Vận dụng cặp phạm trù khả năng và hiện thực để phân tích, làm rõ sự phát triển kinh tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay - Pdf 26

Luận văn
Đề tài: Vận dụng cặp
phạm trù khả năng và hiện
thực để phân tích, làm rõ
sự phát triển kinh tế biển
nước ta trong giai đoạn
hiện nay
A. MỞ ĐẦU
1 lý do chọ đề tài
Bước sang thế kỷ 21,“Thế kỷ của biển và đại dương”[1,tr5], khai thác
biển đã trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các
quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia có biển và các quốc gia không có
biển. Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn
kiệt, các nước ngày càng quan tâm tới biển. Mặt khác, sự bùng nổ dân số
ngày càng gia tăng, theo thống kê đầu năm 2006 toàn thế giới có 6,5 tỷ
người, dự báo đến 2015 dân số thế giới khoảng 7,5 tỷ người. Sự phát triển
của dân số thế giới làm cho không gian kinh tế truyền thống đã trở nên chật
chội, nhiều nước bắt đầu quay mặt ra biển và nghĩ đến các phương án biến
biển và hải đảo thành lãnh địa, thành không gian kinh tế mới. Một xu hướng
mới nữa là hiện nay, trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ nhanh
chóng, việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ về biển đang là một
xu thế tất yếu của các quốc gia có biển để tìm kiếm và bảo đảm các nhu cầu
về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực phẩm và không gian sinh tồn trong
tương lai
Từ bao đời nay, biển luôn gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất,
đời sống của dân tộc Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta nhận định: “Biển có ý
nghĩa to lớn để nước ta phát triển, mở cửa giao lưu với quốc tế và ngày càng
có vai trò lớn trong định hướng phát triển tương lai”. Với điều kiện tự nhiên
thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, vùng biển
Việt Nam mang trong mình những tiềm năng nổi bật như: khai thác dầu khí,
khoáng sản; nuôi trồng và đánh bắt thủy - hải sản; du lịch; Vì vậy, vấn đề

biển. chính vì vậy em chọn đề tài “ vận dụng cặp phạm trù khả năng và
hiện thực để phân tích, làm rõ sự phát triển kinh tế biển nước ta trong
giai đoạn hiện nay”
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan
“DẤU ẤN VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG” của tiến sỹ Trần Công
Trục do nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông thuộc Bộ Thông tin và
truyền thông phát hành
“HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM” Nhà xuất bản
Trẻ phát hành với các tác giả Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Nhã, Lê Minh
Nghĩa, Từ Đặng Minh Thu, Vũ Quang Việt
“BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM: QUÁ KHỨ,
HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI” của PGS.TS. Vũ Văn Phái nhà xuất bản Đại
Học Quốc Gia Hà Nội
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
-Mục đích nghiên cứu: làm rõ khả năng và hiện trạng phát triển kinh
tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay từ đó đề xuất phương hướng giải
pháp phát triển kinh tế biển đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển,
làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia
trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh
-Nhiệm vụ nghiên cứu: phân tích làm rõ khả năng, thế mạnh và hiện
trạng phát triển kinh tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay
Quan điểm của Đảng về việc đẩy mạnh phát triển kinh tế biển nước ta
từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ, và gải pháp thúc đẩy sự phát triển kinh
tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay và tương lai
4. đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- đối tượng nghiên cứu:
Khả năng và hiện thực trong triết học Mác-lênin
Việc phát triển kinh tế biển nước ta trong giai đoạn hiện nay
-phạm vi nghiên cứu

tồn tại trên thực sự
Hiện thực là phạm trù triết hóc dùng để chỉ cái tồn tại thực sự, cái đã
tới đã có, hiện thực bao gồm :
Hiện thực khách quan ( hay là vật chất ) tất cả những gì đang tồn tại
độc lập với ý thức của con người.
Hiện thực chủ quan ( hiện tượng tinh thần) nó cũng tồn tại như tồn tại
trong óc của con người; ví dụ như ý thức, tu duy
Như vậy dấu hiệu căn bản để phân biệt khả năng với hiện thực ở chỗ:
khả năng là cái chưa có, còn hiện thực là cái hiện đang có, đang tồn tại
1.2 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CẶP PHẠM TRÙ KHẢ
NĂNG VÀ HIỆN THỰC
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát
triển của sự vật. điều đó có nghĩa là trong sự vật hiện tượng đang tồn tại
chứa đựng khả năng, sự vận động phát triển của sự vật chính là quá trình
biến khả năng thành hiện thực. Trong hiện thực mới đó lại nảy sinh khả năng
mới, khả năng mới này nếu có nhưng điều kiện lại biến thành hiện thực mới.
Quá trình đó được tiếp tục, làm cho sự vật vận động, phát triển một cách vô
tận trong thế giới vật chất
Quan hệ giữa khả năng và hiện thực có tính phức tạp. Điều đó thể
hiện ở chỗ cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể
tồn tại nhiều khả năng chứ không phải chỉ một khả năng
Ví dụ: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, sau
khin phân tích tình hình trong nước, tình hình thế giới và khu vực đã nhận
định rằng, đất nước ta hiện nay đang “ có cả cơ hội và thách thức lớn”,
những cơ hội lớn tạo điều kiện để chúng ta có khả năng “ tiếp tục phát huy
nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực- nguồn vốn, công nghệ mới,
kinh nghiệm quản lý và mở rộng thị trường, phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Những thách thức lơn đó là 4 nguy cơ mà Đảng ta đã từng
chỉ rõ như nguy cơ tụt hậu về kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn

làm căn cứ cho chính sách của mình, những sự thật được chứng minh rõ rệt
và không thể chối cãi được”[4,tr226]
Khả năng là cái chưa tồn tại thật sự nhưng nó cũng biểu hiện khuynh
hướng phát triển của sự vật trong tương lai. Do đó, tuy không dựa vào khả
năng nhưng chúng ta cũng phải tính đến các khả năng để việc đề ra chủ
trương, kế hoạch hành động sát hợp hơn
Trong xã hội, chúng ta phải chú ý đế việc phát huy nguồn lực con
người, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát huy tính năng động
sáng tạo của mỗi con người để biến khả năng thành hiện thực thúc đẩy xã
hội phát triển. Tuy nhiên cũng cần tránh hai thái cực sai lầm, một là : tuyệt
đối hóa vai trò nhân tố chủ quan; hai là: hạ thấp vai trò nhân tố chủ quan
trong việc biến khả năng thành hiện thực
CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG TRONG
VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 KHẢ NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN TRONG NÔNG NGHIỆP
2.1.1 Trong đánh bắt
2.1.1.1 khả năng
Diện tích mặt biển nước ta rộng tới hơn 1 triệu km2 chính vì vậy
nguồn lợi đánh bắt hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong
khu vực. “Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có
giá trị kinh tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển
đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh
tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3- 4 triệu tấn, khả năng cho phép
khai thác 1,5- 1,8 triệu tấn/năm”[5,tr30]. Đến nay đã xác định 15 bãi cá lớn
quan trọng, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò
nổi ngoài khơi
Cùng với đó là nguồn nhân lực nước ta dồi dào, đặc biệt là vùng biển
nước ta, đa số là những người ở độ tuổi đang lao động, cộng với kinh
nghiệm đi biển lâu đời. Với tiềm năng như vậy đánh bắt thủy hải sản thực

tăng về công suất máy đẩy và tăng về số lượng dẫn đến, sau gần vài thập
kỷ tập trung khai thác, nguồn lợi hải sản đã có những biến động đáng kể về
mật độ sản lượng, chủng loài, kích thước… đặc biệt vùng biển ven bờ, tập
trung trên 80% tổng số phương tiện nghề cá, sản lượng khai thác hằng năm
chiếm từ 70 -80% tổng sản lượng hải sản của cả nước. Ba ngư trường trọng
điểm là Hải Phòng-Quảng Ninh, Ninh Thuận-Bình Thuận và Cà Mau-Kiên
Giang, những khu vực tập trung trên 50% tổng số phương tiện nghề cá
tham gia đánh bắt hàng năm, qua kết quả khảo sát, mật độ sản lượng đều
giảm. Cùng với những thay đổi về sản lượng, chủng loài hải sản cũng biến
động đáng kể về mật độ, kích cỡ và ngày càng có nhiều loài trở thành quý
hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng. Sự thay đổi trên là nguyên nhân giảm năng
suất, sản lượng khai thác của nhiều nhóm nghề (khai thác cá nổi nhỏ ven
bờ, cá đáy, câu cá rạn…), đồng thời tăng thời gian khai thác thực tế trên
biển, thời gian tìm kiếm ngư trường, chi phí, giá thành sản phẩm… Thống
kê gần đây cho thấy dấu hiệu dư thừa cục bộ phương tiện đánh bắt hải sản
đã xuất hiện, công suất huy động tàu tham gia đánh bắt giảm dần, có tàu
chỉ huy động khoảng 50% thời gian hoạt dộng (khai thác cá nổi, tôm
biển…)
Nghề cá biển thuộc nhóm nghề vất vả, tai nạn luôn rình rập, đặc biệt
đối với những quốc gia nằm trong khu vực thường chịu tác động của các
hiện tượng thời tiết bất thường như Việt Nam. Môi trường hoạt động khai
thác hải sản rất khắc nghiệt, song đội tàu cá lại chưa được đầu tư tương
thích. Trong khoảng 95.000 phương tiện nghề cá hiện nay, loại dưới 50 CV
và thuyền thủ công có khoảng 64.500 chiếc, chiếm 68%, số tàu cá lắp máy
từ 90 CV trở lên có khoảng 13.600 chiếc, chiếm khoảng 14,3%. Cơ cấu đội
tàu cá Việt Nam hiện nay, xét về sự tương thích với ngư trường, với nguồn
lợi hải sản cho thấy không có sự bất cập lớn, song chất lượng kém của vỏ,
máy, các thiết bị an toàn hàng hải đã hạn chế thời gian hoạt động hữu ích
trong năm. Từ năm 1997, thực hiện Chương trình đánh bắt cá xa bờ, Nhà
nước đã đầu tư 1.300 tỷ đồng đóng 1.292 chiếc tàu đánh bắt xa bờ, tuy

ven bờ như Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Phá Tam Giang, Vịnh Văn
Phong… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển.
Với tiềm năng trên, trong tương lai có thể phát triển mạnh ngành nuôi,
trồng hải sản ở biển và ven biển một cách toàn diện và hiện đại với sản
lượng hàng chục vạn tấn/ năm.
2.1.2.2 hiện trạng
Bên cạnh đánh bắt hải sản, nuôi trồng hải sản cũng đem lại nhiều
giá trị cao về kinh tế, tính tổng giá trị nuôi trồng thủy hải sản nước ta năm
1990 chỉ đạt 162 nghìn tấn ,thì đến năm 2005 tổng sản lượng giá trị đạt
1478 nghìn tấn, và ước tính tổng sản lượng nuôi trồng thủy hải sản nước ta
năm 2011 đạt tới 2,5 triệu tấn. Cùng với đó giống loài thủy sản nuôi phong
phú, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm hùm, cá song, cá giò, cá cam, cá hồng,
cá đù đỏ, cua, ghẹ, hải sâm, bào ngư, nuôi trai lấy ngọc, nuôi ngao, nghêu,
hầu, trồng rong sụn, nuôi sứa đỏ và san hô
Trước tình trạng nguồn lợi hải sản đang suy kiệt, ngư dân đã chuyển
từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản ở biển với nhiều hình thức đa dạng.
Nhà nước đã ban hành các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế trong
nước và nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng hải sản trên biển và hải
đảo. Nhà nước phân cấp cho ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương giao, cho thuê đất và mặt nước biển cho tổ chức, cá nhân,
hộ gia đình có nhu cầu sử dụng mặt nước biển, đất trên đảo để nuôi trồng
hải sản, tạo điều kiện để nhà đầu tư tự quản lý đất mặt nước, yên tâm đầu
tư phát triển sản xuất. Nhà nước đã đầu tư và hỗ trợ đầu tư cho quy hoạch
nuôi hải sản trên biển, hải đảo; cho nhập khẩu giống gốc một số loài đặc
sản sạch bệnh có giá trị kinh tế cao, quý hiếm và kỹ thuật sản xuất giống
nhân tạo đòi hỏi công nghệ sản xuất cao và nuôi thương phẩm hải sản trên
biển và hải đảo; đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật; ưu tiên bố trí
kinh phí cho công tác khuyến ngư nuôi hải sản; hỗ trợ các dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng thiết yếu của các vùng nuôi hải sản biển. Ngân hàng chính

kịp và vượt các nước tiên tiến trong khu vực và vùng lãnh thổ về trình độ
nuôi hải sản trên biển.
Tuy nhiên, nuôi trồng hải sản nước ta hiện nay mới tập trung vào một
số doanh nghiệp, xí nghiệp liên doanh và các hộ có vốn lớn, sản xuất mang
tính tự phát ở một số vùng ven biển; còn đại bộ phận người dân ven biển
chưa có sự hiểu biết và điều kiện tham gia nuôi trồng hải sản trên biển.
Việc sử dụng diện tích mặt nước biển để nuôi hải sản chưa đáng kể, việc
giao, cho thuê mặt nước biển còn nhiều bất cập, sản lượng nuôi chưa
nhiều, giống loài thủy sản tham gia sản xuất còn ít, giá trị kim ngạch xuất
khẩu so với tiềm năng hiện có còn thấp. Chính sách khuyến khích đầu tư,
phát triển công nghệ và xây dựng cơ sở hạ tầng hầu như chưa có gì đáng kể
để phục vụ yêu cầu sản xuất, đã làm hạn chế phát triển nuôi trồng thủy sản
trên biển và hải đảo.
2.1.3 Trong sản xuất muối
2.1.3.1 khả năng
Với đường bờ biển dài 3260km trong đó có 29 tỉnh thành phố giáp
biển, không những vậy vùng biển nước ta mà đặc biệt là biển miền trung
thường có độ mặn cao, bên cạnh đó nguồn lực tham gia vào sản xuất muối
vô cùng lớn, với điều kiện này nước ta hoàn toàn có thể phát triển ngành
muối và đem lại những giá trị to lớn về kinh tế
2.1.3.2 hiện trạng
Nghề làm muối là một nghề có truyền thống lâu đời của Việt Nam,
gắn chặt với biển và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết.
Trong những năm qua, mặc dù điều kiện thời tiết không thuận, song nhờ
những bước tiến mới trong công tác quy hoạch, đầu tư sản xuất muối, đặc
biệt là muối công nghiệp, cho nên nghề muối Việt Nam đã phần nào giảm
bớt những khó khăn. Cả nước hiện nay có 20 tỉnh thành có nghề sản xuất
muối biển với tổng diện tích hơn 12 nghìn ha và sản lượng bình quân đạt từ
800 nghìn tấn đến 1,2 triệu tấn muối/năm, tạo việc làm cho hơn 90 nghìn
lao động. Hiện nay, ngành muối Việt Nam đang tích cực triển khai các dự

nâng cấp cơ sở hạ tầng sản xuất để tăng năng suất, sản lượng , tất cả đều
chưa tạo ra được sự chuyển biến rõ ràng và tích cực. Sự vào cuộc của nhà
nước còn chậm nhiều nơi chính quyền địa phương lo đầu ra cho sản phẩm
muối phần nhiều còn mang tính hình thức. Chẳng hạn, việc giao cho
UBND các địa phương công bố giá sàn mua muối cho diêm dân ngay từ
đầu vụ sản xuất là không khả thi vì UBND không đủ thông tin và căn cứ để
đưa ra giá sàn hợp lý có tương quan với giá muối các địa phương bạn trên
cùng khu vực và cả nước
2.2 KHẢ NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN TRONG CÔNG NGHIỆP
2.2.1 tiềm năng và hiện trạng khai thác dầu khí nước ta
2.2.1.1Tiềm năng
Dầu khí là một nguồn tài nguyên quan trọng mà bất ky một quốc gia
nào muốn sở hữu, bởi dầu khí là một tài nguyên năng lượng quan trọng để
duy trì hoạt động sản xuất của mỗi quốc gia, trong đó chỉ tính riêng dầu mỏ
là nguyên liệu trực tiếp hay gián tiếp cho sự hoạt động của hơn 50 ngành
công nghiệp khác nhau, và khí đốt cũng là nhiên liệu quan trọng để sản
tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp, cũng là năng lượng quan
trọng để phục vụ đời sống của nhân dân cho nên dầu khí là tài nguyên đặc
biệt quan trọng của nước ta và dầu khí là một trong những nguồn tài
nguyên quan trọng nhất trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam
Qua tìm kiếm thăm dò cho đến nay, các tính toán dự báo đã khẳng
định tiềm năng dầu khí Việt Nam tập trung chủ yếu ở thềm lục địa, trữ
lượng khí thiên nhiên có khả năng nhiều hơn dầu. Với trữ lượng đã được
thẩm định, nước ta có khả năng tự đáp ứng được nhu cầu về sản lượng dầu
khí trong những thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ 3. “Tổng tiềm năng
dầu khí tại các bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu
Long, Ma lay - Thổ Chu, Vùng Tư Chính - Vũng Mây đã được xác định
tiềm năng và trữ lượng đến thời điểm này là từ 0,9 đến 1,2 tỷ m3 dầu và từ
2.100 đến 2.800 tỷ m3 khí. Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu

công ty dầu khí nước ngoài đã đầu tư hơn 7 tỷ USD vào Việt Nam. Có nhiều
đối tác nước ngoài đã làm việc với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro
Vietnam) trong nhiều thập kỷ. Trong số đó, có liên doanh Vietsopetro giữa
Petro Vietnam với công ty Zarubezhneft của Nga, hiện đang hoạt động tại
các mỏ Bạch Hổ ở ngoài khơi phía Nam. Những công ty dầu khí thượng
nguồn nước ngoài hàng đầu khác ở Việt Nam bao gồm Conoco Phillips, BP,
Petronas, Chevron, Tập đoàn Dầu lửa Quốc gia Hàn Quốc, và Talisman
Energy. Những công ty này hoạt động với tư cách là nhà thầu cho Petro
Vietnam và chia sản lượng dầu khai thác được theo thỏa thuận.
Về chế biến dầu khí, Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng Nhà máy lọc
dầu Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi) với số vốn đầu tư 2,5 tỷ USD và công
suất 50 triệu thùng/năm, và đang tiến hành xây dựng một số dự án khác
như: dự án Polypropylen, nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, nhà máy đạm Cà Mau,
tổ hợp hóa dầu phía Nam. Tuy nhiên, nhìn chung phần lớn các dự án này
đều đang bị chậm tiến độ. Đến nay, Việt Nam mới chỉ có Nhà máy Đạm Phú
Mỹ hoàn thành và đang hoạt động bình thường với công suất tối đa 740.000
tấn/năm.
2.2.3 tiềm năng và thực trạng các tài nguyên phục vụ cho
công nghiệp khác
2.2.3.1 tiềm năng
Ngoài tài nguyên dầu khí là tài nguyên quan trọng trên biển thì trên
biển nước ta còn nhiều tài nguyên khoáng sản khác Các loại sa khoáng ven
bờ như ilmenit với trữ lượng dự đoán khoảng 13 triệu tấn; cát thủy tinh, trữ
lượng ước tính hàng trăm tỷ tấn. Ngoài ra, còn một khối lượng lớn vật liệu
xây dựng khổng lồ có thể được khai thác từ đáy biển (cát sạn sỏi cho xây
dựng hoặc san lấp) để thay thế cho nguồn này trên lục địa đang bị cạn kiệt
dần. Ngoài ra còn có cát thủy tinh ở Vân Hải (Quảng Ninh), Ba Đồn
(Quảng Bình), Cam Ranh (Khánh Hòa), v.v với trữ lượng nhiều tỷ tấn.
Trên sườn lục địa - chân lục địa và đáy biển sâu còn có tiểm năng các kết
hạch sắt - mangan, bùn đa kim rất đáng kể mà đến nay chưa thể xác định

granit ở khu vực mũi Kê Gà và một số nơi khác của tỉnh khác ở Trung Bộ.
Các vách đá hùng vĩ ở mũi Đá Vách, mũi Đại Lãnh, đèo Hải Vân, phát
triển trên đá bazan ở Phú Yên. Có nhiều bãi tắm đẹp với cát mịn và sạch
rải rác từ Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh) đến Bãi Nai (Hà Tiên, Kiên
Giang) và nhiều bãi tắm còn rất hoang sơ trên các đảo (Ngọc Vừng, Quan
Lạn ở Quảng Ninh; Hòn La ở Quảng Bình, Côn Đảo, Phú Quốc, v.v.).
Đường bờ biển của nước ta lại rất khúc khuỷu. lại được các đảo che chắn
(vịnh Hạ Long và Bái Tử Long), có nhiều vũng vịnh (Vũng Áng, vịnh Đà
Nẵng, An Hòa, Dung Quất, Quy Nhơn, Xuân Đài, Vũng Rô, Vân Phong,
v.v.) và nhiều cửa sông lớn đổ trực tiếp vào Biển Đông, với nhưng tiềm
năng sẵn có nước ta hoàn toàn có thể phát triển du lịch biển lên một tầm
cao mới trên thế giới
2.3.2 hiện trạng ngành du lịch biển nước ta
Du lịch và giải trí biển là một lĩnh vực hoạt động kinh tế không mới ở
nước ta. Tuy nhiên, trong khoảng 10 năm trở lại đây, đặc biệt từ năm 2000,
du lịch và nghỉ dưỡng cũng như giải trí biển đã được mở rộng đáng kể. Hiện
nay, nước ta có nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận
lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á, như: Vũng Tàu, Phan
Thiết, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh Một số loại
hình du lịch biển mới cùng đã được dưa vào nước ta như lướt ván, thuyền
buồm, v.v. Song, tắm biển vẫn là hình thức phổ biến nhất, bởi vì dọc theo
chiều dài bờ biển nước ta ở đâu cũng có bãi cát từ bãi Trà Cổ (Móng Cái,
Quảng Ninh) đến Bãi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang). Doanh thu từ du lịch và số
lượt khách du lịch người nước ngoài (du lịch nói chung) cũng tăng theo thời
gian. “ Doanh thu từ du lịch nói chung trong giai đoạn 2000 - 2006 tăng lên
gần 5 lần: năm 2000 là 3.458,5 tỷ đồng, năm 2006 là 16.732,0 tỷ đồng. Còn
số lượt khách nước ngoài đã vượt con số 2 triệu kể từ năm 2005. Vùng biển
và ven biển của Việt Nam tập trung tới ba phần tư khu du lịch tổng hợp và
10/17 khu du lịch chuyên đề của cả nước’’[9,tr332]. Hàng năm, vùng biển
thu hút 73% số lượt khách du lịch quốc tế, với tốc độ tăng trưởng bình quân

lãnh thổ khác về tài nguyên du lịch. Du lịch biển Việt Nam vẫn chưa tạo
được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch. Năm 2006, khách du lịch
quốc tế đến Việt Nam bằng đường biển chỉ chiếm khoảng trên 6% trong
tổng lượt khách quốc tế. Thời gian neo đậu của tàu du lịch ở các cảng chỉ từ
8 đến 24 giờ, do đó, khách không có nhiều cơ hội tham quan, giải trí mua
sắm.
Nguyên nhân được các chuyên gia đưa ra là hiện nay ở Việt Nam hầu
hết các cảng biển là cảng hàng hóa, chưa có cảng chuyên biệt cho tàu du
lịch. Nhiều tàu có trọng tải lớn không thể cập bờ và phải di chuyển khách
bằng canô hoặc tàu du lịch mất nhiều thời gian, giảm hứng thú cho du
khách. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền và quảng bá về du lịch biển Việt
Nam lâu nay chưa được quan tâm đúng mức. Du lịch Việt Nam chưa tham
gia các hội nghị, hội chợ chuyên về du lịch biển và du lịch tàu biển trên thế
giới. Một vấn đề đáng quan tâm nữa là hiện nay có không ít địa phương do
nóng vội đã đưa ra các chiến lược phát triển thiếu tính bền vững, gây trùng
lắp, thiếu quy hoạch chi tiết phù hợp để bảo vệ môi trường và văn hóa bản
địa, tính thương mại hóa quá cao, trong khi đáng lẽ phải tìm ra sự khác biệt,
bản sắc riêng của du lịch biển.
2.4 KHẢ NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN VỀ GIAO THÔNG ĐƯỜNG BIỂN
2.4.1 tiềm năng phát triển giao thông biển
Như đã nói, vùng biển - đảo nước ta hoàn toàn nằm trong vùng nhiệt
đới và có diện tích rộng tới khoảng 3,5 triệu km2, quanh năm nước không
đóng băng. Đây chính là điều kiện để giao thông - thương mại phát triển.
Biển Việt Nam nói riêng và Biển Đông nói chung nằm ở vị trí có nhiều
tuyến đường biển quan trọng của khu vực cũng như của thế giới, giữ một
vai trò rất lớn trong vận chuyển lưu thông hàng hóa thương mại phục vụ
đắc lực cho xây dựng nền kinh tế của nước ta cũng như các nước quanh bờ
Biển Đông. Biển Việt Nam nối thông với nhiều hướng, từ các hải cảng ven
biển của Việt Nam thông qua eo biển Malakka để đi đến Ấn Độ Dương,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status