BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THU HOÀI
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN,
ĐỔI THỬA TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. CAO VIỆT HÀ
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
nghiệp Việt Nam – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện
đề tài;
- Các thầy, cô giáo khoa Quản lý đất đai, Ban Đào tạo-Học viện Nông nghiệp
Việt Nam;
- Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê
huyện Kiến Xương; các phòng, ban và UBND các xã, thị trấn thuộc huyện Kiến
Xương; Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Bình và các đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cá nhân, tập thể và cơ quan nêu trên đã giúp
đỡ, khích lệ và tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận
văn.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả Nguyễn Thu Hoài Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
1.6.4 Nội dung xây dựng mô hình nông thôn mới 24
1.7 Tình hình DĐĐT thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại
tỉnh Thái Bình 25
1.7.1 Mục đích DĐĐT 26
1.7.2 Yêu cầu của DĐĐT 26
1.7.3 Nguyên tắc DĐĐT 27
1.7.4 Trình tự thực hiện DĐĐT tại Thái Bình 28
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Phạm vi nghiên cứu 31
2.3 Nội dung nghiên cứu 31
2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Kiến Xương,
tỉnh Thái Bình 31
2.3.2 Biến động sử dụng đất trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới
2010-2013 31
2.3.3 Thực trạng công tác dồn điền, đổi thửa ở huyện Kiến Xương 31
2.3.4 Đề xuất các giải pháp hợp lý và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu
quả công tác dồn điền, đổi thửa trên địa bàn tỉnh Thái Bình. 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 31
2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thu thập số liệu thứ cấp: 32
2.4.3 Phương pháp phỏng vấn nông hộ: 32
2.4.4 Phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường. 33
2.4.5 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BCH Ban chấp Hành
CĐRĐ Chuyển đổi ruộng đất
CPSX Chi phí trung gian
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DĐĐT Dồn điền đổi thửa
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
HĐND Hội đồng nhân dân
KHKTNN Khoa học kĩ thuật nông nghiệp
KHKT Khoa học kĩ thuật
KT-XH Kinh tế – xã hội
MTTQ Mặt trận tổ quốc
NTM Nông thôn mới
NTTS Nuôi trồng thủy sản
QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất
UBND Ủy ban nhân dân Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang
Tên hình Trang
3.1
Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Kiến Xương giai đoạn 2007- 2013
43
3.2
Bê tông hóa giao thông nội đồng sau dồn điền, đổi thửa ở xã Vũ
Ninh, huyện Kiến Xương
61
3.3
Đồng ruộng sau khi thực hiện dồn điền, đổi thửa ở xã Bình
Nguyên, huyện Kiến Xương
62
3.4
Trang trại chăn nuôi lợn ở xã Bình Định, huyện Kiến Xương
65
3.5
Trang trại chăn nuôi ở xã Bình Nguyên, huyện Kiến Xương
66
3.6
Trang trại lúa - cá - vịt ở xã Bình Nguyên
66
3.7
Nhưng thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo Nghị định 64/NĐ-CP
ngày 27/9/1993 của Chính phủ, chúng ta đã thực hiện phương châm công bằng,
ruộng tốt cũng như xấu, xa cũng như gần đều được chia đều tính trên nhân khẩu
nông nghiệp, dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán, manh mún không đáp ứng
được nhu cầu phát triển của nền nông nghiệp thời kỳ đổi mới.
Thực hiện kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 của Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Thái Bình được chọn là 1 trong 5 điểm trong
toàn quốc để thực hiện xây dựng nông thôn mới. Trước thực trạng ruộng đất hiện
nay vẫn còn manh mún, phân tán, không đáp ứng yêu cầu của quy hoạch xây dựng
nông thôn mới; ngày 31/12/2008 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình đã có Thông
báo số 442-TB/TU về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU của Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh khoá XVI về dồn điền, đổi thửa nông nghiệp nhằm hoàn thiện xây
dựng hệ thống giao thông, mương máng nội đồng; hình thành các vùng sản xuất
hàng hoá tập trung phù hợp với điều kiện đất đai, lợi thế canh tác từng địa phương;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
đáp ứng được yêu cầu quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
Từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá thực trạng
công tác dồn điền, đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Kiến
Xương, tỉnh Thái Bình" với mong muốn làm rõ hơn hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp của việc dồn điền, đổi thửa nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phấn đấu đưa Thái Bình thành tỉnh nông
thôn mới vào năm 2020.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài.
2.1. Mục đích.
Đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa phục vụ quy hoạch xây dựng
nông thôn mới tại huyện Kiến Xương của tỉnh Thái Bình
Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh công tác dồn điền đổi thửa ở các
Khái niệm manh mún ruộng đất được hiểu trên hai khía cạnh sau đây:
Một là, sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là
nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều
xứ đồng;
Hai là, sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số
lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản
xuất khác.
Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến tình trạng là hiệu quả sản xuất thấp,
hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ KHKT, nhất là vấn đề cơ giới
hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp, dẫn đến việc sử dụng đất kém hiệu quả, làm
cản trở bước tiến của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Vì thế người ta
luôn tìm cách khắc phục tình trạng này.
Manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau trên thế giới
và ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này rất đa
dạng, có thể là do đặc điểm phân bố địa lý, sức ép dân số, nhưng cũng có thể là do
ý thức của con người như tính chất tiểu nông của nền sản xuất kém phát triển, đặc
điểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của chính sách đất đai, kinh tế,
xã hội hay sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả
Tình trạng manh mún ruộng đất là một trong những nhược điểm của nền
nông nghiệp nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển và được coi là một trong
những rào cản của phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
trồng trọt, vì vậy rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập
trung đất đai. Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong mấy năm gần
đây. Dưới quan điểm kinh tế nếu manh mún ruộng đất làm cho lao động và các
nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún ruộng đất sẽ
tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn.
Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ mang lại lợi ích khi ta giảm mức độ manh
thể chỉ thay đổi cung cách sản xuất manh mún mà còn tạo ra những đổi mới thật sự
ở nông thôn.
Tập trung ruộng đất của các trang trại quy mô nhỏ thành những trang trại quy
mô lớn, tạo điều kiện để áp dụng KHKT tiên tiến vào sản xuất, thâm canh tăng năng
suất sinh học, năng suất lao động, tăng khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa,
giảm chi phí trung gian và giá thành nông sản. Vì vậy, việc tích tụ ruộng đất trong
quá trình CNH, HĐH nông nghiệp hầu như đã trở thành quy luật, diễn ra ở nhiều
nước trên thế giới. Từ những ô thửa nhỏ trở thành cánh đồng lớn, máy móc cơ giới
tha hồ xoay chuyển, ruộng đồng ngày càng được cải tạo, công cuộc dồn điền, đổi
thửa đã làm thay đổi diện mạo bộ mặt nông nghiệp, nông thôn
c) Tích tụ tập trung để tạo dựng quyền sử dụng đất nông nghiệp.
Hiện nay việc cấp GCNQSDĐ đã hoàn thành cơ bản. Thị trường quyền sử
dụng đất trong nông nghiệp nông thôn là một thị trường tiềm năng. Tuy nhiên chưa
được phát triển.
Theo một kết quả điều tra nghiên cứu về thị trường quyền sử dụng đất nông
nghiệp: Các hộ gia đình, cá nhân có xu hướng giữ đất để sản xuất, bình quân số hộ
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thuê quyền sử dụng đất chỉ chiếm 1-2%. Việc
thế chấp quyền sử dụng đất diễn ra khá phổ biến chủ yếu là để đầu tư vào nông
nghiệp và các nhu cầu bức xúc của đời sống. (Đỗ Kim Chung,2001)
1.1.3. Những kinh nghiệm về tích tụ và tập trung ruộng đất của một số nước trên
thế giới
Tích tụ và tập trung ruộng đất là một yêu cầu đặt ra trong quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước. Tập trung ruộng đất của các trang trại
quy mô nhỏ thành những trang trại quy mô lớn, tạo điều kiện để áp dụng KHKT
tiên tiến vào sản xuất, thâm canh tăng năng suất sinh học, năng suất lao động, tăng
khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa, giảm chi phí trung gian và giá thành nông
sản. Vì vậy, việc tích tụ ruộng đất trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp hầu như
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
một nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có tình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
trạng như vậy.
Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm 1950, chủ trương hạn chế việc bán
ruộng đất đã gây trở ngại cho việc tích tụ ruộng đất. Về sau đã thay đổi chủ trương này
nhưng việc tích tụ ruộng đất cũng chậm chạp. Tuy nhiên, hạn chế việc chia nhỏ quy mô
ruộng đất của các hộ nông dân. Một hộ có nhiều con, theo tập quán chỉ có người con
trai trưởng mới có nhiệm vụ tiếp tục ở nông thôn làm ruộng và chăm sóc cha mẹ, còn
các con khác phải đi làm nghề khác, không chia ruộng cho tất cả các con.
Bảng 1.2. Tình hình tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á
Tên nước
Quy mô trang trại (ha)
Năm 1950 Năm 1970 Năm 1990
Nhật Bản 0,80 1,10 1,40
Đài Loan 1,12 0,83 1,21
Hàn Quốc 0,86 0,94 1,20
Thái Lan 3,50 3,56 4,52
Nguồn: Nguyễn Điền, 2001
b) Ở Trung Quốc.
Từ thời kỳ phong kiến đến nay, quyền sở hữu ruộng đất luôn là yếu tố trung
tâm trong mối quan hệ với chính quyền và nông dân Trung Quốc. Hiến pháp Trung
Quốc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý; nông
dân chỉ có quyền sử dụng đất nông nghiệp theo hợp đồng là 30 năm. Quyền sử dụng
đất thuộc sở hữu tập thể, nông dân không được quyền chuyển nhượng, cho thuê vào
mục đích phi nông nghiệp. Điều đó có nghĩa là chính quyền địa phương có thể thu
hồi đất bất cứ lúc nào. Công nghiệp hóa và đô thị hóa trong 30 năm qua đã làm cho
hàng chục triệu nông dân bị mất đất canh tác. Những cuộc biểu tình phản đối của
nông dân bị mất đất là nguyên nhân chính gây bất ổn xã hội ở Trung Quốc hiện nay.
quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối
đồng đều cho nông dân. Ruộng đất được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ
rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình.
Năm 1953, ở Đài Loan đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29
ha/trang trại; đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân
chỉ còn 1,08 ha/trang trại. Tuy nhiên, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng
tiến bộ KHKT, giảm CPSX, hạ giá thành sản phẩm, nhưng do người Đài Loan coi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường
nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ. Để giải quyết tình trạng này, năm 1983
Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp, trong đó công nhận phương thức
sản xuất ủy thác của các hộ nông dân, có nghĩa là Nhà nước công nhận việc
chuyển quyền sở hữu đất đai. Ngoài ra, để mở rộng quy mô, các trang trại trong
cùng thôn xóm hợp tác với nhau ở một số khâu như làm đất, mua bán chung một
số vật tư, nông sản, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao
động để sản xuất.(Tạ Đình Thi, 2007)
Vấn đề hạn điền ở một số nước được đặt ra chủ yếu là trong thời kỳ cải cách
ruộng đất, quy định hạn mức ruộng đất của những người có nhiều ruộng được giữ
lại, vượt quá hạn mức Nhà nước sẽ trưng mua để bán lại cho nông dân thiếu đất như
ở Nhật Bản và Đài Loan. Đến thời kỳ công nghiệp hóa phát triển thì vấn đề hạn điền
thường không cần đặt ra.
Theo Macheal Lipton (2002), nền nông nghiệp của các nước đang phát triển
ở Châu Á được đặc trưng bởi các yếu tố sau đây:
+ Tỷ lệ lao động nông nghiệp, nông thôn khá lớn và dư thừa;
+ Nền nông nghiệp thâm canh sản xuất lương thực, đặc biệt là trồng lúa nước
chủ yếu dựa vào đầu tư lao động của nông hộ với quy mô nhỏ;
+ Sự tăng tưởng của khu vực nông nghiệp có tính chất quyết định đến tăng
- Hội nghị chuyên đề về "CĐRĐ nông nghiệp, khắc phục tình trạng phân tán,
manh mún trong sản xuất" do Tổng cục Địa chính chủ trì năm 1998. Trong hội nghị, các
tỉnh đưa ra nhiều phương án chuyển đổi, nhiều ý kiến đóng góp thiết thực và những bài
học kinh nghiệm thực tế khi tiến hành làm điểm CĐRĐ.
- Nghiên cứu của Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà, năm 2006 về "Thực trạng công
tác CĐRĐ và hiệu quả sử dụng đất của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng".
Các nội dung nghiên cứu đã đưa ra nhận định: Việc CĐRĐ tiết kiệm được
CPSX và thay đổi tập quán canh tác của nông hộ góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng đất. Đồng thời CĐRĐ còn tạo nền móng cho một bước phát triển mới trong
nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
- Nhóm nghiên cứu của trường Đại học nông lâm Thái Nguyên đã nghiên
cứu đề tài "Kết quả của công tác DĐĐT ở một số tỉnh miền Bắc - Đề xuất các bước
cần làm trong DĐĐT cho vùng trung du và miền núi". Trên cơ sở nghiên cứu công
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
tác dồn đổi ruộng đất ở một số tỉnh, đề tài đã đưa ra một số nhận xét về kết quả đạt
được, những khó khăn, tồn tại, các bước thực hiện trong công tác DĐĐT ở một số
tỉnh miền Bắc.
Các công trình nghiên cứu, ứng dụng của các Nhà khoa học đã khẳng định sự
đổi mới về chính sách đất đai đã mang lại sự thành công bước đầu trong lĩnh vực
quản lý và sử dụng đất. Các tỉnh đều đã đề ra chủ trương CĐRĐ là phù hợp với
nguyện vọng của nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Những kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Sau CĐRĐ những lợi ích mang lại
là rất lớn, không chỉ đối với Nhà nước, xã hội mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho
người nông dân. Nó góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo ra những bước ngoặt mới
cho nền nông nghiệp phát triển trình độ sản xuất hàng hoá cao. Tuy nhiên CĐRĐ
trong nông nghiệp cũng đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về đất đai phải được
hoàn thiện theo xu hướng hiện đại, cập nhật và chính xác nhằm khai thác có hiệu
hành chính sách nông nghiệp, đưa nền nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn.
Để thực hiện mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp đề ra "sự nghiệp xây dựng ruộng đất”
với ba mục tiêu: rộng, chắc chắn, sâu.
+ Rộng: nâng diện tích thửa ruộng lên không dưới 0,3 héc ta.
+ Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay lún trên cơ sở thiết kế xây
dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và từng khu vực để có thể sử dụng máy móc
thuận lợi.
+ Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày.
Để làm được các yêu cầu nêu trên cần phải làm được hai việc sau đây:
+ Về mặt hành chính: chuyển đổi từ các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn.
+ Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây
dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng.
Công tác DĐĐT, xử lý ruộng đất như nêu trên là khó khăn phức tạp vì đất
đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành với một số biện pháp
như quy hoạch sử dụng đất mới phát huy hiệu quả trong sử dụng đất. Kết quả là
khoảng 2 triệu héc ta trong 2,7 triệu héc ta đất trồng lúa nước đã được chuyển đổi.
Trước chuyển đổi, bình quân có 3,4 thửa/hộ, sau chuyển đổi bình quân có khoảng
1,8 thửa/hộ. Việc chuyển đổi, xử lý đất nông nghiệp đã tăng sức sản xuất của đất
đai, tăng năng suất lao động; việc áp dụng máy móc vào sản xuất được thuận tiện và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
hiệu quả, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh
trong nông nghiệp. Vì vậy cùng với các yếu tố khác, việc chuyển đổi đất nông
nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3.000 kg gạo/ha/năm ở năm
1960 lên 6.000 kg gạo/ha/năm vào năm 1992.
- Ở Indonesia: Đồng bằng Java của Indonesia ruộng đất cũng bị manh mún.
Năm 1963, số trang trại có diện tích đất dưới 0,5 ha chiếm trên 52% trong tổng số
7,9 triệu nông hộ; trang trại có diện tích từ 0,5 héc ta đến 1,0 héc ta chiếm 27%, chỉ
có 0,4% loại trang trại có diện tích từ 4 đến 5 héc ta. Trong khi đó, 40% số trang trại
mô bình quân 86 ha/hộ, đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu nông hộ với quy mô 198,9
ha/hộ. Nhìn chung, tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ
ở Châu Âu chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình
cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp.
1.2.3. Tình hình nghiên cứu DĐĐT ở Việt Nam
1.2.3.1. Thực trạng về manh mún ruộng đất ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tình trạng manh mún ruộng đất diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là
ở đồng bằng sông Hồng và các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ. Theo số liệu của Bộ
Tài nguyên và Môi trường, cả nước có khoảng 75 triệu thửa đất, trung bình một hộ
nông dân có khoảng 0,25 - 0,50 héc ta đất nông nghiệp, bình quân khoảng 7 - 8 thửa
đất/hộ. Khu vực có mức độ manh mún nhiều nhất là trung du miền núi phía Bắc,
đồng bằng sông Hồng và khu IV cũ.
Bảng 1.3. Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
TT Vùng sinh thái
Tổng số
thửa/hộ (thửa)
Diện tích bình quân/thửa
(m
2
)
Trung
bình
Cá
biệt
Đất lúa
Đất trồng
màu
1 Trung du miền núi Bắc Bộ 10 – 20
công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số
các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
- Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp. Có như vậy
mới thể hiện tính công bằng;
- Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ;
- Do hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải chia
đều ruộng đất cho các hộ;
- Có những chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua,
mặn do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi
chia ruộng.
1.2.3.3. Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông
nghiệp và quản lý Nhà nước về đất đai ở địa phương
Tình trạng manh mún ruộng đất đã gây không ít khó khăn cho người nông
dân và các nhà quản lý. Cho đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề DĐĐT
và đã chỉ ra những tác động tiêu cực của sự manh mún ruộng đất, có thể khái quát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
lại như sau:
- Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, không giảm được chi
phí lao động đầu vào;
- Thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến bộ kỹ
thuật để tăng năng suất;
- Thửa ruộng nhỏ, phân tán trên nhiều xứ đồng làm tăng rất nhiều công thăm
đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không muốn trồng cây
hàng hoá do phải tăng công bảo vệ, do đó hạn chế đến việc thâm canh và chuyển
dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa;
- Quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm
nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có sự biến động bất ổn định;
- Nhiều thửa ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn,