Đánh giá hiệu quả các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới tại xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội” - Pdf 33

LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Bộ môn Quản lý đất đai, Khoa kinh tế và quản
trị kinh doanh Trường Đại Học Lâm Nghiệp và sự đồng ý của giáo viên
hướng dẫn ThS. Bùi Thị Cúc tôi đã thực hiện đề tài : “Đánh giá hiệu quả các
hệ thống sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa trong xây dựng
nông thôn mới tại xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội”
Để hoàn thành khóa luận này. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô
giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và rèn luyện ở Trường Đại Học Lâm Nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn, giảng viên ThS. Bùi Thị Cúc
đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh
nhất. Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp
cận với thực tế sản xuất cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên
không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được.
Tôi rất mong được sự góp ý của Quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp
để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày……tháng…….năm 2015
Sinh viên thực hiện
Tạ Trần Trưởng

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HQĐV
HTSDĐ
HTX
KHKT
LX - LM
NTM
STT
TNHH
UBND

Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hoá – hiện đại hoá
Công ghiệp-Tiểu thủ công nghiệp
Chi phí trung gian
Dồn điền đổi thửa
Đồng bằng sông hồng
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giá trị ngày công
Giá trị sản xuất
Hội đồng nhân dân
Hiệu quả đồng vốn
Hệ thống sử dụng đất
Hợp tác xã
Khoa học kỹ thuật
Lúa xuân - lúa mùa
Nông thôn mới
Số thứ tự
Thu nhập hỗn hợp
Uỷ ban nhân dân


có nhiều thay đổi tích cực. Để đạt được các chỉ tiêu trong bộ tiêu chí NTM
nhiều dự án nhỏ đã được hoàn thành như: xây dựng trường mầm non, tu sửa
lại trường tiểu học, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp cho hội nông dân, làm
đường bê tông, thôn xóm cũng như bê tông hóa kênh mương nội đồng, tu bổ
lại chợ cũng như trạm y tế xã…..
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi
thế và chưa đồng đều giữa các vùng trong xã. Nông nghiệp phát triển còn kém bền
vững, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt các nguồn lực, chuyển giao khoa học
công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, năng
suất chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng còn thấp.
Từ những hạn chế trên của nền nông nghiệp chính quyền xã đã sớm có
những chính sách, chủ trương đúng đắn tạo điều kiện cho nền nông nghiệp xã
6


phát triển. Đáng nói nhất là chủ trương Dồn điền đổi thửa (DĐ ĐT), mạnh
dạn giao đất, giao rừng cho người lao động.
Tuy nhiên sau khi Dồn điền đổi thửa việc xác định những mô hình sử
dụng đất có hiệu quả nhằm nâng cao thu nhập cho người dân chưa thực sự
được quan tâm. Xuất phát từ thực tế đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền
đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới tại xã Đông Yên, huyện Quốc
Oai, TP. Hà Nội”

7


PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận

và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực
phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho
xuất khẩu.[7]
Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững. Sự
bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai
phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho
thế hệ tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi
trường. Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với
việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình
sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần
thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia.
2.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phân loại hiệu quả sử dụng đất
2.1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu
cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được chú ý hiện nay của hầu
hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà
khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà
còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất nông nghiệp.[16]
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa
mối quan hệ người – đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên khác và môi
trường. Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng,
vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó
nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh
tranh cao, đảm bảo sự thống nhất giữa các ngành, đó là một trong những điều
kiện tiên quyết để phát triển nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn
định và bền vững, đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới
9


10


đặt ra đối với mỗi vùng kinh tế, mỗi chủ thể sản xuất trong mọi xã hội.
Ba là:Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ
cho lợi ích của con người. Do những nhu cầu vật chất của con người ngày
càng tăng, vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi
nền sản xuất xã hội.
Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các
hoạt động kinh tế nhằm đạt mục tiêu với một lượng tài nguyên nhất định tạo
ra một khối lượng sản phẩm lớn nhất hoặc tạo ra một khối lượng sản phẩm
nhất định với chi phí tài nguyên ít nhất.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả
đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt
được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá
trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt
đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó.
Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao
là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư.
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: Với một diện tích
đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với
một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội.
Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế
và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ
tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh
bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao
động, xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao

lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm
thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu
đề ra.
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng
12


tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu
sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
Bên cạnh cách phân loại hiệu quả nói trên, người ta còn có thể căn cứ
vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế, căn cứ vào các yếu tố cơ bản về sản
xuất, phương hướng tác động vào sản xuất cả về mặt không gian và thời
gian... Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở bất cứ góc độ nào thì việc đánh giá hiệu
quả cũng phải xem xét về mặt không gian và thời gian, trong mối liên hệ
chung của toàn bộ nền kinh tế. Ở đó, hiệu quả bao gồm hiệu quả kinh tế, xã
hội và môi trường với một mối quan hệ mật thiết thống nhất và không thể tách
rời nhau.Có như vậy mới đảm bảo cho việc đánh giá hiệu quả được đầy đủ,
chính xác và toàn diện.
2.1.3 Dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới
Sau 3 năm thực hiện ( 2009-2011), chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới đã được triển khai và cơ bản đạt yêu cầu đề ra. Một
trong những mục tiêu quan trọng trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới là
vận động nông dân tiến hành dồn điển, đổi thửa, sắp xếp lại ruộng đồng. Đây
là khâu quan trọng để hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa ổn
định, lâu dài, là yếu tố quyết định thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Trong xây
dựng nông thôn mới, DĐĐT không phải là một tiêu chí. Tuy nhiên, với những
địa phương có diện tích đất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, bình
quân mỗi hộ dân sở hữu nhiều ô, thửa ruộng phân tán trên nhiều cánh đồng,
như hầu hết các xã của Hà Nội. Bước vào xây dựng nông thôn mới, nếu tiến
hành thành công công tác DĐĐT sẽ có tác động tích cực tới hầu hết 19 tiêu

yếu, đặc biệt là những lúc chính vụ như thu hoạch, gieo trồng....Từ đó các hộ
có điều kiện tập trung lao động sản xuất ở những lĩnh vực khác, cũng như
giúp hộ có cơ cấu thu nhập đa dạng từ nhiều nguồn hơn, giảm tối đa rủi ro
gặp phải khi điều kiện sản xuất nông nghiệp bất lợi dẫn tới mất mùa, năng
suất thấp.
Ruộng đất lớn tạo điều kiện cho các hộ có khát vọng nghiên cứu, tiếp
cận những giống cây trồng vật nuôi có năng suất chất lượng cao hơn, các hộ

14


có những điều kiện áp dụng những tiến bộ KHKT mới vào trong sản xuất tiết
kiệm chi phí đồng thời nâng cao thu nhập cho hộ.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thành tựu sử dụng đất sau DĐĐT của một số nước trên Thế Giới
Việc dồn điền đổi thửa được tiến hành lần đầu tiên trên Thế giới tại Châu
Âu vào thời Trung cổ.
a/ Tập trung ruộng đất ở Trung Quốc
Từ thời phong kiến đến nay, quyền sở hữu ruộng đất luôn là yếu tố trung
tâm trong mối quan hệ giữa chính quyền và nông dân Trung Quốc. Hiến pháp
Trung quốc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất
quản lý, nông dân chỉ có “ quyền sử dụng” đất nông nghiệp theo hợp đồng 30
năm. Quyền sử dụng đất thuộc sở hữu tập thể, nông dân không được chuyển
nhượng hoặc cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp. Điều đó có nghĩa là
chính quyền địa phương có thể thu hồi đất vào bất cứ lúc nào. Công nghiệp
hóa và đô thị hóa trong 30 năm qua đã làm cho hàng chục triệu nông dân bị
mất đất canh tác. Những cuộc biểu tình phản đối của nông dân bị mất đất là
nguyên nhân chính gây bất ổn xã hội ở Trung Quốc hiện nay.
Một thực tế là ruộng đất ở Trung Quốc rất manh mún, mỗi nông hộ sử
dụng một khoảnh đất nhỏ, bình quân 0,67 ha/hộ gia đình. Những nông dân ra

nông nghiệp đang được chính phủ Trung Quốc quan tâm chặt chẽ trong thời
gian gần đây, do một diện tích đất rất lớn đã bị đô thị hóa, chuyển đổi mục
đích sử dụng trong những năm công nghiệp hóa.
Hiện nay Trung Quốc tiếp tục chuẩn bị ra dự thảo cải cách ruộng đất
theo hướng tự do hóa thị trường và hạn điền sử dụng đất canh tác cho nông
dân từ 30 năm hiện nay lên 70 năm như với đất ở. Điều này sẽ tạo động lực
mới cho công cuộc tích tụ ruộng đất phát huy hiệu quả cao.
2/ Tập trung ruộng đất ở Đài Loan
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với nông nghiệp, có
ảnh hưởng lớn đến tăng năng suất lao động nông nghiệp. Chính sách ruộng
đất hợp lý sẽ khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tự nhiên này, nhất là
ở những nước mà nông nghiệp vị trí chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân. Ở
16


Đài Loan, đầu tiên chính phủ thực hiện chính sách giảm tô để giảm bớt gánh
nặng cho nông dân, sau đó đưa ra chính sách “ hạn điền” quy định số lượng
ruộng đất được phép tư hữu đối với các chủ đất. Số ruộng đất vượt mức hạn
điền được chính phủ định giá và tạo điều kiện về tín dụng cho nông dân mua
trả góp trong thời hạn dài. Chính sách giao đất cho nông dân còn được áp
dụng đối với cả đất thuộc sở hữu nhà nước. Vì vậy, người sản xuất nông
nghiệp gắn bó với ruộng đất, yên tâm đầu tư chủ động áp dụng khoa họccông nghệ nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Khi
nông nghiệp phát triển, ruộng đất hạn hẹp đã cản trở nông dân kinh doanh
lớn, chính phử đài loan đã đưa ra chủ trương khuyến khích nông dân “ chung
nhau kinh doanh”. “ủy thác kinh doanh”, “thay mặt kinh doanh”...v...v... để
tập trung ruộng đất đạt tới quy mô cần thiết của nông nghiệp hàng hóa, khai
thác có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên đất đai hạn hẹp, thúc đẩy tăng cường
nông nghiệp với tốc độ khoảng 4%/ năm trong suốt thời gian từ 1952-1981.
3/ Tập trung ruộng đất phát triển trang trại ở Hà Lan
Cơ sở của nền nông nghiệp Hà Lan là các trang trại gia đình theo chế độ

14.500, năm 1990 còn 12.500, năm 2000 chỉ còn khoảng 100.000. Số lao
động nông nghiệp từ 1959-1980 giảm được một nửa từ đó đã giảm nhanh số
lượng nông dân và lực lượng nông dân làm nông nghiệp không hiệu quả đều
dời khỏi nông nghiệp. Lặp lai trong nông nghiệp là lực lượng nông dân làm
ăn giỏi, đam mê với nghề nông, ham muốn lập nghiệp, làm giàu từ nghề nông.
Đây là một nguyên nhân quan trọng đẩm bảo hiệu quả sản xuất và năng lực
cạnh tranh của nông nghiệp Hà Lan hơn hẳn nhiều nước khác trên thế giới.
2.2.2 Sử dụng đất và DĐĐT ở Việt Nam
Nghị quyết 10-TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp (gọi tắt là “Khoán 10”) đã giúp Việt Nam từ nước nhập
khẩu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới.Tuy
nhiên, đến nay “Khoán 10” đã bộc lộ những hạn chế nhất định khi đất nước
bước vào công cuộc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Khảo sát của Viện
Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cho thấy 100% số hộ nông dân cho rằng
ruộng đất manh mún đã gây cản trở cho sản xuất.[20]
18


Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 27/09/1993 về việc giao đất nông
nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài với mục đích sản
xuất nông nghiệp theo phương châm có tốt, có xấu, có gần, có xa. Điều này
đã làm cho số thửa ruộng tăng lên đáng kể. Theo số liệu của Tổng cục Địa
chính năm 1998, bình quân một hộ vùng đồng bằng sông Hồng có khoảng 7
thửa trong khi ở vùng núi phía Bắc, con số này còn cao hơn từ 10 - 20 thửa.
Số liệu điều tra từ 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất
năm 1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa. Vào năm 1998, Chính phủ đã đề ra
chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những
thửa có diện tích lớn hơn. Từ đó, các tỉnh trên miền Bắc, đặc biệt là vùng
Đồng bằng sông Hồng đã thành lập các Hội đồng thực hiện thí điểm công tác
“Dồn điền đổi thửa”. Theo báo cáo trên toàn quốc khoảng 700 xã ở 20 tỉnh đã

rộng 4,5m. Cứ cách 500m có một điểm tránh xe, bờ thửa rộng 2,5m, đủ tiêu
chuẩn để cho máy gặt đập liên hợp hoạt động. Dọc bờ vùng, bờ thửa có
mương tưới tiêu nước và thuận lợi cho việc sử dụng cơ giới vào sản xuất. Đây
là điều kiện thuận lợi để xây dựng và thực hiện cánh đồng mẫu lớn; là điều
kiện tốt để các tập thể, cá nhân mạnh dạn đầu tư vốn để mua máy móc phục
vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần làm giảm chi phí, tăng năng suất lao động,
hạ giá thành sản phẩm. Qua thực tế ở các xã đã dồn điền đổi thửa, chỉnh trang
nội đồng, máy móc, cơ giới được đầu tư, nên khâu làm đất đạt 100%, vận
chuyển đạt 100%, gặt khoảng 80%, bơm nước 100%.
Tại tỉnh Nam Định, tính đến hết quý I năm 2013 đã có 132/209 xã thực
hiện xong công tác dồn điền đổi thửa. Các xã, thị trấnđã kết hợp DĐĐT với
chỉnh trang, kiến thiết đồng ruộng, làm giao thông và thủy lợi nội đồng; hình
thành các vùng sản xuất tập trung; cơ bản quy gọn được quỹ đất công; giảm
số thửa bình quân (từ 3,27 xuống còn 1,5 - 2,5 thửa/hộ; nhiều xã 75 – 80% số
hộ chỉ còn 1 thửa/hộ); đặc biệt sau 2 năm đã vận động các hộ nông dân góp
được trên 1.000 ha đất, đắp được được gần 2.000 km đường giao thông nội
đồng. Sau DĐĐT hầu hết các xã, thị trấn đã xây dựng kế hoạch từng bước tổ
chức sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn. Các huyện chỉ đạo, triển khai
tốt, cơ bản hoàn thành công tác DĐĐT trong năm 2012 là: Giao Thủy, Xuân
20


Trường, Nghĩa Hưng, Trực Ninh.[25]
Tại Thủ Đô Hà Nội: Thực hiện Chương trình số 02 – CT/TU ngày
29/8/2011 của Thành uỷ về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới
từng bước nâng cao đời sống nhân dân giai đoạn 2011 – 2015”. UBND thành
phố đã xây dựng kế hoạch số 171/KH-UBND ngày 13/11/2013 về việc thực hiện
dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp năm 2012 – 2014. Theo báo điện tử
Đảng cộng sản Việt Nam ngày 02/7/2014: “Tổng diện tích đất nông nghiệp cần
thực hiện dồn điền đổi thửa tại thành phố là 76.365,07 ha. Đến hết quý I năm

tích đất tự nhiên toàn vùng. Trong đó có gần 90% đất nông nghiệp dùng để
trồng trọt (Dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng, 1994). Vì vậy,
đây là nơi thu hút nhiều công trình nghiên cứu khoa học, góp phần định
hướng cho việc xây dựng các hệ thống cây trồng và sử dụng đất thích hợp.
Trong đó phải kể đến các công trình như: nghiên cứu đưa cây lúa xuân đã tạo
ra sự chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông
Hồng (Ngô Thế Dân, 2001); Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để
tăng vụ, gối vụ, trồng xen để sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu
(Nguyễn Điền 2001); Hiệu quả sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông
Hồng huyện Mỹ Văn -Tỉnh Hải Hưng của tác giả Vũ Thị Bình,1993; Đánh giá
kinh tế đất lúa vùng ĐBSH của tác giả Quyền Đình Hà,1993; Quy hoạch sử
dụng đất vùng ĐBSH của tác giả Phùng Văn Phúc,1996.
Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ
thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do Đào Thế Tuấn chủ trì và hệ
thống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long do Nguyễn Văn Luật chủ trì
cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những
giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng
đất đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Chương trình đồng trũng 1985 – 1987 do Ủy ban kế hoạch Nhà nước
chủ trì, chương trình bản đồ canh tác 1988 – 1990 do Ủy ban khoa học Nhà
nước chủ trì cũng đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và
phân bón có hiệu quả trên các chân ruộng vùng úng trũng đồng bằng sông
Hồng, góp phần làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng các vùng sinh thái
22


khác nhau.
Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì
đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như
vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quả cây

thực hiện trên phạm vi vùng không gian rộng, cho nên tính thực tiễn của nó chưa
cao. Do vậy, trong thời gian tới cần phải có những nghiên cứu về đất và sử dụng
đất mang tính cụ thể hơn, thực tiễn hơn cho từng địa phương (cấp xã, cụm xã,
cấp huyện), có như vậy thì mới mang lại hiệu quả cao trong sử dụng đất .

24


PHẦN 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa trong
sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại điểm nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp tại điểm nghiên cứu.
3.2 Yêu cầu của đề tài
- Nắm được tình trạng dồn điền đổi thửa tại điểm nghiên cứu.
- Xác định được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa
tại điểm nghiên cứu.
3.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đất nông nghiệp tại điểm nghiên cứu
- Thực trạng dồn điền đổi thửa tại điểm nghiên cứu
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại điểm nghiên cứu
- Hiệu quả của các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp tại điểm nghiên
cứu.
3.4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian : Từ khi bắt đầu công tác dồn điền đổi thửa (từ năm
2009 đến nay).
- Phạm vi không gian : địa bàn xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
3.5 Nội dung nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status