ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Đỗ Thị Thùy
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Đỗ Thị Thùy
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Chuyên ngành: Quản lý đất đai.
Mã số:
60850103
mình nhưng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng
góp quý báu của các thầy cô và các bạn.
Hà Nội, tháng 2 năm 2018
Học viên
Đỗ Thị Thùy
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và số liệu trong luận văn này
do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện không trùng với bất kỳ luận văn, đề tài
nào đã công bố. Nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 2 năm 2018
Học viên
Đỗ Thị Thùy
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................................................iii
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU............................................................................7
Chương II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI.............................................................................................................................33
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.....................88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................................................................94
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................................................96
Dồn điền đổi thửa
GCN
Giấy chứng nhận
HĐND
Hội đồng nhân dân
NN
Nông nghiệp
NTM
Nông thôn mới
QH
Quy hoạch
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
UBND
Ủy ban nhân dân
trong sản xuất nông nghiệp, Chính phủ ta đã ban hành Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg
ngày 20/02/1998 và Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01/07/1999 và theo tinh thần
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân và
nông thôn, để tiến hành xây dựng nông thôn mới, điều quan trọng là phải quy hoạch
lại ruộng đồng theo hướng quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa, quy hoạch giao
thông, thủy lợi nội đồng đáp ứng yêu cầu cơ giới hóa và ứng dụng khoa học công
nghệ tiên tiến vào sản xuất, làm tăng năng suất lao động. Thực hiện theo chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Hà Nội cùng với nhiều địa
phương khác trong cả nước đã tiến hành công tác chuyển đổi ruộng đất hay còn gọi
1
là công tác “dồn điền đổi thửa” với sự tham gia tự nguyện của hộ nông dân và sự
chỉ đạo sát sao của Chính quyền các cấp.
Chương Mỹ là một huyện nằm ở phía Tây Nam của thủ đô Hà Nội, cách
trung tâm thành phố 20km. Huyện tổng diện tích tự nhiên 232,94 km2, là địa
phương có diện tích lớn thứ ba của thành phố; huyện gồm 32 đơn vị hành chính (30
xã và 2 thị trấn). Địa hình chia thành ba vùng: vùng đồi gò, vùng “núi sót” và vùng
đồng bằng với ba con sông: sông Bùi, sông Tích và sông Đáy bao bọc, rất thuận tiện
cho phát triển nông nghiệp. Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp,
huyện đã hưởng ứng và làm theo chủ trương của Nhà nước đó là thực hiện công tác
dồn điền đổi thửa. Việc thực hiện dồn điền dổi thửa diễn ra với sự hưởng ứng nhiệt
tình từ chính quyền các cấp đến nhân dân địa phương. Công tác DĐĐT trên địa bàn
huyện Chương Mỹ đã có những kết quả thành công đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện công tác DĐĐT còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập
dẫn đến hiệu quả của công tác DĐĐT ở một số địa phương còn hạn chế.
Việc nghiên cứu quá trình thực hiện công tác DĐĐT trên địa bàn huyện
Chương Mỹ, giúp ta có cái nhìn tổng quan hơn về hiệu quả của công tác chuyển đổi
ruộng đất, đồng thời nắm bắt được hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên
5.2 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
Chọn lọc tài liệu, số liệu và tiến hành phân tích, tổng hợp các số liệu phù hợp
với mục đích nghiên cứu.
Thống kê tình hình dân số, lao động, hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất sản
xuất nông nghiệp, diện tích đất chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi sau khi thực
hiện DĐĐT; thống kê diện tích trung bình trên/thửa đất, số thửa trung bình/hộ trước
và sau khi thực hiện DĐĐT, từ đó đánh giá mức độ thành công của công tác.
Thống kê hiệu quả kinh tế sử dụng đất trước và sau DĐĐT, đánh giá mức độ
thành công trong mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp sau DĐĐT.
3
5.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu.
Tiến hành khảo sát điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu.
Theo quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 của huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội, phân vùng kinh tế chung
của huyện, tiềm năng đất đai, lao động, kinh tế, tập quán canh tác, hiện trạng sử
dụng đất nông nghiệp, loại đất, địa hình, thành phần cơ giới, chế độ tưới, chế độ
tiêu, hiện trạng kiểu sử dụng đất nông nghiệp, huyện Chương Mỹ có thế chia thành
3 vùng chính gồm: Vùng bãi; vùng đồng bằng và vùng bán sơn địa.
Vùng bãi gồm 8 xã: Phụng Châu, TT. Chúc Sơn, Thụy Hương, Lam Điền,
Hoàng Diệu, Thượng Vực, Văn Võ, Phú Nam An. Cây trồng chính của vùng này là
lúa, cây rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu tương.
Vùng đồng bằng gồm 12 xã: Tiên Phương, Hòa Chính, Trường Yên, Ngọc
Hòa, Trung Hòa, Tốt Động, Đại Yên, Hợp Đồng, Quảng Bị, Hồng Phong, Đồng Phú
và Phú Nghĩa. Vùng này có hệ thống cây trồng gần giống với vùng 1, tuy nhiên có
diện tích đất thấp, trũng trồng lúc vụ xuân cho năng suất cao nhưng vụ mùa hay bị
ngập nước nên năng suất thấp hơn vùng 1. Do đặc điểm địa hình của vùng nên có
thêm mô hình lúa – cá và chuyên cá.
thông tin thu thập được bao gồm: Tên đối tượng sử dụng đất, tình hình sử dụng đất
sản xuất nông nghiệp, sự thay đổi mô hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau
khi thực hiện DĐĐT; mức độ hài lòng về chủ trương chính sách cũng như mong
muốn của hộ gia đình sau khi thực hiện DĐĐT. Số lượng phiếu điều tra là 200
phiếu được phân bổ như sau: xã Tân Tiến 53 phiếu, xã Đại Yên 77 phiếu và xã Văn
Võ 70 phiếu. Sau khi tiến hành điều tra nhanh các hộ gia đình đã thu được các
thông tin về chủ sử dụng đất, diện tích các thửa đất trước và sau khi thực hiện
DĐĐT, chi phí sản xuất cũng như năng suất cho mỗi mô hình sử dụng đất có thay
đổi so với trước khi thực hiện DĐĐT. Các ý kiến cũng như nguyện vọng của nông
dân sau khi thực hiện DĐĐT. Từ các kết quả điều tra được, đã tiến hành phân tích,
tổng hợp số liệu để so sánh được số thửa và diện tích trên thửa của các hộ nghiên
cứu trước và sau DĐĐT, làm cơ sở đánh giá hiệu quả công tác DĐĐT.
5
5.5 Phương pháp tổng hợp, phân tích.
Tổng hợp các số liệu, tài liệu, kết quả điều tra…từ đó phân tích, đánh giá quá
trình thực hiện và hiệu quả của công DĐĐT; phân tích các chỉ số đánh giá hiệu quả
sử dụng đất trước và sau khi thực hiện DĐĐT trên địa bàn nghiên cứu. Từ những
phân tích, tổng hợp đó làm cơ sở để đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp.
6. Cơ sở, tài liệu thực hiện luận.
- Luật đất đai năm 2013 và các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các
Bộ, Quyết định của UBND thành phố Hà Nội và các văn bản của địa phương về
hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai.
- Các quyết định, kế hoạch, chỉ thị, hướng dẫn, nghị quyết liên quan đến
công tác dồn điền đổi thửa.
- Báo cáo tổng kết, đồ án quy hoạch trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 94/2002/QĐ-TTg, ngày
17/7/2002 về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị
lần thứ 5 ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, tại điểm 1 mục II Quyết định
94/2002/QĐ-TTg nêu: “Trong quý IV của năm 2002, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn chủ trì phối hợp với Tổng cục địa chính, Bộ tài chính, UBND các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn việc “dồn điền đổi thửa” trên nguyên
tắc tự nguyện, tự thỏa thuận và các bên cùng có lợi kết hợp tổ chức quy hoạch lại
ruộng đồng, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất hàng hóa, mở mang ngành
nghề”.
Hội nghị lần 7 Ban chấp hành TW khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26NQ/ TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Trong phần nhiệm vụ
và giải pháp có nêu rõ: Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sản xuất NN trên cơ sở nhu
cầu thị trường và lợi thế từng vùng, sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm, có hiệu quả,
7
duy trì diện tích đất lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài.
Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, gắn sản xuất với chế biến và thị trường.
1.1.2. Chủ trương, chính sách của thành phố Hà Nội, huyện Chương Mỹ
trong công tác dồn điền đổi thửa.
Trước năm 2008, huyện Chương Mỹ thuộc tỉnh Hà Tây (cũ), các chủ trương
chính sách của huyện nằm trong khuôn khổ của tỉnh Hà Tây.
Nhằm đẩy mạnh sản xuất trên cơ sở chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ
thành ô thửa lớn, ngày 10/02/1997 Tỉnh uỷ Hà Tây đã ban hành Chỉ thị số 14 - CT/
TU của Ban Thường vụ tỉnh Hà Tây. Thường vụ Huyện ủy Chương Mỹ có Chỉ thị
15-CT/HU ngày 17/3/1997 về việc DĐĐT nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn gắn
với cấp GCN QSDĐ nông nghiệp cho các hộ sản xuất nông nghiệp.
- Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 14/6/2006 của Ban thường vụ tỉnh Hà Tây về
việc đẩy nhanh tiến độ DĐĐT gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi;
- Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Hội
nghiệp xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn
2011 – 2015;
- Kế hoạch số 92/KH-UBND ngày 27/6/2012 của UBND huyện Chương Mỹ
về thực hiện dồn điền đổi thửa gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trong
sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện năm 2012 – 2013;
- Nghị quyết số 19-NQ/HU ngày 04/7/2012 của Huyện ủy Chương Mỹ về
việc tiếp tục lãnh đạo thực hiện dồn điền đổi thửa gắn với chuyển đổi cơ cấu cây
trồng vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp;
- Hội đồng nhân dân huyện ban hành Nghị quyết số 02/NQ-HĐND ngày
06/7/2012 về dồn điền đổi thửa gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trong
sản xuất nông nghiệp năm 2012 – 2013. Đây là hành lang pháp lý để chỉ đạo, triển
khai, tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Chương Mỹ.
1.2. Các quan điểm trong sử dụng đất nông nghiệp.
1.2.1. Tích tụ, tập trung đất đai.
a) khái niệm tích tụ, tập trung đất đai.
“Tích tụ và tập trung tư bản là sự gia tăng quy mô tiền vốn kinh doanh của
một doanh nghiệp bằng cách chuyển một phần lợi nhuận thu được hằng năm vào
tiền vốn và sát nhập nhiều doanh nghiệp nhỏ thành một doanh nghiệp duy nhất.
Tích tụ và tập trung tư liệu sản xuất nói chung và ruộng đất nói riêng, là sự biểu
hiện bằng hiện vật của tích tụ và tập trung tư bản. Trong nông nghiệp, do ruộng đất
là tư liệu sản xuất chủ yếu, chưa có gì thay thế được, nên tích tụ, tập trung ruộng đất
9
là yếu tố quan trọng nhất của quá trình tích tụ, tập trung tư bản để mở rộng sản xuất,
nâng cao hiệu quả kinh doạnh nhờ lợi thế kinh tế theo quy mô”.[1]
Có thể hiểu đơn giản tích tụ, tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp
là làm tăng quy mô diện tích của thửa đất, của chủ sử dụng đất thông qua các hình
thức: chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp…
a) khái niệm manh mún ruộng đất.
Manh mún đất đai (Land fragmentation) nghĩa là một nông hộ canh tác từ 2
thửa đất riêng lẻ trở lên.[2]
b) Thực trạng manh mún đất đai ở Việt Nam.
Ngày 05/4/1988 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản
lý kinh tế nông nghiệp. Nghị quyết có quy định: “Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu
dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể, tư nhân trong quá trình đi lên chủ nghĩa
xã hội; thừa nhận tư cách pháp nhân, bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
trước pháp luật, bảo hộ quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ
cá thể, tư nhân và quyền thừa kế sử dụng doanh nghiệp của con cái họ…Ở các vùng
còn nhiều đất đai, mặt nước chưa khai thác, tùy tình hình cụ thể mà Nhà nước có thể
cho thuê hoặc giao quyền sử dụng một số ruộng đất, đất rừng và mặt nước cho các
hộ cá thể, tư nhân để họ tổ chức sản xuất, kinh doanh theo đúng pháp luật. Đối với
đất trồng rừng và cây công nghiệp dài ngày, có thể giao quyền sử dụng từ 1 đến 2
chu kì kinh doanh. Đối với đất mặt nước và đất trồng cây lương thực, cây công
nghiệp hàng năm, thời gian đó có thể từ 15 đến 20 năm. Trong thời gian này, họ
được giao quyền thừa kế sử dụng cho con cái và trong trường hợp chuyển sang làm
nghề khác được chính quyền cho phép chuyển nhượng quyền tiếp tục sử dụng cho
chủ khác”.
Sự ra đời của Nghị quyết 10-NQ/TW hay còn gọi là khoán 10 đã giao quyền
sử dụng đất cho nông dân, trao cho người nông dân quyền được thừa kế, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất. Giao khoán đất đai đến từng hộ cá thể, cá nhân, đã
khuyến kích nông dân yên tâm đầu tư sản xuất. Điều này mang lại những hiệu quả
đáng kể cho nền kinh tế nông nghiệp nước nhà lúc bấy giờ. Tuy nhiên cũng chính vì
11
lý do này đã dẫn đến tình trạng tiêu cực khi diện tích đất đai bị chia nhỏ khi giao
cho hộ cá thể, cá nhân.
Tổng số thửa/hộ
Diện tích bình quân/thửa
(m2)
12
Trung
1
2
3
4
5
6
7
Trung du miền núi Bắc bộ
Đồng bằng sông Hồng
Duyên hải Bắc trung bộ
Duyên hải Nam trung bộ
Tây Nguyên
Đông Nam bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Cá
Đất rau
Đất lúa
Ngoài ảnh hưởng của quá trình giao đất, địa hình cũng là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến tình trạng manh mún ruộng đất ở nước ta. Do ảnh hưởng của địa
hình vùng Trung du miền núi Bắc bộ có độ phân mảnh lớn nhất cả nước gấp khoảng
6 đến 15 lần (đối với cùng cá biệt) so với đồng bằng sông Cửu Long. Quy mô diện
tích trên một thửa đất của khu vực này cũng rất bé chỉ 150 – 300m2/thửa đối với đất
lúa; 100 – 150m2/thửa đổi với đất trồng rau.
Ở khu vực Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long sự manh mún ruộng
đất ít hơn. Ở đồng bằng sông Cửu Long trung bình 1 hộ có khoảng 3 thửa đất và
quy mô diện tích cũng lớn nhất cả nước. Diện tích trên 1 thửa đất ở đồng bằng sông
Cửu Long gấp 11,4 lần đối với đất trồng lúa và gấp 3,3 lần đối với đất trồng rau so
với đồng bằng sông Hồng.
Theo kết quả điều tra của Viện quy hoạch và Thống kê nông nghiệp cũng
phản ánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 7 tỉnh thuộc vùng ĐBSH:
Table 2Bảng
1.2 Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH năm
2003.
Tổng số thửa/hộ
TT
Tỉnh
Ít nhất
1
Hà Tây
-
5,0
18
6-8
20
-
-
3
Hải Dương
9,0
17
11,0
10
-
-
4
6
Hà Nam
7,0
37
8,2
14
126.5
-
7
Ninh Bình
3,3
24
8,0
5
422.4
ruộng đất, dồn đổi ruộng đất từ nhiều thửa nhỏ thành những thửa lớn nhằm khắc
phục tình trạng ruộng đất phân tán, mạnh mún, tổ chức lại đồng ruộng; đẩy mạnh
thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa,
phát triển kinh tế hộ và trang trại, củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. [4]
Từ sau khi thực hiện chủ trương giao đất theo Nghị định 64-CP dẫn đến tình
trạng đất đai phân tán, nhỏ lẻ làm hạn chế sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp.
Ngoài ra, tình trạng manh mún ruộng đất còn gây khó khăn trong công tác quy
hoạch, quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên đất đai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp. Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg ngày 20 tháng 02
năm 1998 và Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01 tháng 7 năm 1999 và theo tinh
thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân
và nông thôn. Để tiến hành xây dựng nông thôn mới, điều quan trọng là phải quy
hoạch lại đồng ruộng theo hướng quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa, quy hoạch
giao thông, thủy lợi nội đồng đáp ứng yêu cầu đưa cơ giới hóa và ứng dụng khoa
học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, làm tăng năng xuất lao động.
Hiện nay, với những điều kiện khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển, cùng
với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta đã giành được những thành
tựu rất quan trọng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta
đã có nhiều tiến bộ. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một
nội dung quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng
với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp của nước ta đang
đứng trước những thời cơ hết sức thuật lợi, tuy nhiên tình trạng manh mún ruộng
đất lại gây ra nhiều khó khăn, bất lợi. Ruộng đất manh mún, diện tích ô, thửa nhỏ,
phân tán mỗi hộ có tới hàng chục thửa ở nhiều xứ đồng khác nhau dẫn đến tình
trạng lãng phí đất đai, các chi phí cho việc chăm sóc, vận chuyển, thăm đồng cao và
mất nhiều thời gian. Đồng thời, cũng hạn chế về việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
15
16
cao gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Chính vì vậy, DĐĐT là một trong những
nhiệm vụ quan trọng, đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng NTM.
DĐĐT thành công đồng nghĩa với việc ruộng đồng được QH lại một cách quy củ,
có quy mô diện tích lớn, hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng cũng đáp ứng nhu
cầu để đưa cơ giới hóa vào sản xuất, góp phần làm tăng sản lượng, giảm thời gian
lao động… Đây cũng chính là một trong những mục tiêu của xây dựng NTM.
1.3. Dồn điền đổi thửa ở một số nước trên thế giới.
Tình trạng đất đai manh mún, nhỏ lẻ diễn ra tại nhiều nơi trên thế giới. Nắm
bắt được những bất lợi của việc manh mún đất đai, từ lâu con người đã ý thức được
việc tích tụ đất đai để tập trung sản suất, cơ giới hóa nông nghiệp.
a) Nhật Bản.
Để chấn hưng nền nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành
chính sách nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Để thực
hiện mục tiêu này Bộ Nông nghiệp đề ra "sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục
tiêu: rộng, chắc chắn, sâu".
- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3 ha.
- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay lún trên cơ sở thiết kế xây
dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và từng khu vực để có thể sử dụng máy móc
cho thuận lợi.
- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dầy khoảng 1 m.
Để làm được các yêu cầu nêu trên cần phải làm được hai việc:
+ Về mặt hành chính: xử lý chuyển đổi từ các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn.
+ Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây
dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng.
Công tác dồn điền đổi thửa, xử lý ruộng đất như nêu trên là khó khăn phức
tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành với một số
dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất. Ngoài ra để mở
rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động
18