ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Thị Khánh Hà
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN M
ỚI
TẠI XÃ MINH KHAI – HUYỆN HOÀI ĐỨC – TP. HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2012 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS
Trần Văn Tuấn, người thầy đã dìu dắt tôi trong suốt khoảng thời gian tôi đang là
sinh viên của Khoa Địa Lý - Trường Đại học Khoa học tự nhiên; học viên cao học
và là người đã tận tình chỉ báo, hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận
văn. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo UBND –HĐND xã Minh Khai,
các đồng chí phòng địa chính của xã Minh Khai, xã Yên Sở; cùng các các đồng chí
cán bộ thuộc Văn phòng UBND –HĐND Huyện Hoài Đức, phòng Tài nguyên môi
trường Huyện đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm, thu thập tài liệu và
đóng góp ý kiến trong quá trình hoàn thiện luận văn. Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình và bạn bè đã luôn sát cánh động viên, cổ vũ tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn dưới đây.
Tôi xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ
CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI 4
1.1 Quy hoạch sử dụng đất 4
3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới của xã
Minh Khai giai đoạn 2010 – 2020 46
3.1.1 Mục tiêu chung 46
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 46
3.2 Dự báo nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích phát triển nói chung và xây
dựng nông thôn mới của xã Minh Khai 48
3.2.1 Dự báo dân số 48
3.2.2 Dự báo nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp 49
3.3 Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất gắn với chương trình nông
thôn mới xã Minh Khai 52
3.3.1 Đất nông nghiệp 52
3.3.2 Đất phi nông nghiệp 53
3.4 Đánh giá hiệu quả phương án quy hoạch sử dụng đất gắn với chương trình
nông thôn mới 56
3.5 Đánh giá hiệu quả mô hình đề xuất và khả năng sử dụng quy trình,
phương pháp xây dựng phương án quy hoạch cho các xã khác có điều kiện
tương tự ở huyện Hoài Đức 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 64 DANH MỤC HÌNH, BẢNG
Hình 1.1: Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch khác 8
Hình 1.2: Đồ án nông thôn mới, [6] 17
Hình 1.3: Sơ đồ quy trình xây dựng quy hoạch sử dụng đất cấp xã 18
Hình 1.4: Sơ đồ đề xuất quy trình xây dựng quy hoạch sử dụng đất cấp x
ã
gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới 19
trong quy hoạch phát triển, đa số chỉ tập trung vào một số vấn đề đơn lẻ như ô
nhiễm môi trường tại các làng nghề, quy hoạch đất nông nghiệp, … mà chưa đề cập
tới sự phát triển toàn diện của khu vực nông thôn, điều này đã dẫn tới thực tế, nông
thôn Việt Nam đang ngày càng có một khoảng cách dài so với khu vực đô thị.
Từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung Ương Đảng
ngày 05/08/2008 đến Quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban
hành ngày 19/4/2009 về "Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” bao gồm 19 tiêu
chí và được chia thành 5 nhóm: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế - xã
hội; kinh tế và tổ chức sản xuất; văn hóa - xã hội - môi trường và về hệ thống chính
trị, có thể nói nông thôn nước ta một lần nữa đã được tập trung đẩy mạnh xây dựng
và phát triển. Song đây cũng là một thách thức khi công tác xây dựng nông thôn
mới là hoàn toàn mới cả về lý thuyết và thực tiễn.
Tìm hiểu về chương trình nông thôn mới, một vấn đề được các cấp lãnh đạo
hết sức quan tâm, tiêu chí hàng đầu trong xây dựng nông thôn mới là công tác quy
hoạch bao gồm quy hoạch sử dụng đất – quy hoạch sản xuất – quy hoạch xây dựng.
Vậy mối quan hệ thực chất của nông thôn mới và công tác quy hoạch sử dụng đất là
gì? Phải làm gì để gắn nông thôn mới với quy hoạch sử dụng đất? Trước vấn đề trên
báo cáo đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Xây dựng mô hình quy hoạch sử dụng đất
gắn với chương trình nông thôn mới tại xã Minh Khai – Huyện Hoài Đức –
TP.Hà Nội”
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ của luận văn học viên đặt ra mục tiêu nghiên cứu: 2
+ Nghiên cứu cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất gắn với chương
trình xây dựng nông thôn mới.
+ Xây dựng mô hình quy hoạch sử dụng đất gắn với chương trình nông thôn
mới tại xã Minh Khai – Huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về quy hoạch sử dụng đất và chương trình nông
thôn mới
Chương 2: Hiện trạng sử dụng đất, công tác quy hoạch sử dụng đất và
đề án xây dựng nông thôn mới xã Minh Khai – Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Chương 3: Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất gắn với chương
trình nông thôn mới tại xã Minh Khai
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ
CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI
1.1 Quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
a. Khái niệm:
Về mặt thuật ngữ, “quy hoạch” là việc là xác định một cách trật tự nhất định
như phân bổ, bố trí, tổ chức, sắp xếp, “đất đai” là một phần của lãnh thổ nhất định
có vị trí hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành, tạo ra
những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.
Quy hoạch sử dụng đất theo nghĩa thông thường: là sự phân bổ, bố trí đất đai
cho các mục đích phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước và
từng địa phương trong một giai đoạn nhất định trong tương lai.
Mặt khác, việc phân bổ và bố trí đất đai phục vụ mục đích phát triển kinh tế -
xã hội, an ninh quốc phòng cần dựa trên những thuộc tính tự nhiên, vị trí, diện tích
đất đai được sử dụng mà hiệu quả sử dụng đất được thể hiện chính ở hiệu quả kinh
tế - xã hội – môi trường.
Quy hoạch sử dụng đất theo nghĩa rộng có thể được hiểu là một hệ thống các
- Tính khả biến: quy hoạch sử dụng đất có thể thay đổi theo nhu cầu và sự
phát triển của kinh tế xã hội theo thời gian do đó cần có sự chỉnh lý, hoàn thiện các
giải pháp và điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với thực tế của từng địa phương
trong từng giai đoạn cụ thể.
1.1.2 Vai trò của quy hoạch sử dụng đất.
Như vậy về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các
quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích
cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ
chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản
xuất của xã hội, kết hợp bảo vệ đất và môi trường. 6
Việc lập quy hoạch sử dụng đất với có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự
phát triển kinh tế xã hội lâu dài cũng như trước mắt của một nền kinh tế.
Dựa trên những đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội, quy hoạch sử
dụng đất định hướng sự phát triển lâu dài của một khu vực theo hướng thuận lợi khi
sử dụng triệt để những thuận lợi, hạn chế và khắc phục tối đa nhưng khó khăn của
khu vực đó – xác lập ổn định tính pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Cũng với những căn cứ trên sẽ là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền quyết định
việc giao đất, đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh phục vụ nhu cầu của
nhân dân.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất là công cụ của nhà nước nhằm tổ chức việc
sử dụng đất đai một cách hiệu quả, hợp lý; hạn chế tối đa việc sử dụng đất trái mục
đích - tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, đặc biệt đối với đất nông nghiệp chuyên
trồng lúa nước. Không những thế, khi quy hoạch sử dụng đất được thực hiện
nghiêm túc còn ngăn ngừa được các vấn đề tiêu cực như tranh chấp, lấn chiếm đất
đai làm hủy hoại, phá vỡ, gây ô nhiễm môi trường.
Trên cơ sở phân hạng, bố trí đất đai, quy hoạch sử dụng đất tạo điều kiện cho
hoạch tổng thể kinh tế-xã hội xây dựng lên giúp cho quy hoạch sử dụng đất đai
cũng như các quy họach khác thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả cao.
Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một bộ phận của quy hoạch tổng thể kinh
tế xã hội. Quy hoạch sử dụng đất căn cứ vào bộ khung của quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế xã hội đã vạch ra sẵn, để cụ thể hoá và chi tiết hoá các chi tiết các nhân
tố của quy hoạch tổng thể. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đã xác định
rõ quy mô, địa điểm và phương hướng hoạt động của tùng vùng, từng lĩnh vực. Tuy
nhiên, để quy hoạch sử dụng đất đai đạt tính hiệu quả cao, các nhà quy hoạch không
chỉ căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, căn cứ pháp lý của quy
hoạch sử dụng đất mà còn phải căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất và tiềm năng sử
dụng đất đai của từng địa phương: tổng quỹ đất tự nhiên, quỹ đất cho phất triển các
ngành, các vùng và tất cả các thành phần kinh tế quốc dân. Việc quy hoạch sử dụng
đất phải dựa trên những số liệu thực tế của quá trình sử dụng đất để biết, để đánh
giá chỗ nào là quy mô thích hợp, chưa thích hợp, sử dụng đất chưa hợp lý, chưa tiết
kiệm, phát hiện ra nhũng vùng, các thành phần có khả năng mở rộng quy mô trong
tương lai. Lấy nó làm căn cứ, làm cơ sở cho việc bố trí, sắp xếp và phân bố đất đai 8
sao cho đầy đủ, hợp lý và tiết kiệm cao nhất. Từ đó có được những thông tin về điều
kiện thuận lợi cũng như khó khăn, những vấn đề đạt được và chưa đạt được trong
quá trình sử dụng đất để đưa ra những quyết định quy hoạch cụ thể.
1.3.1.2 Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai.
Điều 23 Luật đất đai 2003 quy định:
a) Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai;
b) Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch;
c) Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh;
ạch bảo
tồn vùng đất
ngập nước
Quy ho
ạch hệ
thống cơ sở hạ
t
ầng
Quy đ
ịnh về bảo vệ t
ài
nguyên môi trường
Khai thác s
ử
dụng tài nguyên
nư
ớc
Quy ho
ạch hệ
thống du lịch
Quy ho
ạch xây
dựng đô thị,
KCN
Quy hoạch
sử dụng đất
10
đai được tiến hành nhằm xác định chiến lược dài hạn về vị trí, quy mô và cơ cấu sử
dụng toàn bộ đất đai như bố cục không gian trong khu vực quy hoạch đô thị.
Quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất công nghiệp có mối quan hệ diện
và điểm, cục bộ và toàn bộ. Sự bố cục, quy mô sử dụng đất, các chỉ tiêu chiếm đất
xây dựng , trong quy hoạch đô thị sẽ được điều hoà với quy hoạch sử dụng đất đai.
Quy hoạch sử dụng đất đai sẽ tạo điều kiện tốt cho xây dựng và phát triển đô thị.
Mặt khác, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội là tài liệu mang tính
khoa học, sau khi được phê duyệt sẽ mang tính chiến lược chỉ đạo sự phát triển kinh
tế xã hội, được luận chứng bằng nhiều phương án kinh tế - xã hội về phát triển và
phân bố lực lượng sản xuất theo không gian có tính đến chuyên môn hoá và phát
triển tổng hợp sản xuất của các vùng và các đơn vị cấp dưới.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một trong những tài liệu tiền
kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội. Trong đó, có đề cập đến dự kiến sử dụng đất đai ở mức độ phương hướng
với một nhiệm vụ chủ yếu. Còn đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai là tài
nguyên đất. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là căn cứ vào yêu cầu của phát triển kinh tế và
các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội điều chỉnh cơ cấu và phương hướng sử dụng
đất, xây dựng phương án quy hoạch phân phối sử dụng đất đai thống nhất và hợp lý.
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành,
cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, nhưng nội dung của nó phải
được điều hoà thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cùng các
quy hoạch khác có liên quan.
1.2 Chương trình xây dựng nông thôn mới.
1.2.1 Khái niệm nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn mới
Nông thôn:
Có nhiều cách định nghĩa khái niệm nông thôn khác nhau, đứng trên góc nhìn
thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn
hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời
sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. 12
Theo đó, đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới và đạt
50% vào năm 2020 (theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới).
Nội dung:
Đây là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh
quốc phòng trên địa bàn nông thôn toàn quốc, gồm 11 nội dung: Quy hoạch xây
dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát
triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát
triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục -
đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; Xây
dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; Cấp nước sạch và vệ
sinh môi trường nông thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn
thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn.
o Về kinh tế, nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường và
giao lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải
hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán.
- Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi
người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều
chỉnh, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa
các vùng, giữa nông thôn và thành thị.
- Hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác
xã theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng
tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh
là một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống
nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua hương ước,
lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước). Quản lý của Nhà nước và tự quản
của nông dân được kết hợp hài hoà nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế nông thôn.
Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống
và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời. 14
Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du
lịch được khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được
khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học ; cơ cấu kinh tế nông
thôn phát triển hài hoà, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế.
Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất. Các chủ thể nông thôn
(lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, nhà
nước, tư nhân…) có khả năng, điều kiện và trình độ để tham gia tích cực vào các
quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch,
thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng. Người
nông dân thực sự “được tự do và quyết định trên luống cày và thửa ruộng của
mình”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương
theo đúng chủ trương đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng lên, sức
lao động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng được phát huy. Đó chính là sức
mạnh nội sinh của làng xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, vừa tự hoàn
thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, vừa góp phần xây dựng
quê hương văn minh giàu đẹp.
thịt không chỉ trên bề mặt cơ sơ vật chất mà chính từ trong thu nhập của nông dân
từ năm đầu đổi mới tới 8 năm sau khi thực hiện chương trình ( thu nhập bình quân
của nông dân đã tăng gấp 3 lần từ năm 1972 - 1977). Tại Việt Nam đây, công tác
này đã được đúc kết thành câu nói ”nhà nước và nhân dân cùng làm” song thực tế
thực hiện còn nhiều bất cập, chưa đạt hiệu quả như mục đích và mong muốn khi bắt
đầu thực hiện khi người dân chưa thực sự thấy được quyền làm chủ của mình khi sử
dụng vốn đầu tư từ nhà nước; chưa có ý thức sử dụng nguồn vốn trên sao cho đạt
hiệu quả cao và hợp lý nhất.
Bài học thứ 3 Việt Nam có được là từ một nước láng giềng Thái Lan mang
tính chất vĩ mô - sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu
vực nông thôn; định hướng rõ nét hướng đầu tư phát triển cây gì, con gì cho nhân
dân; tự nâng cao chất lượng sản phẩm nồng nghiệp của quốc gia; mở cửa thị trường 16
có lựa chọn đồng thời đâu tư vào bộ máy con người là nhân tố tích cực thúc đẩy sử
thay đổi, phát triển của nông thôn Thái Lan theo hướng mới. [5],[19]
1.3 Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất cấp xã và công tác xây dựng nông
thôn mới
Theo quyết định 491/QĐ-TT ngày 16/04/2009 về việc ban hành bộ tiêu chí
quốc gia nông thôn mới, quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là tiêu chí đứng
đầu trong các tiêu chí xây dựng nông thôn mới cho thấy tầm quan trọng của công
tác quy hoạch sử dụng đất trong công cuộc xây dựng nông thôn mới.
Công tác xây dựng quy hoạch nông thôn mới là sự tổng hòa của quy hoạch
sử dụng đất – quy hoạch sản xuất – quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, bộ 3 quy
hoạch trên vừa là nền móng vừa là đòn bẩy để cùng phát triển. Song có thể thấy,
quy hoạch sử dụng đất chính là xuất phát và nền móng của các quy hoạch khác, là
Hình 1.2: Đồ án nông thôn mới, [6]
Quy hoạch
xây dựng
Quy hoạch
sử dụng đất
Quy hoạch
sản xuất
Quy hoạch
nông thôn mới 18
Đ
ề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử
dụng đất, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu
Thu th
ập, điều tra, phân tích, đán
h giá đi
ều kiện tự
nhiên, kinh t
ế, x
ã h
ội của x
ã
Đánh giá hi
ện trạng sử dụng đất v
à nhu c
ầu sử
dụng đất; xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Đ
ất nông
nghiệp
Đ
ất phi
nông
nghiệp
Đ
ất ch
ưa
sử dụng
gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới
Thu th
ập, điều tra, phân tích, đánh giá điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã
Đánh giá hi
ện trạng sử dụng đất v
à nhu c
ầu sử
dụng đất; xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Đ
ất
nông
nghiệ
p
Đ
ất
phi
nông
nghiệ
Đ
ất
chưa
sử
dụng
Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất
Đ
ánh giá tác đ
dụng đất; mở rộng khu dân cư và phát triển cơ sở
hạ tầng của cấp xã
Đ
ối chiếu 19
tiêu chí xây d
ựng nông thôn mới tập
trung chủ yếu cho việc bố trí khu dân cư, hạ tầng
công cộng; đất sản xuất nông nghiệp – dịch vụ và
hạ tầng sản xuất kèm theo
Quy
hoạch
sản xuất
Quy
hoạch
xây
d
ựng