MỤC LỤC
MỤC LỤC I
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT III
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU IV
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 2
2.1. Mục đích 2
2.2. Yêu cầu 2
2.3. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Sản xuất nông nghiệp và hướng phát triển sản xuất trên thế giới và ở
Việt Nam 4
1.1.1 Tổng quát về tình hình và những phương hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình sản xuất và sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam 6
1.2 Những hệ thống nông nghiệp và hệ thống sử dụng đất thích hợp ở Việt
Nam 11
1.2.1 Một số đặc trưng của hệ thống cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 11
1.2.2 Nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp và các hệ thống sử dụng đất thích hợp ở Việt Nam 12
1.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm phát triển bền vững 14
1.3.1 Sự cần thiết phải sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm phát triển bền vững 14
1.3.2 Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững 16
1.4 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 19
1.4.1. Khái niệm về sản xuất nông nghiệp 19
1.4.2 Một số định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở Việt Nam 20
1.4.3 Thực trạng, thách thức và giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam 22
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Phạm vi nghiên cứu 32
2.2 . Nội dung nghiên cứu 32
1. Kết luận 88
2. Kiến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC I
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật
CPSX Chi phí sản xuất
TCP Tổng chi phí
CLĐ Công lao động
CVĐ Cây vụ đông
CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
DV-TM Dịch vụ - Thương mại
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
HTX Hợp tác xã
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTTS Nuôi trồng thủy sản
LUT Loại hình sử dụng đất
LUS Hệ thống sử dụng đất
KHKT Khoa học kỹ thuật
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GTSX Giá trị sản xuất
SP Sản phẩm
SXNN Sản xuất nông nghiệp
FAO Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới.
Tr.đ Triệu đồng
UBND Ủy ban nhân dân
VAC Vườn, ao, chuồng
WTO Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1: Tỷ trọng các ngành kinh tế của huyện giai đoạn 2005 - 2012 43
manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất chất lượng còn chưa cao, khả năng hợp
tác, liên kết cạnh tranh trên thị trường và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng
hóa còn yếu. Diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp do sức ép của
quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là hướng đi hết
sức cần thiết nhằm tạo ra hiệu quả cao về kinh tế đồng thời tạo ra tính đột phá
cho phát triển nông nghiệp của từng địa phương cũng như cả nước.
Bắc Quang là một huyện phía Nam tỉnh Hà Giang, có diện tích đất tự
nhiên 109.873,69 ha, trong đó đất nông nghiệp 97.610,79 ha, chiếm 88,84%
diện tích đất tự nhiên. Đất đai của huyện tương đối màu mỡ phù hợp với
nhiều loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng được nhu cầu của kinh
tế thị trường mở cửa hiện nay. Huyện là một vành đai quan trọng trong cung
cấp lương thực, thực phẩm và nhiều loại sản phẩm nông nghiệp khác đáp ứng
tiêu dùng ngày một cao của thị trường tiêu dùng một số huyện lân cận. Với xu
1
thế công nghiệp hoá, đô thị hoá, Bắc Quang là một trong những huyện diễn ra
mạnh mẽ trong tỉnh làm cho diện tích sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm
nhanh chóng trong khi nhu cầu lương thực ngày càng lớn và thị hiếu người
tiêu dùng ngày càng thay đổi theo hướng chất lượng ngày càng cao, chủng
loại ngày càng đa dạng, đòi hỏi việc sản xuất vừa phải mở rộng quy mô vừa
phải thâm canh đi đôi với ứng dụng một số công nghệ cao.
Do vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hóa cho các nông hộ là hướng đi hết sức cần thiết cho mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội của huyện, đồng thời giải quyết được yêu cầu của thị trường
tiêu thụ trong thời gian tới. Từ những lý do nêu trên với sự hướng dẫn của cô
giáo: PGS.TS. Đỗ Thị Lan tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Bắc Quang - Tỉnh Hà
Giang”
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
nông nghiệp trên thế giới
1.1.1.1. Tổng quát về tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Nông nghiệp là một ngành sản xuất chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ
cấu kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt ở các nước đang phát
triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm
cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia.
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) [26], tổng sản lượng lương
thực sản xuất hiện tại chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới,
tuy nhiên sản lượng sản xuất ra có sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai
thác được 1,5 tỉ ha; còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều
khó khăn. Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm
35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu
Đại Dương chiếm 6% [24].
Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và
tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong điều
kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ
sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón.
Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi
trường. Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới [33], cho thấy gần 20% diện tích
đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người. Trong đó hoạt
động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất.
4
1.1.1.2. Những phương hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật (1995) [6], trên con đường phát triển nông
nghiệp, mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng
phải giải quyết vấn đề chung sau:
- Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong
nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư;
- Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình
đã có những chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp; Ấn Độ kể từ thập kỷ
80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh lương thực thì các chính
sách phát triển nông nghiệp của chính phủ cũng chuyển sang đẩy mạnh
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều cây trồng
ngoài lương thực
1.1.2 Tình hình sản xuất và sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn, khái niệm và đánh giá đất, phân
hạng đất đã có từ lâu đời ở nước ta nhằm phục vụ cho việc quản lý đất đai và sản
xuất. Trong thời kỳ phong kiến đã tiến hành phân hạng ruộng đất nhằm phục vụ
chính sách quản điền và tô thuế. Thời kỳ phong kiến, thực dân, để tiến hành thu
thuế đất đai, đã có sự phân chia ruộng đất thành “tứ hạng điền, lục hạng thổ”.
Sau tháng 7/1954 đất nước bị chia cắt, do vậy công trình nghiên cứu
nói chung được thực hiện riêng lẻ trên từng miền.
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu ở miền Bắc.
- Năm 1963 “Các quá trình thổ nhưỡng ở miền Bắc Việt Nam” đã được
V.M.Fridland, Lê Duy Thước thực hiện và công bố tại Maxcơva.
- Năm 1972 – 1974 Vũ Cao Thái, Bùi Quang Toàn đã tiến hành phân
hạng đất cấp huyện và cấp xã tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình.
- Năm 1975 V.M.Fridland cùng với các nhà khoa học Việt Nam: Vũ
Ngọc Tuyên, Tôn Thất Chiểu, Đỗ ánh, Trần Vân Nam, Nguyễn Văn Dũng đã
6
tiến hành khảo sát và xây dựng sơ đồ thổ những miền Bắc Viêt Nam (tỷ lệ
1:1000.000) xây dựng sơ đồ thổ những miền Bắc Việt Nam.
- Ban biên tập bản đồ đất Việt đã biên soạn được bản đồ miền Bắc Việt
Nam (tỷ lệ: 1:500.000) tổng kết quá trình điều tra từ cấp tỉnh, huyện và các
nông trường và trạm trại (Cao Liêm, Đỗ Đình Thuận, Nguyễn Bá Nhuận).
- V.M.Fridland tập hợp các kết quả nghiên cứu đất Việt Nam trong
cuốn “Đất và vỏ phong hoá nhiệt đới Việt Nam” được dịch ra tiếng việt năm
1973, đây được xem là tài liệu mô tả đầy đủ nhất về đặc điểm và qui mô của
tài nguyên đất vùng đồng bằng sông Hồng.
Nam (Bùi Quang Toản và nhóm nghiên cứu, 1995) đã áp dụng và phân loại khả
năng của FAO. Tuy nhiên, chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thuỷ
văn, tưới tiêu, khí hậu nông nghiệp). Trong nghiên cứu này, hệ thống phân vị chỉ
dừng lại ở lớp (class) thích hợp cho từng loại hình sử dụng đất.
Các nhà khoa học đất với các nhà qui hoạch sử dụng đất, quản lý đất
đai ở nước ta đã tiếp thu nhanh chóng tài liệu đánh giá đất đai của FAO,
những kinh nghiệp của các chuyên gia đánh giá đất quốc tế để ứng dụng từng
bước cho công tác đánh giá đất ở Việt Nam.
Ở đồng bằng sông Cửu Long một số nghiên cứu chuyên đề ở khu vực
nhỏ đã bước đầu ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO
(Lê Quang Trí, 1989, Trần Kim Tính, 1986).
Từ năm 1990 viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp đã thực hiện nhiều
công trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh
thái và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư. Nguyễn Khang, Phạm
Dương Ưng (1994) với “Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt
Nam”. Nguyễn Công Pho (1995) với “Đánh giá đất vùng Đồng bằng Sông
Hồng”, Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân “Đánh giá đất vùng dự án đa mục
tiêu E.A.Soup”, Nguyễn Chiến Thắng, Cẩn Tiển (1997) “Đánh giá đất tỉnh
8
Bình Định”, Nguyễn Văn Nhân (1995) “Đánh giá khả năng và sử dụng đất
vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”.
Hàng loạt các dự án nghiên cứu, các chương trình thử nghiệm ứng dụng
qui trình đánh giá đất đai theo FAO được tiến hành ở cấp từ vùng sinh thái
đến tỉnh, huyện và tổng hợp thành cấp quốc gia đã được triển khai từ Bắc tới
Nam và đã thu được kết quả khả quan, các nhà khoa học đất trên toàn quốc đã
hoàn thành các nghiên cứ đánh giá đất phục vụ cho quy hoạch tổng thể và quy
hoạch sử dụng đất ở các vùng sinh thái lớn.
- Vùng đồng bằng sông Hồng với những công trình nghiên cứu có kết quả
đã công bố của tác giả: Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995, Cao Liêm, Vũ
Thị Bình, Quyền Đinh Hà (1992 – 1993), Phạm Văn Lang (1992). Trong
hợp đất đai ở Việt Nam hiện nay là cần thiết nhằm điều tra phân hạng và định
hướng sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất một cách hữu hiệu gắn với
quan điểm sinh thái bền vững và bảo vệ môi trường. Các kết quả bước đầu
của các hoạt động đánh giá đất đai trong thời gian qua với sự hỗ trợ và giúp
đỡ tích cực của các cơ quan nhà nước và quốc tế đã và đang góp phần hoàn
thiện quy trình đánh giá đất của Việt Nam.
Sử dụng đất nông nghiệp được đặt ra và xúc tiến năm 1962 do ngành
nông nghiệp chủ trì và được lồng vào các công tác phân vùng sử dụng đất
nông, lâm nghiệp nhưng lại thiếu sự phối hợp của các ngành có liên quan. Kết
quả là xác định phương pháp phát triển nông lâm nghiệp cho vùng lãnh thổ
thường chỉ đạo ngành chủ quản thông qua.
Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ngày càng được Nhà nước quan tâm
và chỉ đạo một cách sát sao bằng các văn bản pháp luật và coi như là một luận
chứng cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
10
1.2 Những hệ thống nông nghiệp và hệ thống sử dụng đất thích hợp ở
Việt Nam
1.2.1 Một số đặc trưng của hệ thống cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông
nghiệp ở Việt Nam
Hệ thống cây trồng, vật nuôi mang tính khách quan và được hình thành
do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội.
Hệ thống cây trồng, vật nuôi phải đảm bảo các mối quan hệ cân đối và
đồng bộ giữa các bộ phận trong một tổng thể, mà tổng thể đó là một hệ thống
lớn bao trùm những hệ thống nhỏ, mỗi hệ thống nhỏ lại bao gồm nhiều hệ
thống nhỏ hơn gắn bó với nhau một cách chặt chẽ trong mối quan hệ cân đối
và đồng bộ.
Hệ thống cây trồng, vật nuôi không ngừng vận động, biến đổi và phát
triển theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn, mở rộng hơn và có hiệu quả hơn.
Quá trình vận động, biến đổi chính là quá trình điều chỉnh, chuyển dịch cơ cấu
cây trồng, vật nuôi.
chọn hệ thống cây trồng thích hợp [6].
1.2.2 Nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp và các hệ thống sử dụng đất
thích hợp ở Việt Nam
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm Châu Á có nhiều thuận lợi cho phát
triển sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên nguồn đất có hạn, dân số lại đông, bình
quân đất tự nhiên trên người là 0,45 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế
giới, xếp thứ 135 trên thế giới, xếp thứ 9/10 nước Đông Nam Á. Mặt khác,
dân số lại tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên người sẽ tiếp tục
giảm. Tốc độ tăng dân số bình quân trên năm là 2,0%. Theo dự kiến nếu tốc
độ tăng dân số là 1,0 -1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người
vào năm 2015 [14]. Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp có chiều hướng
giảm nhanh do chuyển mục đích sử dụng phục vụ cho công cuộc CNH - HĐH
12
đất nước. Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần
thiết đối với Việt Nam trong những năm tới [15].
Thực tế những năm qua chúng ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề
về kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên
cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây
trồng mới ngắn ngày có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng phù hợp với
từng loại đất, thực hiện thâm canh trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất. Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công
trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và
Phạm Dương Ưng (1993) [16], đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan
điểm sinh thái và phát triển lâu bền của Trần Anh Phong (1995) [10].
Vùng ĐBSH có tổng diện tích đất nông nghiệp là 903.650 ha, chiếm
44%, diện tích tự nhiên trong vùng. Trong đó, gần 90% đất nông nghiệp dùng
để trồng trọt . Đây là trung tâm sản xuất lương thực lớn thứ 2 của cả nước, là
nơi thu hút nhiều công trình nghiên cứu khoa học, góp phần định hướng cho
việc xây dựng các hệ thống cây trồng và sử dụng đất thích hợp. Ở vùng Đồng
bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3-4 vụ một năm
nghiên cứu các giải pháp khắc phục để hình thành một hệ thống sử dụng đất
nông nghiệp tiến bộ và bền vững hơn.
1.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm phát triển bền vững
1.3.1 Sự cần thiết phải sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm phát triển
bền vững
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý báu không chỉ trong hiện tại mà cả
tương lai. Khi dân số trên trái đất còn ít thì diện tích đất luôn đáp ứng một cách
dễ dàng nhu cầu của con người và con người cũng ít tác động lớn đến tài nguyên
quý báu này.
Đất đai có những tác dụng to lớn đối với hệ sinh thái nói chung và cuộc
14
sống của con người nói riêng. Theo E. R De Kimpe và B. F Warkentin (1998)
[25] thì đất có
5 chức năng chính:
+ Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá và địa hoá học.
+ Phân phối nước.
+ Dự trữ và phân phối vật chất.
+ Tính đệm.
+ Phân phối năng lượng.
Những chức năng trên đảm bảo cho khả năng điều chỉnh sự cân bằng
của hệ sinh thái tự nhiên trước những thay đổi trong quá trình sử dụng đất đai
con người đã không chỉ tác động vào đất đai mà còn tác động vào khí quyển,
để tạo thành ngày một nhiều hơn lương thực, thực phẩm và hậu quả là đất đai
và các nhân tố tự nhiên khác bị suy thoái ngày một theo chiều hướng xấu đi.
Vì vậy cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để duy trì khả năng hiện
có của đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở hiện tại và tương lai.
Theo tài liệu của FAO/UNESCO [25]: trên thế giới hàng năm có
khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do tác động con người, trong đó
suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện
tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích. Ở Trung Quốc, diện
khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm. Thuật ngữ “sử dụng đất bền
vững” (Sustainable Land Use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay.
Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để tạo môi trường bền
vững cho cuộc sống của con người. Mục đích của nông nghiệp bền vững là
xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả
năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không
16
làm ô nhiễm môi trường. Nông nghiệp bền vững phải coi thiên nhiên là môi
trường lý tưởng để phát triển một cách hoà hợp với thiên nhiên.
Hệ thống canh tác lấy năng lượng, nguyên liệu từ môi trường, nếu khai
thác cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo được, hoặc khai thác quá khả
năng phục hồi của nguồn tài nguyên này sẽ dẫn đến không còn nguyên liệu,
năng lượng. Phải loại bỏ khả năng sản xuất hoặc triệt tiêu hệ thống canh tác.
Do vậy khi bố trí các hệ thống canh tác các nhà khoa học bao giờ cũng phải
cân nhắc đến hiệu quả kinh tế và môi trường.
Không có ai hiểu biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính
những người sinh ra và lớn lên ở đó. Vì vậy, xây dựng nông nghiệp bền vững
cần thiết phải có sự tham gia của người nông dân trong vùng nghiên cứu. Phát
triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định
hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức hợp lý để
đạt đến sự thoả mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người, của
những thế hệ hôm nay và mai sau [23].
FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
- Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương
lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác.
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm
việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp.
- Duy trì và tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên
thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà
không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở cân bằng tự nhiên,
đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên.
+ Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời
sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
18
Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức
đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau. Vì vậy khái niệm sử dụng đất bền
vững thể hiện nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên nhiều vùng đất
xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người. Đất đai trong sản
xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các
chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách
ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và
việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con
người và sinh vật.
Ở Việt Nam nền văn minh lúa nước đã hình thành từ hàng ngàn năm nay,
có thể coi là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thích hợp
trong điều kiện thiên nhiên ở nước ta. Gần đây, những mô hình sử dụng đất như
VAC (vườn, ao, chuồng), mô hình nông - lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là
những kinh nghiệm truyền thống được đúc rút ra từ quá trình lao động sản xuất
lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển.
1.4 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
1.4.1. Khái niệm về sản xuất nông nghiệp
- Đối với nông dân, những sản phẩm được bán ra ngoài thì gọi là sản
phẩm hàng hóa.
- Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức hàng hóa sản xuất được bán ra thị
trường dưới 50% gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hóa một phần, nếu trên
50% gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hóa ( sản xuất theo hướng hàng hóa).
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động dùng để trao đổi, Sản xuất hàng
hóa là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu về giá trị của nó trong đó có phần
giá trị thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô. Hàng hóa là sản phẩm do
lao động tạo ra, dùng để trao đổi, sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển dựa
20