Thực trạng nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước sinh hoạt ở 2 xã huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình và hiệu quả biện pháp can thiệp (2011 2012) - Pdf 26


B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y DC THI BèNH
=========
V TH BèNH PHNG
NGHIÊN CứU THựC TRạNG NHIễM
Ký SINH TRùNG NGUồN NƯớC TạI HAI Xã HUYệN KIếN XƯƠNG
TỉNH THáI BìNH V HIệU QUả BIệN PHáP CAN THIệP
(2011- 2012)
LUN N TIN S Y T CễNG CNG
THI BèNH 2015

B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y DC THI BèNH
========= V TH BèNH PHNG


lu
ận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã, Trạm y tế xã
Bình Nguyên và xã Vũ Hòa huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã giúp tôi
triển khai, thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập.
Tôi vô cùng biết ơn chồng, hai con cùng toàn thể gia đình đã hết lòng ủng
hộ, động viên, giúp đỡ, chia sẻ mọi khó khăn vất v
ả để tôi yên tâm học tập.
Tác giả

Vũ Thị Bình Phương LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của tôi và cộng sự, được
các cộng sự cho phép sử dụng trong luận án. Các số liệu và kết quả nghiên
cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Vũ Thị Bình Phương CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.1.1. Mầm bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước 3
1.1.2. Tác hại của mầm bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước 6
1.1.3. Thực trạng bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước 10
1.2. Ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước 16
1.2.1. Yếu tố ảnh hưởng tới ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước 16
1.2.2. Thực trạng ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng nguồn nước 19
1.3. Các biện pháp giảm thiểu và tiêu diệt mầm bệnh ký sinh trùng 25
1.3.1. Biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe 25
1.3.2. Biện pháp điều trị cho người nhiễm ký sinh trùng 27
1.3.3. Biện pháp xử lý nước 28
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1. Đối tượng nghiên cứu 38
2.1.1. Nghiên cứu mô tả 38
2.1.2. Nghiên cứu thực nghiệm 39
2.2. Địa điểm nghiên cứu 39
2.2.1. Nghiên cứu mô tả 39
2.2.2. Nghiên cứu thực nghiệm 41
2.3. Thời gian nghiên cứu 41
2.4. Phương pháp nghiên cứu 41
2.4.1. Khung lý thuyết cho nghiên cứu 41
2.4.2. Thiết kế nghiên cứu 42
2.4.3. Chọn mẫu và cỡ mẫu 47
2.4.4. Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 50
2.4.5. Đánh giá kết quả 56

2.5. Chỉ số áp dụng trong nghiên cứu 57
2.5.1. Chỉ số trong nghiên cứu mô tả 57
2.5.2. Chỉ số trong nghiên cứu thực nghiệm 58
2.6. Xử lý số liệu 58
2.7. Khống chế sai số 59

bàn nghiên cứu
60
Bảng 3.2. Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp mầm bệnh ký sinh trùng
trong các nguồn nước tại địa bàn nghiên cứu
61
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm giun, sán, đơn bào trong các nguồn nước 62
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm từng loại mầm bệnh ký sinh trùng trong nước 63
Bảng 3.5. Cường độ nhiễm Cryptosporidium spp. trong mỗi nguồn nước 64
Bảng 3.6. Trình độ học vấn của đối tượng tham gia phỏng vấn 65
Bảng 3.7. Nghề nghiệp của đối tượng tham gia phỏng vấn 65
Bảng 3.8. Kiến thức của người dân về phương thức nhiễm mầm bệnh ký
sinh trùng từ nước
67
Bảng 3.9. Kiến thức của người dân về phương thức gây ô nhiễm nguồn nước 68
Bảng 3.10. Kiến thức của người dân về tác hại của mầm bệnh ký sinh trùng 69
Bảng 3.11. Kiến thức của người dân về các biện pháp bảo quản, vệ sinh và
xử lý nước
70
Bảng 3.12. Kiến thức của người dân về biện pháp phòng lây nhiễm mầm
bệnh ký sinh trùng từ nước
71
Bảng 3.13. Thái độ của người dân về sự cần thiết của việc xây dựng nguồn
nước sạch trong sinh hoạt
71
Bảng 3.14. Tỷ lệ người dân biểu hiện bệnh liên quan tới nhiễm ký sinh trùng. 72
Bảng 3.15. Tỷ lệ nguồn nước người dân sử dụng chế biến thực phẩm
tái/sống
73
Bảng 3.16. Thực trạng sử dụng nước sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu 74
Bảng 3.17. Tỷ lệ người dân có thói quen uống nước lã, ăn thực phẩm

Bảng 3.41. Tỷ lệ trứng giun móc hình thành ấu trùng sau tác động bởi nhiệt 91
Bảng 3.42. Tỷ lệ trứng giun đũa hình thành ấu trùng sau tác động bởi nhiệt 92
Bảng 3.43. Số mèo thải Cryptosporidium spp. đã được xử lý bởi Aquatabs 93DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trong mỗi nguồn nước 61
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp mầm bệnh ký sinh trùng
trong các nguồn nước tại 2 xã nghiên cứu
62
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ nhiễm chung mầm bệnh giun, sán, đơn bào trong các
nguồn nướctại 2 xã nghiên cứu
63
Biểu đồ 3.4. Giới của đối tượng tham gia phỏng vấn tại 2 xã nghiên cứu.66
Biểu đồ 3.5. Kiến thức của người dân tại 2 xã nghiên cứu về mầm bệnh ký sinh
trùng gây ô nhiễm nước
67
Biểu đồ 3.6. Kiến thức của người dân về phương thức nhiễm mầm bệnh
ký sinh trùng từ nước
68
Biểu đồ 3.7. Kiến thức của người dân về một số biện pháp xử lý nước 70
Biểu đồ 3.8. Thái độ của người dân về sự cần thiết của việc phòng chống ô
nhiễm nguồn nước bởi mầm bệnh ký sinh trùng
72
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ nguồn nước được người dân sử dụng trong sinh hoạt 73
Biểu đồ 3.10. Tỷ lệ nguồn nước người dân sử dụng chế biến thực phẩm ăn
tái/sống tại 2 xã nghiên cứu
74
Biểu đồ 3.11. Tỷ lệ người dân 2 xã nghiên cứu có thói quen uống nước lã, ăn

dụng hằng ngày trong ăn uống, sinh hoạt, trồng trọt và chăn nuôi. Điều đó ảnh
hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, đe dọa tính mạng của con người, đặc biệt là
phụ nữ và trẻ em.
Mỗi năm trên thế giới, tình trạng tiêu chảy tái phát hoặc nhiễm giun
đường ruột làm cho khoảng 2,5 triệu người tử vong, làm cho 50% trẻ
thiếu
cân và suy dinh dưỡng. Thiếu cân, suy dinh dưỡng chính là nguyên nhân của
35% trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Đây là hậu quả của việc sử dụng
nước không an toàn, thiếu điều kiện vệ sinh môi trường và vệ sinh [
66], [138].
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 70% dân số
sống bằng nghề nông. Môi trường nước ngày càng ô nhiễm nặng nề do tốc độ
công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh chóng cùng với sự gia tăng dân số. Trong
công nghiệp, do không có thiết bị xử lý, các cơ sở sản xuất đã xả thẳng chất
thải ra môi trường gây ô nhiễm nước. Sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật
trong nông nghiệp làm các nguồn nước mặt bị ô nhiễm hóa chất độc hại. Đặc
biệt, chất thải của con người, động vật không được quản lý cùng với thói quen
sử dụng phân tươi trong sản xuất nông nghiệp, ý thức kém trong vệ sinh môi
trường và vệ sinh cá nhân của người dân làm tình trạng ô nhiễm nước trở nên
nặng nề hơn bởi sự góp mặt của các mầm bệnh sinh học, trong đó có mầm
bệnh ký sinh trùng. Không những thế, các biện pháp xử lý, bảo quản và vệ
sinh nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày vẫn chưa được người dân
quan tâm đúng mức làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh lây truyền qua nước.
Theo kết quả điều tra của Cục y tế dự phòng - Bộ Y tế n
ăm 2012, tại
Việt Nam có 69% dân số đô thị và 40% dân số nông thôn sử dụng nước sinh
hoạt đạt QCVN 02/2009 [
15].
2


m thiểu và diệt mầm bệnh ký sinh
trùng trong nước: truyền thông, xử lý nước (nhiệt độ, ozone và aquatabs).
3 Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước
1.1.1. Mầm bệnh ký sinh trùng lây truyền qua nước
Có nhiều mầm bệnh ký sinh trùng có thể gây ô nhiễm môi trường nước
và lan truyền qua nước. Có những mầm bệnh sẵn có ở ngoài môi trường
nhưng đa số các mầm bệnh lại xuất phát từ chất thải của con người hoặc các
loại động vật khác, phát tán ra ngoại cảnh gây ô nhiễm môi trường đất, nước
và không khí.
1.1.1.1. Mầm bệnh giun
Các mầm bệnh giun có thể lây truyền qua nước bao gồm [3], [5]:
- Giun đũa: nhiều loại giun đũa có thể lây nhiễm, ký sinh và gây bệnh cho
người, bao gồm giun đũa người (Ascaris lumbricoides), giun đũa lợn (Ascaris
suum), giun đũa chó (Toxocara canis), giun đũa mèo (Toxocara cati).
- Giun tóc (Trichuris trichiura).
- Giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/ Necator americanus).
- Giun lươn (Strongyloides stercoralis).
Các mầm bệnh giun được đào thải ra ngoại cảnh qua phân, chất thải của
con người hoặc một số loại động vật khác như chó, mèo… Các mầm bệnh này
cần có thờ
i gian phát triển ở ngoại cảnh đến giai đoạn có khả năng lây nhiễm.
Khi con người ăn, uống hoặc tiếp xúc với nước nhiễm các loại mầm bệnh
thích hợp ký sinh ở người, chúng sẽ xâm nhập và phát triển đến giai đoạn
trưởng thành. Nếu con người lây nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng từ động vật,
vào trong cơ thể, chúng phát triển và tồn tại ở giai đoạn ấu trùng ho

trứng nở thành ấu trùng lông. Ấu trùng lông xâm nhập vào các loại ốc thích
hợp để ký sinh và phát triển thành ấu trùng đuôi. Ấu trùng đuôi rời ốc bơi tự
do trong nước tìm
đến ký sinh ở các loại thực vật thủy sinh. Người hoặc các
loại động vật ăn thực vật thủy sinh còn sống hoặc uống nước lã chứa ấu trùng
5 sẽ bị nhiễm sán. Vào trong cơ thể người, ấu trùng sán lá gan lớn phát triển, ký
sinh ở nhiều cơ quan phủ tạng khác nhau như đường mật trong gan, nhu mô
gan, não… gây nhiều bệnh cảnh phức tạp [
3], [5].
Sán máng (Trichobillazia sp./ Schistosoma sp.) ký sinh ở mạch máu
của người, các loại chim, vịt, chuột. Trứng được đào thải ra ngoài theo phân
hoặc nước tiểu. Nếu con người tiếp xúc với nước có ấu trùng đuôi của các loại
sán máng ký sinh ở người, chúng xâm nhập qua da đến ký sinh ở mạch máu
vùng bàng quang, ruột. Nhưng nếu con người tiếp xúc với nước chứa ấu trùng
của các loại sán máng ký sinh ở chim, chuột, vịt, chúng di chuyển d
ưới da gây
nên hội chứng ấu trùng chu du dưới da [
3], [5].
1.1.1.3. Mầm bệnh đơn bào
Có nhiều loại mầm bệnh đơn bào có thể lây truyền qua nước, bao gồm:
Cryptosporidium parvum, Balantidium coli, Giardia intestinalis, Cyclospora
cayetanensis, một số loại amip, Toxoplasma gondii, Sarcosistis hominis, Sarcosistis
suihominis và Isospora belli.
Mầm bệnh đơn bào gây ô nhiễm và lây truyền qua nước có thể sẵn có ở
ngoài môi trường như Cryptosporidium parvum, Balantidium coli,
Cyclospora sp., amip Neagleria fowleri, Acanthamoeba… hoặc được đào thải
từ con người và động vật thông qua chất thải, dịch tiết nh

Gluxit và 0,7 mg Protit. Ngoài ra, chúng còn chiếm đoạt Vitamin A, D, E,
K…. Do đó, nhiễm giun đũa nhiều và lâu ngày có th
ể dẫn đến suy dinh
dưỡng, suy nhược cơ thể. Đặc biệt, trẻ em có thể bị còi xương và chậm phát
triển trí tuệ. Giun móc hút máu lãng phí làm người bệnh nhanh chóng rơi vào
tình trạng thiếu máu và hậu quả, người bệnh bị suy tim, suy nhược cơ thể
thậm chí tử vong [
3], [5].
Tỷ lệ thiếu máu do thiếu Ferritin của nữ công nhân làm việc tại các
nông trường chè tại Phú Thọ là 44,4%. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy
nguy cơ thiếu máu do thiếu Ferritin ở người nhiễm giun móc/mỏ cao gấp 11,4
lần người không nhiễm giun móc và giun mỏ [
29].
7 Hội chứng Loeffler là phản ứng đầu tiên của cơ thể người khi có sự
xuất hiện của ấu trùng giun đũa tại phổi. Bệnh nhân có ho khan, đau ngực,
bạch cầu ái toan tăng tới 40% hoặc hơn và thường gặp ở cộng đồng nhiễm
giun tái phát hoặc nhiễm giun theo mùa hơn là những vùng nhiễm quanh năm.
Giun móc/mỏ khi xâm nhập gây viêm da hay bệnh “đất ăn chân” [
3], [5].
Giun sán còn tiết ra các sản phẩm chuyển hóa gây độc cho cơ thể vật
chủ và tác động vào hầu hết các cơ quan như tim mạch, cơ quan tạo máu, thần
kinh, tuyến nội và ngoại tiết. Chúng đóng vai trò kháng nguyên gây dị ứng và
tình trạng dị ứng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào số lượng giun ký sinh.
Người bệnh nhiễm ấu trùng sán dây lợn có thể bị động kinh, tăng áp lực
nội sọ, rối lo
ạn tâm thần, đau mỏi cơ, lệch trục nhãn cầu hoặc mù và thậm chí
tử vong. Khi nhiễm thể trưởng thành, người bệnh thường xuyên có biểu hiện

cổ chướng. Nhiễm sán máng của động vật, người bệnh có thể có biểu hiện
viêm da dữ dội [3], [5].
Các loại đơn bào lây truyền qua nước là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh
cảnh lâm sàng phức tạp cho người bệnh do ngoài ký sinh ở đường tiêu hóa,
chúng có thể di chuyển để ký sinh và gây bệnh ở nhiều cơ quan, phủ tạng.
Entamoeba histolytica là nguyên nhân chính gây nên triệu chứng bệnh
và tình trạng tử vong trên người tại các nước đang phát triển. Chúng là
nguyên nhân làm cho trên thế giới, mỗi năm, có khoảng hơn 100.000 người tử
vong. Ngoài gây ra gây hội chứng lỵ, E. histolytica còn có thể di chuyển đến
gan, phổi, não và da gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm [
127].
E. histolytica là một trong những mầm bệnh sinh học gây tình trạng tiêu
chảy tại xã Yên Sở- Hà Nội. Yếu tố nguy cơ là làm việc trong điều kiện vệ
sinh môi trường và cá nhân kém, trong đó có yếu tố tiếp xúc với nước thải
chiếm 35% số ca tiêu chảy và thói quen uống nước lã [
55].
Kết quả nghiên cứu bệnh án các trường hợp apxe gan do Entamoeba
histolytica cho thấy 100% bệnh nhân sốt trên 37,5
0
C; 76,1% bệnh nhân đau
9 tức hạ sườn phải; 97,2% bệnh nhân gan to và 85,7% biểu hiện vàng da. Trong
đó, trên 20% bệnh nhân có hai ổ áp xe trở lên; 10,3% áp xe ở cả 2 thùy gan và
23,9% có biến chứng áp xe phổi, màng phổi [
28].
Cryptosporidium parvum, Cyclospora cayetanensis, Sarcosistis
hominis, Sarcosistis suihominis và Isospora belli lây truyền giữa người với
người thông qua nguồn nước hoặc thực phẩm nhiễm phân. Ỉa chảy nhẹ hoặc

đất cũng như ảnh hưởng tới khả năng tự làm sạch của nước.
Năm 2010, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố quyền về nước sạch,
vệ sinh an toàn và vệ sinh là quyền mà con người phải được thụ hưởng đầy đủ
giống như tất cả các quyền khác [131].
Để thỏa mãn nhu cầu sinh lý, mỗi người mỗi ngày cần 5 lít nước. Tuy
nhiên, để thỏa mãn nhu cầu vệ sinh và sinh hoạt, mỗi người cần tới 40- 50 lít
nước một ngày [
39]. Do đó, sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh là yếu tố
nguy cơ đe dọa sức khỏe của con người và nước sạch luôn là nhu cầu thiết
yếu, là mối quan tâm của mỗi con người, mỗi quốc gia trên thế giới.
Theo WHO/ UNICEF, năm 2010, tại các vùng đô thị, số người được
tiếp cận với nước uống được cải thiện tăng lên hơn 1 tỷ so vớ
i năm 1990.
Trong khi đó, số người sử dụng nguồn nước không được cải thiện lại cũng gia
tăng, từ 109 lên 130 triệu. Tuy nhiên, điều này phải được xem xét dựa trên
mối quan hệ với sự gia tăng lớn về dân số tại các đô thị trên vào thời điểm
tương tự, từ 1,3 lên 3,5 tỷ người. Tại các vùng nông thôn, số người sử dụng
nguồn nước không đượ
c cải thiện lại giảm từ 1,1 tỷ người xuống còn 653
triệu người. Và sau 2 thập kỷ, sự thay đổi lớn nhất là số người sử dụng hệ
thống cung cấp nước qua đường ống dẫn tăng lên đến 45%, đạt 54% trên toàn
thế giới [
131].
Đến cuối năm 2011, có 89% dân số thế giới được sử dụng nguồn nước
uống đã qua xử lý, 55% được hưởng sự thuận tiện và lợi ích sức khỏe của hệ
11 thống cung cấp nước uống qua các đường ống dẫn. Vẫn còn 768 triệu người
sử dụng nước chưa qua xử lý bao gồm 178 triệu người sử dụng nguồn nước
Blastocystis hominis với 2 vụ (0,6%). Balantidium coli, Acanthamoeba và
Naegleria fowleri cũng là nguyên nhân của 1 vụ dịch chiếm tỷ lệ 0,3%. Sự
xuất hiện các loại đơn bào này trong hệ sinh thái nước đòi hỏi con người phải
phát triển chiến lược phòng chống để có nước và thực phẩm an toàn [92].
Đa số các trường hợp tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi ở Ethiopia là do
tiêu chảy và chủ yếu là các bệnh liên quan đến nước. Trong số 655 mẫu phân
được kiểm tra, 12,2% mẫu nhiễm Cryptosporidium và 35,3% mẫu nhiễm
Giardia. Tỷ lệ nhiễm 2 loại đơn bào này vào mùa khô và mùa mưa khác biệt
có ý nghĩa. Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ
nhiễm Cryptosporidium và Giardia ở trẻ uống nước từ nguồn nước được bảo
vệ (10,9% và 32,9%) và trẻ uống nước từ nguồn không được bảo vệ (13,9%
và 38,2%) [67].
Tại Mỹ, số ca nhiễm Giardia intestinalis năm 2009 là 19.403 và năm
2010 là 19.888 ca. Các ca bệnh được thông báo chủ yếu gặp ở trẻ nhỏ do sự
tiếp xúc với nước ô nhiễm hoặc bệnh nhân. Năm 2009, 7656 ca (2,5/100000)
và năm 2010 có 8951 ca (2,9/100000) xác định nhiễm Cryptosporidium. Lứa
tuổi 1- 9 có tỷ lệ nhiễm cao nhất [140].
Theo số liệu năm 2012, tại 24 bang của Mỹ xảy ra 48 vụ dịch lây
truyền qua nước. Trong 21 vụ nguyên nhân do các mầm bệnh sinh học có 3
vụ nguyên nhân là ký sinh trùng, 1 vụ phối hợp giữa ký sinh trùng và vi
khuẩn [70].
Cyclospora cayetanensis là một loại đơn bào lây truyền qua nước và
được coi là loại ký sinh trùng gây bệnh mới nổi. Từ 1990- 2000, đã xảy ra 11
vụ dịch do Cyclospora cayetanensis ở Bắc Mỹ ảnh hưởng đến ít nhất 3600
người [103].
Entamoeba histolytica xuất hiện trong nước thải hoặc nước nhiễm phân
và sự lây truyền thông qua thức ăn, nguồn nước có chứa bào nang [127].
13

bệnh nhân điều trị sán lá gan lớn được theo dõi có tới 95,3% bệnh nhân trên
15 tuổi với số bệnh nhân nam là 541 chiếm 37,4% và số bệnh nhân nữ là 905
chiếm 62,6% [
44].
Tình trạng nhiễm sán dây chó Echinococus granulosus do nuốt phải
trứng sán khi ăn thức ăn hoặc uống nước bị ô nhiễm. Tại Romania, trong
14 khoảng thời gian từ 1978- 1988, có 8557 bệnh nhân nhiễm sán phải nhập viện
với 210057 ngày chăm sóc y tế và 516 người tử vong. Số liệu cũng chỉ ra rằng
ít nhất một người từ 45,5% các địa phương của Romania đã sinh thiết tìm
được nang sán Echinococus [
111].
Tại trường tiểu học tỉnh Derna - Libya, 31% trẻ em nhiễm 1 hoặc 2 loại
ký sinh trùng. Những loại ký sinh trùng này là G. lamblia (12,7%),
Blastocystis hominis (6,7%), Entamoeba histolytica (6,6%), Entamoeba coli
(3,2%), Entamoeba hartmanni (1,0%), Enterobius vermicularis (0,6%),
Ascaris lumbricoides (0,1%) và Hymenolepis nana (0,1%) [
119].
Trong nghiên cứu của Lê Khánh Thuận và cộng sự năm 2001 tại 10
tỉnh ven biển miền Trung- Việt Nam, tỷ lệ người dân nhiễm giun sán chung từ
44,27- 78,76%. Trong đó, tỷ lệ nhiễm giun đũa từ 7,18- 50,43%, nhiễm giun
tóc từ 1,24- 7,56%, giun móc 22,34- 54,09% và sán dây bò 0,2- 2,69% [
48].
Theo số liệu của viện Sốt rét- Ký sinh trùng và côn trùng Trung ương
năm 2011, tỷ lệ nhiễm giun vùng trung du và miền núi phía Bắc khoảng
65,3%, đồng bằng sông Hồng là 58,2%, Bắc trung bộ và duyên hải miền
Trung là 42,2%, Tây Nguyên 30,2%, Đông Nam bộ 29% và vùng đồng bằng
sông Cửu Long từ 12- 14%. Riêng tỉnh Thanh Hóa, tỷ lệ nhiễm giun là 75%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status