Đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới ở huyện trực ninh tỉnh nam định - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*** CAO TRUNG KIÊN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI
THỬA PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở
HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. CAO VIỆT HÀ

HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Cao Trung Kiên Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 2
1. Tính cấp thiết đề tài 2
2. Mục đích và yêu cầu 3
2.1. Mục đích 3
2.2. Yêu cầu 3
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện 29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 34
3.1.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 39
3.1.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 40
3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất của huyện Trực Ninh giai đoạn 2010 - 2013 44
3.2.1. Tình hình quản lý đất đai 44
3.2.2. Biến động sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2013 50
3.2.3. Tình hình biến động đất nông nghiệp 53
3.3. Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở huyện Trực Ninh phục vụ xây dựng
nông thôn mới 55
3.3.1. Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn
huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định 55
3.3.2. Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 57
3.3.3. Kết quả thực hiện chính sách “dồn điền đổi thửa” đất nông nghiệp phục vụ
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện 60
3.3.4. Đánh giá hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông
thôn mới 66
3.3.5. Ý kiến của người dân về việc thực hiện công tác dồn điền đổi thửa 75
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau
dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Trực Ninh 76
3.4.1. Tồn tại, hạn chế trong sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn
huyện Trực Ninh 77
3.4.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền
đổi thửa trên địa bàn huyện Trực Ninh 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1. Kết luận 80

tiếp cho sản xuất nông nghiệp 72
Bảng 3.14: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2010 và năm 2014 73
Bảng 3.15: Ý kiến của người dân về việc đầu tư cho sản xuất sau khi DĐĐT 74
Bảng 3.16: Ý kiến của người dân về hiệu quả sản xuất sau khi DĐĐT 74
Bảng 3.17: Ý kiến của người dân về quy trình và mức độ minh bạch của công tác
DĐĐT 75

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Quy mô sản xuất nông nghiệp các vùng 8
Hình 1.2: Chi phí và lợi nhuận từ trồng lúa theo quy mô 9
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí huyện Trực Ninh 29
Hình 3.2: Biến động sử dụng đất huyện Trực Ninh giai đoạn 2010 - 2013 50
Hình 3.3: Biến động đất nông nghiệp huyện Trực Ninh giai đoạn 2010 - 2013 54
Hình 3.4: Nhà văn hóa tổ dân phố Lam Sơn thị trấn Cát Thành 63
Hình 3.5: Mô hình cánh đồng mẫu lớn 60ha ở xã Trực Hùng 69
Hình 3.6: Mô hình trang trại V-A-C-B ở xã Trực Hưng 70
Hình 3.7: Đường giao thông nội đồng ở xã Trực Thanh 71
Hình 3.8: Kiến nghị của hộ dân để cải thiện điều kiện sử dụng đất nông nghiệp 76
NTM Nông thôn mới
QSDĐ Quyền sử dụng đất
UBND Ủy ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết đề tài
Trong nông nghiệp đất đai đóng một vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng
đầu của ngành sản xuất này. Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao động mà
còn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác động của con người vào cây
trồng đều dựa vào đất và thông qua đất đai. Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và
đặc biệt không thể thay thế được. Vì vậy, dù quá trình sản xuất nông nghiệp hay sản
xuất kinh doanh các sản phẩm khác thì đều là quá trình khai thác hoặc quá trình sử
dụng đất. Vì thế, không có đất đai thì các hoạt động khác đều không xảy ra.
Công cuộc cải cách kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn Việt Nam ở
những năm đầu thập kỷ trước đã đem lại những thành quả to lớn về kinh tế xã hội
cho đất nước. Từ một nước nhập khẩu lương thực là chủ yếu, kinh tế nghèo nàn lạc
hậu, chúng ta đã vươn lên và trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới về một số
mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, chè, tiêu, thuỷ sản Thu nhập và đời sống của
người dân luôn được cải thiện. Tỷ lệ đói nghèo đã giảm đáng kể, đặc biệt ở nông
thôn Đóng góp vào thành quả to lớn trên không thể không kể đến các chính sách
về ruộng đất của Đảng và Nhà nước đã ban hành trong quá trình đổi mới vừa qua.
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan
trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an
ninh, quốc phòng. Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng lâu dài, gian khó
nhưng rất vẻ vang, trong đó nông dân là chủ thể năng động, sáng tạo nhằm thực
hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để có
thể cơ giới hóa sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, xây dựng

- Các số liệu thu thập được phải được phân tích và đánh giá một cách khách
quan.
- Phải rút ra được những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại trong
công tác dồn điền đổi thửa ở địa phương phục vụ xây dựng nông thôn mới.
- Các phương án đề xuất phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế xã hội của vùng nhằm tiết kiệm quỹ đất, đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ môi
trường thiên nhiên.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lý luận về dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
1.1.1. Manh mún đất đai và sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa
1.1.1.1. Manh mún đất đai
a. Khái niệm
Manh mún ruộng đất được hiểu trên hai khía cạnh: một là sự manh mún về
mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá nhiều mảnh
ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng. Hai là sự manh mún
thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ
không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác.
Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến tình trạng là hiệu quả sản xuất thấp,
khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là vấn đề cơ giới
hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp, dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả.
Vì thế người ta luôn tìm cách khắc phục tình trạng này.
b. Nguyên nhân manh mún ruộng đất
Tình trạng manh mún ruộng đất do các nguyên nhân sau:
+ Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất là sự phức

Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thiếu trong quá trình sản xuất nói chung,
đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Xuất phát điểm là một quốc gia thuần nông,
Việt Nam có những thế mạnh về đất đai và đã tạo ra được những thành tựu nhất
định trong ngành sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, năng suất lao động của nông
nghiệp Việt Nam hiện nay còn thấp so với các quốc gia khác trong khu vực và trên
thế giới. Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng đó là do vấn đề manh mún
đất đai trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam. Hiện nay, theo tiêu chuẩn của thế
giới, Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ manh mún đất đai cao nhất
so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Theo Nguyễn Trung Kiên (2012)
diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người trên thế giới là 0,52 ha,
trong khu vực là 0,36 ha thì ở Việt Nam là 0,25 ha.Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới
cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự
chủ trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp công
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, nền nông nghiệp và đặc biệt là
vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải
được quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún về diện
tích và ô thửa.
Trong giai đoạn 10 năm (2001 - 2010), diện tích đất nông nghiệp có xu
hướng giảm. Theo số liệu của Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên Môi
trường, bình quân mỗi năm đất nông nghiệp giảm gần 100 nghìn hécta, đặc biệt
năm 2007 giảm 120 nghìn hécta. Cùng với đó là sự gia tăng dân số ở Việt Nam
trong những năm vừa qua nhất là dân số ở vùng nông thôn làm cho bình quân đất
sản xuất trên đầu người ngày càng giảm mạnh. Năm 2000 trung bình diện tích đất
nông nghiệp tính trên đầu người là 680 m

(trung bình)

Diện tích
đất canh
tác
(trung vị)

S
ố mảnh
đất
Tổng
khoảng
cách đến
các mảnh
(m)
Lào Cai 1,06 0,74 5,1 6.499
Phú Thọ 0,51 0,26 6,2 4.084
Lai Châu 0,95 0,78 5,3 9.655
Điện Biên 1,19 0,89 6,1 12.196
Ngh
ệ An 0,68 0,31 4,8 3.871
Quảng Nam 0,36 0,26 4,5 3.180
Khánh Hòa 1,00 0,41 2,5 4.242
Đắk Lắk 1,47 1,10 2,9 5.754
Đắk Nông 2,61 2,00 2,1 7.188
Lâm Đồng 1,37 1,08 2,9 5.036
Long An 1,52 0,70 2,0 2.298
Vùng đồng bằng phía Bắc 0,41 0,22 5,5 4.034
Miền núi phía Bắc 1,06 0,83 5,5 9.602
Tây Nguyên 1,83 1,25 2,4 6.066

sơ ruộng đất (chi tăng 35-50% nếu như ruộng đất vẫn còn manh mún).
Chi phí sản xuất sẽ gia tăng vì các hộ phải tốn nhiều thời gian để di chuyển
giữa các thửa ruộng. Theo bảng số liệu trên, trung bình khoảng cách giữa các thửa
ruộng gần 5 km; với con số trung bình là 5 thửa ruộng thì hộ nông dân cần phải đi
một đoạn đường gần 25 km trên lượt di chuyển đến tất cả các thửa ruộng. Chi phí đi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

lại về thời gian và tiền bạc tốn kém hơn rất nhiều. Ngoài ra việc phải canh tác trên
nhiều thửa ruộng với quy mô nhỏ sẽ gia tăng chi phí đầu vào đối với sản xuất (Viện
Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2011).

Hình 1.2: Chi phí và lợi nhuận từ trồng lúa theo quy mô
(Nguồn: Nguyễn Trung Kiên, năm 2012)
Vấn đề thủy lợi trong sản xuất quy mô nhỏ sẽ có nhiều khó khăn. Với một hệ
thống thủy lợi chung cho một cánh đồng có thể không đạt hiệu quả vì còn tồn tại
quá nhiều đường bờ ngăn ruộng. Ngoài ra việc sản xuất quy mô nhỏ còn làm gia
tăng mâu thuẫn giữa các hộ nông dân, gây ra những tác động xấu về mặt xã hội
trong đời sống nông thôn.
Tình trạng manh mún hạn chế chính đến các quyền của hộ nông dân sử dụng
đất như quyền được thế chấp, thừa kế.
Như vậy, đất đai trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam hiện nay đang rất
manh mún. Tình trạng này sẽ có tác động trực tiếp xấu đến tính hiệu quả sản xuất
trong nông nghiệp. Những tác động gián tiếp đến việc làm, thu nhập của nông dân
và tác động đến tăng trưởng chung của cả nền kinh tế là khó tránh khỏi. Vì vậy,
Việt Nam cần phải có những chính sách thích hợp để hạn chế mức độ manh mún đất
sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới. Chuyển đổi ruộng đất chống manh mún,
phân tán tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện công
nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

cải tạo, bồi bổ đất làm tăng độ phì nhiêu cho đất để sử dụng ổn định và lâu dài.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

1.1.3. Vai trò của dồn điền đổi thửa đối với xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của
người dân, tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực
hiện chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và
diện mạo đời sống, văn hoá, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và
thành thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng
tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước
và của các địa phương trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.
Mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với
phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức
mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; xây dựng giai
cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế
- xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Dồn điền đổi thửa là một phương thức để thực hiện xây dựng nông thôn mới
trong thời đại hiện nay. Dồn điền đổi thửa khắc phục tình trạng manh mún ruộng
đất, tạo ra các ô thửa có diện tích lớn, các vùng sản xuất chuyên canh theo hướng
sản xuất hàng hoá, bền vững; đảm bảo theo quy hoạch phát triển sản xuất nông
nghiệp, xây dựng nông thôn mới được phê duyệt. Phấn đấu sau thực hiện dồn điền
đổi thửa mỗi hộ còn từ 1 đến 2 thửa. Hình thành các mô hình cánh đồng mẫu lớn
tạo điều kiện sản xuất hàng hóa cho người dân, từ đó thu nhập của người dân cao
hơn góp phần nâng cao đời sống nhân dân.
Sau khi dồn điền đổi thửa, nhiều hộ đã đầu tư sản xuất theo hướng đa canh,
sản xuất lớn. Việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất đã thuận lợi hơn, năng suất và hiệu

vấn đề này.
Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2011) tập trung ruộng
đất là một yêu cầu đặt ra trong quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn của
các nước. Tập trung ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng khoa học kỹ thuật
tiên tiến vào sản xuất thâm canh tăng năng suất lao động, tăng khối lượng và tỷ suất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

nông sản hàng hóa, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Vì vậy việc tích tụ
ruộng đất trong quá trình công nghiệp hóa hầu như đã trở thành quy luật, diễn ra ở
nhiều nước. Tuy nhiên chủ trương, biện pháp và mức độ tích tụ ruộng đất ở mỗi
quốc gia không hoàn toàn giống nhau.
1.2.1.1. Trung Quốc
Nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông nghiệp và nông thôn từ
năm 1978. Quá trình cải cách được chia thành 2 giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm 1978
đến 1984, giai đoạn 2 từ năm 1985 đến 1990 và sau đó có đề ra phương hướng phát
triển nông nghiệp và nông thôn cho thập kỷ 90.
Văn kiện số 01 năm 1984 quy định “ Kéo dài thời hạn khoán ruộng đất để
khuyến khích nông dân đầu tư, bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh”. Chủ trương
này nhằm kiện toàn chế độ khoán sản phẩm đến hộ nông dân, khắc phục tình trạng
nông dân "bóc ngắn cắn dài”, sản xuất có tính chất lạm dụng độ màu mỡ của đất
đai. Thời hạn khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên, đối với loại kinh doanh chu kỳ sản
xuất dài có tính chất khai hoang như vườn, rừng, đồi hoang,… thì thời hạn khoán
cần phải dài hơn. Trước khi kéo dài thời hạn khoán, nếu quần chúng có yêu cầu
điều chỉnh ruộng đất thì có thể dựa vào nguyên tắc “đại ổn định, tiểu điều chỉnh”
(nghĩa là, về cơ bản phải ổn định nhưng có thể điều chỉnh một phần nhỏ ruộng đất
khoán chưa hợp lý) thông qua thương lượng một cách đầy đủ sau đó tập thể thống
nhất điều chỉnh. Ngoài ra văn kiện này còn cho phép hộ nông dân có quyền nhượng
ruộng khoán, cụ thể là “khuyến khích từng bước tập trung ruộng đất vào tay những
người làm ruộng giỏi”.

bị chia nhỏ lại sau dồn điền đổi thửa (bán một lần, chia thừa kế cho con cái, …).
Hơn nữa các biện pháp can thiệp hành chính thường phải tiến hành song song với
việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nhưng Chính phủ lại thường thiếu vốn để
đầu tư cho việc này.
1.2.1.2. Nhật Bản
Xuất phát điểm từ chính sách trước những năm 1960 mỗi hộ nông dân Nhật
có nhiều thửa ruộng phân tán, xa nhau quy mô mỗi thửa chỉ từ 500 m
2
đến 1000 m
2
.
Vào thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng lao động thủ công và
sức kéo gia sức. Đã xuất hiện sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa lao động nông
nghiệp và lao động của các ngành khác. Để chấn hưng nông nghiệp, năm 1961
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản về nông nghiệp. Một trong ba mục
tiêu chính của Luật cơ bản nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy
mô lớn. Để thực hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra “Sự nghiệp xây dựng
ruộng đất với ba mục tiêu: rộng, chắc chắn, sâu”.
- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3 ha.
- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay mún trên cơ sở kiến thiết
xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và toàn khu vực để có thể sử dụng máy
móc thuận lợi.
- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1m (theo các
chuyên gia Nhật Bản thì Nhật Bản học tập kinh nghiệm chuyển đổi xử lý đất của
Cộng hoà Liên Bang Đức).
Để đáp ứng nhu cầu trên phải làm hai việc:
- Về mặt hành chính: đó là xử lý chuyển đổi đất từ các thửa nhỏ ở xa nhau

hiệu suất của máy nông nghiệp, tăng sức sản xuất của đất đai, làm tăng năng suất
lao động của người nông dân, tạo điều kiện phát triển hàng hoá để nâng cao sức
cạnh tranh của nông nghiệp. Vì vậy, cùng những yêu cầu khác, việc chuyển đổi xử
lý đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3000 kg gạo/ha
năm 1960, lên 6000 kg gạo/ha năm 1992. Hiện nay việc chuyển đổi xử lý ruộng đất
được tiếp tục khuếch trương lên 1 ha hoặc 2 ha, có thể lên tới 3 ha hoặc 6 ha, tiến
gần đến quy mô thửa ruộng.
1.2.1.3. Thái Lan
Đồng bằng Chao phraya của Thái Lan có sức ép về dân số thấp hơn. Quá
trình phân nhỏ ruộng đất tuy chưa đến mức quá manh mún nhưng nó lại có một
nguyên nhân khác đó chính là việc xây dựng siêu đô thị Băng Kok. Một sự phát
triển theo chiều thuận là công nghiệp sẽ rút bớt lao động nông thôn ra thành thị làm
cho quy mô ruộng đất nông nghiêp tăng lên. Tuy nhiên ở Chao phraya lại khác,
cách đây khoảng 120 năm vùng này dân cư vẫn còn thưa thớt, cả vùng có đến 2
triệu ha đất nhưng dân cư chỉ có khoảng trên 300 ngàn người. Nhưng bắt đầu xây
dựng đô thị khổng lồ Băng Kok kể từ vài chục năm gần đây đã làm cho dân số vùng
tăng nhanh bình quân 3% năm. Đất nông nghiệp mất đi trung bình 1% năm kể từ
năm 1970 trở lại đây. Các trang trại bị chia nhỏ giảm dần về quy mô ruộng đất.
Trung bình một hộ năm 1950 có 4,8 ha đến năm 1963 còn 4,5 ha, năm 1978 là 4,1
ha và 15 năm sau, năm 1993, chỉ còn 3,5 ha. Sự giảm quy mô trung bình ruộng đất
ở Thái Lan một phần nữa còn được giải thích bởi sự chia đều ruộng đất cho con cái
thừa kế và sự chậm tiến bộ về mặt công nghệ, kỹ thuật sản xuất. Giai đoạn 20 năm

Trích đoạn Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp Kết quả thực hiện chính sách “dồn điền đổi thửa” đất nông nghiệp phục vụ Đánh giá hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông kiến của người dân về việc thực hiện công tác dồn điền đổi thửa Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status