còn và tác động
không nhỏ đến hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp. KKHC chính là một kênh thông
tin giúp chúng ta phát hiện và có các chấn chỉnh kịp thời.
Thực tế đã chứng minh, qua việc giải quyết một số khiếu kiện cụ thể cuả các doanh
nghiệp, chúng ta đã phát hiện được sự không phù hợp trong các quy định cuả pháp luật
về xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục hải quan, áp thuế suất hàng nhập khẩu, thuế giá
trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân…, từ đó có những hướng
dẫn, giải thích hoặc quy định điều chỉnh lại cho phù hợp.
Với chính sách mở cưả và hội nhập quốc tế, từ năm 1977 chúng ta đã trở thành
thành viên cuả Liên hiệp quốc, những năm 1980 chúng ta đã hội nhập kinh tế đa phương
thông qua Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV). Ngày13/7/2000 Chính phủ Việt Nam và
Chính phủ Hoa Kỳ đã ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ. Đặc

VI.7 HĐTMVM, Điều 11 Hiệp định định giá hải quan cuả WTO- CVA)[2,Tr13].
- Yêu cầu khi có một QĐHC dẫn đến tranh chấp giữa nhà đầu tư Hoa Kỳ và Chính
phủ Việt Nam, nhà đầu tư có quyền chọn kiện quyết định đó ra Tòa án Việt Nam hoặc cơ
quan hành chính Việt Nam hoặc ra trọng tài quốc tế theo quy định cuả ICSID (Trung tâm
quốc tế giải quyết các tranh chấp đầu tư tại Washington D.C), UNCITRAL (Quy tắc
trọng tài UNCITRAL) hoặc bất kỳ quy định nào khác do các bên thống nhất (Điều 4
chương IV HĐTMVM)[2,Tr14]
Qua các yêu cầu như trên cuả HĐTMVM và WTO chúng ta có thể nhận thấy rằng,
Chính phủ Hoa Kỳ cũng như WTO hiểu rất rõ ý nghĩa cuả KKHC trong mối quan hệ hợp
tác với Việt Nam nên đã có các thoả thuận nhằm bảo đảm cho các khiếu kiện ấy phải
được giải quyết một cách minh bạch, công bằng, công khai, nhanh chóng trên cơ sở tôn
trọng các điều ước quốc tế đã được công nhận hoặc thoả thuận.
1.5. Thực trạng khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay

Như đã trình bày ở trên, KKHC bao gồm hai loại: khiếu nại đến các cơ quan hành
chính nhà nước (khiếu nại hành chính) và khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm
quyền, vì vậy, vấn đề được xem xét theo hai loại này.
1.5.1. Thực trạng khiếu nại hành chính
Trong thời gian qua tình hình khiếu nại trong lĩnh vực hành chính ở nước ta diễn biến
phức tạp, số lượng vụ việc khiếu nại gia tăng, năm sau cao hơn năm trước, tính chất gay
gắt, đặc biệt là tình trạng khiếu kiện đông người diễn ra trên diện rộng ở nhiều tỉnh,
thành phố trên cả nước. Theo thống kê từ năm 1999 đến năm 2005, cả nước có 2.161
đoàn khiếu kiện đông người, vượt cấp lên trung ương. Các cơ quan hành chính các cấp
đã tiếp 1.867.864 lượt công dân đến trình bày KNTC, kiến nghị, phản ánh. Riêng tại trụ
sở tiếp công dân cuả trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí
21
Minh đã tiếp 113.101 lượt người và 2.902 đoàn đông người khiếu kiện lên trung ương.
Số lượng người đến KNTC tại Trụ sở tiếp dân cuả Trung ương Đảng và Nhà nước từ
năm 1999 đến năm 2002 liên tục tăng, đặc biệt là hai năm 2001- 2002, mỗi năm người
khiếu kiện vượt cấp lên trung ương tăng hơn 20% (năm 2001 tiếp 20.525 lượt người,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status