Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay thực trạng và giải pháp - Pdf 13

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
ù1ẳ0Chơng I
Tổng quan về pháp luật giải quyết
tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay
I. Khái niệm tranh chấp kinh tế và tố tụng kinh tế
1. Khái niệm tranh chấp kinh tế:
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trờng với sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, các quan hệ kinh
tế ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Mục đích tìm kiếm lợi nhuận chẳng những
là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lu kinh tế, mà còn là lý do
tồn tại của các chủ thể kinh tế.
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dới sự tác động trực tiếp của
quy luật cạnh tranh, tranh chấp kinh tế cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại,
gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Chính vì vậy, việc áp dụng hình thức
và phơng thức giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi
khách quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo
đảm nguyên tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, thông qua đó góp phần tạo môi trờng
pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế.
Tranh chấp kinh tế là tranh chấp biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về
quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu t, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện
dịch vụ trên thị trờng nhằm mục đích sinh lời. Nh vậy tranh chấp kinh tế có thể phát
sinh trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, dù tồn tại dới hình
thức nào và có thể bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau,
nhng đặc trng chung của tranh chấp kinh tế là luôn gắn liền với hoạt động kinh tế và
chủ thể tham gia chủ yếu là các nhà doanh nghiệp. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét
cho cùng đều phản ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên
Tranh chấp kinh tế khác với tranh chấp dân sự ở một số điểm sau:
Tranh chấp kinh tế thờng chỉ gắn liền với những yếu tố tài sản, những lợi
ích của các bên có tranh chấp và chỉ phát sinh từ các quan hệ vì mục đích kinh
doanh, các tranh chấp dân sự vừa mang tính chất tài sản, tính chất nhân thân phi tài
sản.

tố tụng kinh tế là quá trình cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh
tế theo một trình tự nhất định.
Với nội dung khái niệm tranh chấp kinh tế nh trên có thể thấy các tranh chấp
kinh tế hiện nay là rất đa dạng và phức tạp, các chủ thể của nền kinh tế đợc mở rộng
hơn trớc và phạm vi hoạt động cũng đa dạng hơn trớc. Vì vậy, pháp luật áp dụng cho
việc giải quyết các tranh chấp kinh tế phải linh hoạt và mềm dẻo hơn, các cơ quan
tài phán vừa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình, vừa phải thay đổi phơng
pháp giải quyết tranh chấp kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế mở nh hiện nay của
nớc ta.
II. Sự cần thiết khách quan của việc ban hành pháp luật về
giải quyết tranh chấp kinh tế
- 2 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
1. Sau chiến thắng mùa xuân 1975, cả nớc ta bớc vào giai đoạn lịch sử mới xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế quản lý cũ tập trung, quan liêu bao cấp trong thời kỳ
chiến tranh đã không phát huy tác dụng tích cực mà còn làm trì trệ sự phát triển kinh
tế, gây nhiều hiện tợng tiêu cực trong xã hội, trớc tình hình trên Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI (1986) đã kịp thời chỉ ra mặt yếu kém, sai lầm chủ quan duy ý chí
trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp, đề ra đờng lối đổi mới toàn diện đặc biệt đ-
ờng lối phát triển kinh tế. Đờng lối đổi mới đó đợc hoàn thiện và chính thức đa vào
đời sống xã hội bằng pháp luật đó là Hiến pháp 1992, đã thừa nhận nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng ở nớc ta.
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống T pháp và các Cơ quan tài
phán nói chung và các cơ quan tài phán kinh tế nói riêng cũng nằm trong khuôn khổ
của công cuộc đổi mới này. Đáp ứng các đòi hỏi tất yếu khách quan đó Quốc hội nớc
Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt nam khoá IX kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật sửa đổi
bổ xung Luật tổ chức Toà án nhân dân với những qui định và chức năng mới của toà
án là giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp, Luật phá sản doanh nghiệp và pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
cũng đợc ban hành với t cách là luật nội dung để giải quyết các tranh chấp kinh tế

sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc đã làm thay đổi quan niệm về một
loạt vấn đề xung quanh các chế định hợp đồng kinh tế (HĐKT), tranh chấp kinh tế,
tài phán kinh tế, quyền tự do của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn cơ quan, tổ
chức giải quyết tranh chấp kinh tế, vị trí của cơ quan tài phán kinh tế trong bộ máy
Nhà nớc v.v.
Từ năm 1987 - 1990, nớc ta đã có nhiều cố gắng để tiếp tục phát huy vai trò
của trọng tài kinh tế. Do đó năm 1989 Nhà nớc đã ban hành Pháp lệnh Hợp đồng
kinh tế và năm 1990 ban hành Pháp lệnh Trọng tài kinh tế với mục đích làm cho hai
chế định này thích nghi với cơ chế quản lý kinh tế mới và mới đây Uỷ ban thờng vụ
Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trọng tài thơng mại số 08/PL UBTVQH 11 ban
hành ngày 25/2/2003 nhằm từng bớc hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tính tơng
thích với các quy định của luật pháp quốc tế.
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã đánh dấu những thay đổi quan trọng trong chế
độ kinh tế của Nhà nớc CHXHCN Việt nam và phần nào đã làm cho sự tồn tại của
hệ thống trọng tài kinh tế trở nên không còn phù hợp. Đó là những nguyên tắc nh đa
dạng hóa các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế đều bình đẳng trớc pháp luật, cá nhân đợc tự do kinh doanh, tự
do thành lập doanh nghiệp, Nhà nớc không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản
xuất kinh doanh đúng pháp luật của các doanh nghiệp
Tranh chấp kinh tế tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh vì vậy, giải
quyết tranh chấp phát sinh đợc coi nh là đòi hỏi tự thân của quá trình kinh tế. Theo
cách hiểu thông thờng giải quyết tranh chấp kinh tế là cách thức, phơng pháp cũng
nh các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự, kỷ cơng xã hội.
Khi xảy ra tranh chấp các chủ thể kinh doanh đều muốn giải quyết tranh chấp
kinh tế đợc nhanh chóng và thuận lợi, từ đó các chủ thể kinh doanh có nhu cầu lựa
chọn một hình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế phù hợp với mình.
1.Giải quyết tranh chấp bằng th ơng l ợng:
1.1 Khái niệm, đặc điểm:
- 4 -

là việc các bên cử đại diện của mình gặp mặt nhau tại một địa điểm nhất định trong
một thời gian xác định để bàn bạc vấn đề tranh chấp nhằm đa ra các giải pháp giải
quyết tranh chấp.
b. Thơng lợng thông qua th từ, điện tín, telex
Với sự phát triển vợt bậc của công nghệ điện tử Internet, email thì việc thơng lợng
giữa các bên đơng sự đợc thực hiện hết sức thuận lợi. Tuy vậy tất cả các th từ điện
tín email đều phải đợc trả lời một cách nhanh chóng cho dù nguyên nhân tranh chấp
là do phía mình gây ra cũng cần phải đợc trả lời sớm, để giải quyết thoả đáng nếu trì
hoãn hoặc cố tình quên không trả lời sẽ gây ấn tợng xấu.
- 5 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
Khi xem xét những điểm cơ bản về phơng pháp giải quyết tranh chấp kinh tế
thông qua thơng lợng cho thấy rằng phơng pháp này cũng có một số điểm hạn chế
nhất định, cụ thể do sự thành công hay thất bại của việc thơng lợng chủ yếu phụ
thuộc vào thái độ thiện chí của các bên tranh chấp nên chỉ cần một trong các bên đ-
ơng sự thiếu thiện chí thì quá trình thơng lợng có thể đi đến chỗ bế tắc buộc các bên
phải tìm kiếm hình thức giải quyết tranh chấp khác.
Một số bớc thơng lợng, đàm phán lại để gỡ rối khi các bên tranh chấp bế tắc:
Bớc 1: Trong một số trờng hợp, cuộc thơng lợng giải quyết tranh chấp gặp bế tắc,
điều quan trọng nhất là các bên tìm đợc giải pháp thích hợp, vấn đề sẽ đơn giản hơn
nhiều nếu hai bên có thiện chí và tìm cách xử lý hợp lý.
Khi đối mặt với những tình huống gay cấn, trớc hết các bên phải thật bình
tĩnh, tập trung tìm các phơng pháp khắc phục những vớng mắc để đi tới thống nhất,
sự bình tĩnh sẽ mang lại cho cả hai bên một thái độ tích cực làm cho việc giải quyết
tranh chấp đi theo hớng thuận lợi.
Hai bên lần lợt đa ra các giải pháp của mình, tránh tranh luận cái nào tốt và
hợp lý hơn cái nào. Sau đó, tất cả các giải pháp đợc gộp thành một bản danh sách lần
lợt sắp xếp chúng theo thứ tự cho là thích hợp nhất. Sau khi phân loại các phơng án
đã hoàn thành, đôi bên mới bắt đầu trình bày lý do việc lựa chọn của mình, bằng
cách trên mới vợt qua đợc một số điểm chết trong quá trình thảo luận, đây là tiền

Khi các bên đạt đợc sự nhất trí trong việc giải quyết tranh chấp, thì sự nhất trí
phải đợc thể hiện bằng văn bản và văn bản này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên.
Việc hoà giải thành công hay không là do sự kết hợp hai yếu tố chủ chốt trong
bất kỳ cuộc thơng lợng nào, sự trao đổi thông tin và sự tin cậy lẫn nhau, Vì vậy, bên
thứ 3 phải là ngời mà các bên tranh chấp đủ tin cậy để có thể trao đổi những lập tr-
ờng riêng đích thực của họ trong vụ tranh chấp. Quá trình hoà giải mang tính chất tự
nguyện, mềm dẻo và không bắt buộc, thông thờng việc hoà giải diễn ra nhanh chóng
với chi phí vừa phải. Các vụ giải quyết tranh chấp bằng hoà giải có thể rất đơn giản
hoặc có thể lớn và phức tạp, có thể chỉ có hai bên hay nhiều bên tham gia tranh
chấp.
Trong quá trình hoà giải tính đối kháng của các bên ít quyết liệt hơn so với
các hình thức giải quyết tranh chấp bằng toà án hoặc trọng tài do vậy đặc trng của
việc hoà giải là cho phép duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài và đa ra những giải
pháp hữu hiệu. Các bên có thể xoá bỏ vai trò của ngời hoà giải vào bất cứ thời điểm
nào mà họ muốn, ngời hoà giải không áp đặt quan điểm riêng của mình cho các bên
mà để các bên thoả thuận và thể hiện bằng văn bản có giá trị bắt buộc cho cả hai
bên. Khi ngời hoà giải nắm đợc các sự kiện, nguyên nhân các tình tiết của vụ tranh
chấp đồng thời lại biết đợc những chi tiết riêng t trong lập trờng của từng bên thì họ
có thể tháo gỡ hoặc góp phần làm giảm đi những bất đồng, những rào cản và khác
biệt trong quan điểm của các bên theo những cách thức, lập luận, dẫn dắt của mình
nếu chỉ có các bên tranh chấp với nhau cùng với những lập trờng riêng của họ thì
không thể giải quyết nổi.
Nhìn chung hoà giải là phơng pháp giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chi
phí, nỗ lực giải quyết tranh chấp của các bên cùng với sự đóng góp của hoà giải viên
sẽ làm cho tiến trình hoà giải diễn ra nhanh chóng và mang lại kết quả theo mong
muốn của các bên.
3. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án.
3.1 Cơ cấu tổ chức của toà án kinh tế.
- 7 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp

quyết tranh chấp kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trờng, cần giải quyết tranh chấp
kinh tế kịp thời đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao, không chỉ giảm bớt những tổn
thất về kinh tế, mà còn có tác dụng bảo vệ và khôi phục quyền lợi của các doanh
nghiệp, các nhà kinh doanh, tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
- 8 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
Mặt khác khuyến khích các cá nhân và tổ chức trong nớc cũng nh ở nớc ngoài yên
tâm bỏ vốn để đầu t phát triển đất nớc.
Ngày 16/3/1994 Uỷ ban thờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ
chức tòa án nhân dân, từ ngày 1/7/1994 giải quyết tranh chấp kinh tế đợc chuyển
sang tòa kinh tế - Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân. Ngày
28/6/1996 Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao đã ban hành
Thông t liên nghành số 04 TTLT hớng dẫn áp dụng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế. Trong đó quy định tổ chức toà kinh tế nằm trong hệ thống tòa án nhân
dân với vai trò nh những tòa chuyên trách khác, có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp kinh tế phát sinh trong nền kinh tế thị trờng.
3.2 Nguyên tắc tố tụng vụ án kinh tế:
Nguyên tắc giải quyết các vụ án kinh tế là những t tởng chỉ đạo đối với việc
giải quyết các vụ án kinh tế đợc các quy phạm pháp luật về tố tụng kinh tế ghi nhận
qua những nội dung và đặc trng cơ bản của tố tụng kinh tế. Việc tuân thủ các
nguyên tắc của tố tụng kinh tế là cơ sở cho việc đảm bảo giải quyết vụ án kinh tế
khách quan, đúng luật, đặc biệt cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
3.2.1 Nguyên tắc tự định đoạt
Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng kinh tế, nó xuất phát từ quyền tự do
kinh doanh, tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể kinh doanh. Theo nguyên tắc
này, thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã quy định cho đơng sự đợc quyền khởi
kiện, quyền yêu cầu toà án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, có quyền lựa chọn
Toà án giải quyết tranh chấp trong những trờng hợp nhất định. Nguyên đơn đợc
quyền thay đổi nội dung đơn kiện, quyền rút đơn kiện, cũng nh đơng sự có quyền

cầu chính đáng của họ. Bí mật của đơng sự trong tranh chấp kinh tế thờng là bí
quyết về kinh doanh nh phát minh sáng chế có liên quan trực tiếp đến hiệu quả
hoạt động của ngời kinh doanh, nếu bí quyết đó bị tiết lộ thì sẽ đem lại hiệu quả xấu
cho doanh nghiệp đó vì vậy họ có quyền đề nghị toà xét xử kín.
3.3 Thẩm quyền giải quyết vụ án kinh tế của toà án.
3.3.1 Thẩm quyền của Toà án:
Khi có vụ tranh chấp kinh tế xảy ra, đơng sự phải khởi kiện tại toà án có thẩm
quyền hoặc các toà án phải xem xét và xử lý vụ án đúng thẩm quyền theo qui định
của pháp luật tố tụng.
Chúng ta hiểu thẩm quyền của toà án ở các mặt sau đây:
- Thẩm quyền chung;
- Thẩm quyền của toà án các cấp;
- Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ;
- Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn;
a. Thẩm quyền chung của toà án:
Theo qui định của pháp luật tố tụng thì toà án có thẩm quyền giải quyết các
vụ án kinh tế sau:
Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân
với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
Các tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, các thành viên của công
ty với nhau có liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty.
Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
- 10 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật.
Do đó khi xảy ra tranh chấp và đa đến toà án thì cần phải xác định đợc rằng:
vụ tranh chấp đó thuộc về một trong số các loại vụ việc kể trên không?. Cũng cần
phải lu ý rằng đối với những tranh chấp kinh tế thuộc các loại kể trên nhng lại có
nhân tố nớc ngoài thì chỉ áp dụng luật tố tụng của Việt nam để giải quyết theo thủ
tục tố tụng kinh tế khi không có điều ớc quốc tế mà Việt nam tham gia, hoặc ký kết

- 11 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
tối cao không có quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ án kinh tế nh
toà hình sự toà án nhân dân tối cao.
Về phúc thẩm: Toà án Nhân dân tối cao có các Thẩm phán kinh tế đợc phân công
giải quyết và có thẩm quyền:
Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm cha có hiệu lực pháp
luật của toà án cấp dới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp
luật tố tụng.
Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của TAND Tỉnh, Thành phố trực
thuộc TW về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật.
c. Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ:
Theo qui định của pháp luật thì toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ
án kinh tế là toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc c trú; trong trờng hợp vụ án chỉ liên
quan đến bất động sản, thì toà án nơi có bất động sản giải quyết.
d. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn:
Theo qui định của pháp luật thì nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong số
toà án có thẩm quyền theo những trờng hợp dới đây để khởi kiện vụ án kinh tế:
- Nếu không biết rõ trụ sở, hoặc nơi c trú của bị đơn thì có quyền yêu cầu toà án nơi
có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi c trú cuối cùng của bị đơn để giải quyết vụ án.
- Nếu vụ án phát sinh là hoạt động của Chi nhánh, thì có thể yêu cầu toà án nơi
doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi Chi nhánh đó để giải quyết.
- Nếu vụ án phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế, thì có quyền yêu cầu: Toà án nơi
thực hiện hợp đồng giải quyết.
- Nếu bị đơn có trụ sở hoặc nơi c trú khác thì có quyền yêu cầu toà án nơi có trụ sở
hoặc nơi c trú của một trong số các bị đơn giải quyết vụ án.
- Nếu vụ án không chỉ liên quan đến bất động sản thì có quyền yêu cầu toà án nơi có
bất động sản hoặc nơi c trú của bị đơn giải quyết.
- Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau thì có quyền yêu cầu
toà án của một trong số các nơi đó giải quyết.

điểm để giải quyết vụ tranh chấp Về vấn đề này tố tụng của toà án không thể đáp
ứng đầy đủ đợc.
Ba là: Các nhà kinh doanh muốn gữi bí mật, đảm bảo uy tín trong hợp đồng kinh
doanh họ thờng không muốn doanh nghiệp mình phải ra "hầu toà" bị đa tin trên các
phơng tiện thông tin đại chúng, nhng về nguyên tắc tố tụng của toà án đòi hỏi xét xử
công khai trừ trờng hợp đặc biệt có lý do chính đáng;
Bốn là: Các quan hệ kinh tế đối ngoại của nớc ta ngày càng phát triển với những
hình thức đa dạng, phong phú nh hợp đồng mua bán ngoại thơng, hợp đồng đầu t.
có những tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế Quốc tế nh: tranh chấp về tài
chính, tín dụng, bảo hiểm, vận tải, du lịch quốc tế trong khi các đơng sự không
muốn giải quyết bằng toà án và theo thông lệ chung các nớc có nền kinh tế thị trờng
thì những tranh chấp đó thờng do Trọng tài thơng mại giải quyết.
Năm là: Mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế trong kinh doanh bằng con đờng
trọng tài thơng mại phi Chính phủ ở các nớc có nền kinh tế thị trờng rất đợc a
chuộng điều này chứng tỏ một số u điểm độc đáo phù hợp với các nhà kinh doanh.
4.2 Trung tâm Trọng tài:
Trớc đây văn bản Pháp luật quan trọng điều chỉnh tổ chức và hoạt động của
trọng tài kinh tế là Nghị định 116 ngày 5/9/1994 nhng đã đợc thay thế bằng Pháp
- 13 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
lệnh trọng tài thơng mại số 08/2003 PL - UBTVQH 11 ban hành ngày 25/2/2003 có
hiệu lực ngày 01/07/2003.
4.2.1 Khái niệm, đặc điểm:
a. Khái niệm: Trung tâm trọng tài là tổ chức phi Chính phủ có t cách pháp nhân, có
con dấu, tài khoản riêng, Trung tâm trọng tài đợc lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện
cho Trung tâm, có Ban điều hành và các trọng tài viên có Chủ tịch, Phó chủ tịch,
Tổng th ký.
b. Đặc điểm: Trọng tài là phơng thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thơng mại đợc các bên thoả thuận và đợc tiến hành theo trình tự, thủ tục tố
tụng do Pháp lệnh trọng tài thơng mại ban hành ngày 25/2/2003.

thực, vô t, khách quan, có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học
từ 05 năm trở lên.
Pháp luật cũng đa ra điều kiện cấm chỉ: ngời đang bị quản chế hành chính,
đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án mà cha đợc xoá án tích không
đợc làm Trọng tài, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, Công
chức đang công tác tại Toà án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, Cơ quan thi
hành án không đợc đồng thời làm trọng tài viên (Điều 12 Pháp lệnh 08/2003
UBTVQH 11).
b. Thủ tục:
- Các sáng lập viên phải gửi hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài đến Bộ T
pháp, trong thời hạn 40 ngày, kể từ ngày nhận đợc hồ sơ hợp lệ, Bộ trởng Bộ T pháp
cấp giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài và phê chuẩn Điều lệ của Trung tâm
trọng tài, trong trờng hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do;
- Hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau:
+ Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài;
+ Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên;
+ Điều lệ của Trung tâm trọng tài;
+ Văn bản giới thiệu của Hội luật gia Việt nam;
- Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;
+ Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên;
+ Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm trọng tài:
+ Địa điểm dự định đặt trụ sở của Trung tâm trọng tài;
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đợc Giấy phép thành lập, Trung tâm trọng
tài phải đăng ký hoạt động tại Sở T pháp Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW nơi Trung
tâm trọng tài đặt trụ sở, hết thời hạn này mà Trung tâm trọng tài không đăng ký thì
giấy phép bị thu hồi.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày đợc cấp giấy đăng ký hoạt động Trung tâm
trọng tài phải đăng báo hàng ngày của TW hoặc báo Địa phơng nơi đăng ký hoạt
động trong 3 số liên tiếp về những nội dung chủ yếu sau:

tài, bản chính , bản sao các tài liệu, chứng cứ, bản sao phải có chứng thực hợp lệ.
- Tố tụng trọng tài bắt đầu khi Trung tâm trọng tài nhận đợc đơn kiện của nguyên
đơn hoặc từ khi bị đơn nhận đợc đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụ tranh chấp đợc
giải quyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập;
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi nhận đợc đơn kiện, Trung tâm trọng tài
phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu, chứng cứ;
b. Bản tự bảo vệ:
- Đối với vụ tranh chấp mà các bên đã chọn Trung tâm trọng tài để giải quyết nếu
các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đợc
đơn kiện và các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị
đơn phải gửi cho Trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ;
- Đối với vụ tranh chấp đợc giải quyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập,
nếu không có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đợc đơn
- 16 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo bị đơn phải gửi cho nguyên đơn bản tự
bảo vệ và tên Trọng tài mà mình lựa chọn.
Bản tự bảo vệ phải gồm có các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ;
+ Tên và địa chỉ của bị đơn;
- Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đơn bao gồm việc phản bác một phần hoặc
toàn bộ nội dung đơn kiện của nguyên đơn. Ngoài những nội dung qui định tại điểm
này, nếu bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của
trọng tài không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì có
quyền nêu ra trong bản tự bảo vệ.
- Thời hạn bị đơn gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ có thể dài hơn 30 ngày nhng
phải trớc ngày Hội đồng trọng tài mở phiên họp.
c. Thành lập Hội đồng trọng tài:
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đợc đơn kiện Trung tâm
trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, tên Trọng tài viên mà nguyên đơn

quyết tranh chấp kinh tế có thể đợc giải quyết bởi một Hội đồng trọng tài gồm 3
trọng tài viên hoặc do một trọng tài viên duy nhất thực hiện. Tuy nhiên trong trờng
hợp này Chánh án Toà án Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ơng giao cho một Thẩm
phán chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn nếu bị đơn không chọn đợc Trọng tài viên
theo yêu cầu của nguyên đơn trong thời hạn 7 ngày làm việc.
- Chánh án Toà án cấp Tỉnh cũng thực hiện việc giao cho một Thẩm phán chỉ định
trọng tài viên thứ 3 làm Chủ tịch Hội đồng, trong thời hạn 15 ngày nếu hai Trọng tài
viên đợc chọn hoặc ngời đợc chỉ định không chọn đợc trọng tài viên thứ 3 làm Chủ
tịch Hội đồng trọng tài;
- Trọng tài viên do các bên chọn hoặc toà án chỉ định có thể là trọng tài viên trong
danh sách hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của các trung tâm trọng tài của Việt
Nam. Trong trờng hợp các bên có thoả thuận giao vụ tranh chấp do một trọng tài
viên giải quyết nhng không thoả thuận đợc việc chọn Trọng tài viên duy nhất thì
theo yêu cầu của một bên Chánh án Toà án nhân dân cấp Tỉnh nơi bị đơn có trụ sở
hoặc c trú giao cho một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đợc yêu cầu và thông báo cho các bên.
- Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ nh một Hội đồng trọng tài, Quyết định của
trọng tài viên này có hiệu lực thi hành nh quyết định của Hội đồng trọng tài.
4.3 Giải quyết tranh chấp:
Trọng tài viên nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết cho việc giải
quyết tranh chấp trọng tài viên có thể nghe các bên trình bày ý kiến, yêu cầu các bên
cung cấp các bản giải thích, các bằng chứng và tài liệu khác có liên quan hoặc có thể
tìm hiểu sự việc có liên quan từ những ngời khác với sự có mặt của các bên hoặc sau
khi đã báo cáo cho các bên biết.
Trong trờng hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài có thể tự mình thu thập chứng cứ, mời
giám định theo yêu cầu của một bên hoặc các bên và phải thông báo cho các bên
biết, bên yêu cầu giám định phải nộp tạm ứng phí giám định (Điều 32, khoản 2 Pháp
lệnh Trọng tài thơng mại số 08/2003 UBTVQH 11).
Thời gian địa điểm phiên họp giải quyết vụ tranh chấp do Chủ tịch Hội động
trọng tài quyết định. Giấy triệu tập các bên tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh

họp (Điều 42, Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH 11)
Quyết định trọng tài phải có các nội dung chủ yếu sau:
+ Ngày tháng, năm ra quyết định trọng tài;
+ Tên Trung tâm trọng tài;
+ Tên, địa chỉ của các Nguyên đơn, Bị đơn;
+ Họ tên các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất;
+ Tóm tắt đơn kiện và các vấn đề tranh chấp;
+ Cơ sở để quyết định trọng tài;
+ Quyết định về vụ tranh chấp, quyết định phí trọng tài và các chi phí khác;
+ Thời hạn thi hành quyết định trọng tài;
- 19 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
+ Chữ ký của các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất
Quyết định trọng tài có hiệu lực kể từ ngày công bố.
- Quyết định trọng tài có thể đợc công bố ngay tại phiên họp cuối cùng hoặc có thể
công bố sau nhng chậm nhất là 60 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp. Toàn văn
quyết định trọng tài phải đợc gửi cho các bên ngay sau ngày công bố.
- Sau khi quyết định trọng tài đợc công bố, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
đợc quyết định trọng tài một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa những
lỗi về tính toán, lỗi đánh máy hoặc những lỗi khác. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận đợc đơn yêu cầu, Hội đồng trọng tài tiến hành chỉnh sửa và phải thông
báo cho các bên biết (Điều 46 Pháp lệnh 08/2003 của UBTVQH 11).
- Các bên có quyền yêu cầu huỷ quyết định trọng tài trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận đợc quyết định trọng tài, nếu không đồng ý với quyết định trọng tài này
thì có quyền làm đơn gửi toà án cấp Tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định trọng
tài yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, nếu các bên gửi đơn quá hạn vì có sự kiện bất
khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn yêu cầu
huỷ quyết định trọng tài.
Đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài gồm các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;

thuận của các bên;
+ Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài
+ Các bên chứng minh đợc có trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ trọng tài viên quy
định tại Khoản 2, Điều 13 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH 11;
+ Quyết định trọng tài trái với lợi ích công cộng của nớc CHXHCN Việt nam.
Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định huỷ hoặc không huỷ quyết định trọng tài
theo quy định của Pháp luật.
- Điều 55 của Pháp lệnh Trọng tài quy định: Trong thời hạn 15 ngày các bên có
quyền kháng cáo quyết định của toà án, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có quyền kháng nghị quyết định của toà án. Đơn kháng cáo, quyết
định, kháng nghị phải nêu rõ lý do yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị và phải gửi
cho toà án ra quyết định. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15
ngày, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 30 ngày kể từ ngày toà án ra quyết định.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đợc quyết định kháng nghị hoặc nhận đơn
kháng cáo và ngời kháng cáo đã nộp lệ phí kháng cáo tòa án ra quyết định phải
chuyển hồ sơ lên toà án nhân dân tối cao.
- Xét kháng cáo, kháng nghị: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đợc hồ sơ
kháng cáo hoặc quyết định kháng nghị, toà án nhân dân tối cao phải mở phiên toà
xem xét quyết định. Nếu cần phải yêu cầu ngời kháng cáo, kháng nghị giải thích
những nội dung kháng cáo, kháng nghị thì thời hạn mở phiên toà đợc kéo dài thêm
nhng không quá 60 ngày, kể từ ngày nhận đợc hồ sơ kháng cáo, kháng nghị toà án
phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 7 ngày làm việc trớc
ngày mở phiên toà.
+ Thành phần Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị gồm 3 thẩm phán, trong đó
có một Thẩm phán làm chủ toạ do toà án nhân dân tối cao chỉ định;
+ Phiên toà đợc tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp, Luật s của các
bên (nếu có), Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp;
- 21 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
+ Sau khi xem xét đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị, tài liệu kèm theo

không phải dự thi để đợc cấp thẻ trọng tài viên vì thế t cách trọng tài viên của họ chỉ
đợc xác định khi họ giải quyết tranh chấp do trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam
giao cho.
- Các phán quyết của Uỷ ban trọng tài có giá trị chung thẩm, nếu phán quyết đó
không đợc tự giác thi hành trong thời hạn qui định thì sẽ áp dụng biện pháp cỡng
chế theo pháp luật của nớc nơi phán quyết đợc yêu cầu thi hành.
- 22 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
Trớc đây ở nớc ta có Hội đồng trọng tài Ngoại thơng và Hội đồng trọng tài
Hàng hải. Để thống nhất hoạt động của hai tổ chức này, tránh sự chồng chéo về
thẩm quyền cũng nh thi hành quyết định trọng tài, ngày 28/4/1993 Thủ tớng Chính
phủ ban hành Quyết định số 204/TTg về tổ chức trung tâm trọng tài Quốc tế Việt
nam (VIAC) trên cơ sở sáp nhập Hội đồng trọng tài Ngoại thơng và Hội đồng trọng
tài Hàng hải ban hành kèm theo Quyết định này là Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng
tài Quốc tế Việt Nam.
b. Về tổ chức của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam
Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam có Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch do các
trọng tài viên của Trung tâm bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm.
Trung tâm có một Th ký thờng trực do Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt
nam chỉ định. Các trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam là những
ngời có kiến thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp luật Ngoại thơng, Tài
chính, Ngân hàng, Bảo hiểm, Đầu t Trọng tài viên do Ban thờng trực Phòng Thơng
mại và Công nghiệp Việt nam lựa chọn, với nhiệm kỳ 4 năm, sau mỗi nhiệm kỳ các
trọng tài viên có thể đợc chọn lại, Chuyên gia nớc ngoài cũng có thể đợc mời làm
trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam.
c. Thẩm quyền của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam:
Theo qui định tại Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam ban
hành kèm theo Quyết định 204 TTg và Quyết định 114 TTg ngày 26/2/1996 của Thủ
tớng Chính phủ, thì Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp sau đây:

thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra.
Thời gian qua tranh chấp hợp đồng kinh tế xảy ra chủ yếu và có tính chất phổ
biến ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế: Xây dựng cơ bản, vận chuyển hàng hoá, vay
tín dụng, thơng mại, bảo hiểm Đồng thời các tranh chấp có yếu tố nớc ngoài trong
lĩnh vực mua bán hàng hoá, vận tải, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu với nội
dung phức tạp vì liên quan đến luật pháp quốc tế, pháp luật Hàng hải, liên quan đến
các loại tài sản có giá trị lớn nh tàu biển, hàng hóa xuẩt nhập khẩu
Tranh chấp kinh tế thờng liên quan đến nhiều đối tợng, có những vụ án các
đối tợng có quyền và nghĩa vụ liên quan lại là các chủ thể tham gia các quan hệ tố
tụng khác (hình sự, dân sự, hành chính ) nên việc giải quyết gặp không ít khó khăn
phức tạp và mất nhiều thời gian để điều tra xác minh, thu thập chứng cứ và áp dụng
pháp luật.
Đơng sự trong các vụ án kinh tế thờng có trình độ học vấn cao, có hiểu biết
nhất định về mặt pháp luật, có nhiều mánh lới trong làm ăn kinh tế nên thờng lợi
dụng những hạn chế, những kẽ hở của pháp luật trong ký kết, thực hiện hợp đồng
kinh tế hoặc trong giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, mặt khác, nếu thực hiện
tốt việc phân tích, thuyết phục thì hai bên đơng sự cũng dễ dàng chấp nhận, thoả
thuận với nhau bằng biện pháp thơng lợng, hòa giải để giải quyết các tranh chấp
kinh tế đã phát sinh giữa các bên.
I. Các loại tranh chấp phổ biến ở nớc ta hiện nay
1. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện
lao vụ:
Trong thực tế kinh doanh tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ
giao hàng hoặc thực hiện lao vụ thờng sảy ra rất phổ biến do tập quán và đặc thù
- 24 -
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nớc ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
khinh doanh ở nớc ta. Những tranh chấp này thờng do các bên thực hiện không đầy
đủ các điều khoản của hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ giao hàng, thậm chí
không thực hiện hợp đồng.
Dới đây là một ví dụ điển hình của loại tranh chấp này:

14/7/1994 hai bên tiền hành thanh lý hợp đồng số 71.Futher và thống nhất chuyển
số nợ là 531.862.250 đồng sang hợp đồng số 112.Futher.
Cùng ngày 14/7/1994 hai bên đã ký hợp đồng số 112.Futher theo đó DNTN T bán
cho công ty P 500 tấn gạo với đơn giá 1690 đồng/ Kg và trị giá hợp đồng là
- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status