BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ _ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÔ THỊ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế - Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Đề tài: Nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hà
Đông
Sinh viên: Đỗ Thị Hồng Minh
Lớp: Kinh tế môi trường
Khóa: 47
Hệ: Chính quy
Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Thu Hoa
Hà Nội, 2009
MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt 2
Lời nói đầu ………………………………………………………………………… 3
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị 6
1.1 Đặc điểm chất thải rắn sinh hoạt đô thị 6
1.1.1 Nguồn phát sinh ……………………………………………………………. 6
1.1.2 Thành phần và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt đô thị ……………… 8
1.2Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đô thị ………………………………… 8
1.3Quản lý, quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ……………………………… 16
1.3.1 Khái niệm ………………………………………………………………… 16
1.3.2 Mô hình quản lý CTRSH đô thị…………………………………………….
Chương II: Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hà Đông ………
17
23
2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Quận Hà Đông ………………. 23
2.2 Hiện trạng chung về quản lý CTRSH trên địa bàn tỉnh Hà Tây ………………. 29
2.3 Hiện trạng xử lý CTRSH trên địa bàn Quận Hà Đông ……………………… 31
2.4 Nội dung quy hoạch xây dựng quy hoạch quản lý chi tiết thu gom, vận chuyển
sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường sống và phát triển không
bền vững về mặt môi trường. Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và các khu công
nghiệp ngày càng nhiều với thành phần ngày càng phức tạp. Quận Hà Đông là một đô thị
BOT Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao
BT Xây dựng – Chuyển giao
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CTNH Chất thải nguy hại
CTR Chất thải rắn
CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
CTRSHĐT Chất thải rắn sinh hoạt đô thị
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc gia
KCN Khu công nghiệp
MTĐT Môi trường đô thị
QLCTR Quản lý chất thải rắn
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
UBND Ủy ban nhân dân
lớn, giữ vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Hà Tây (cũ) –
Thành phố Hà Nội mới. Trong những năm gần đây, do tác động của nền kinh tế thị trường
và các chính sách mở cửa cùng với vị trí giao lưu buôn bán thuận tiện nên tốc độ đô thị
hóa của Quận ngày càng cao. Tuy nhiên, sự phát triển của Quận Hà Đông hiện nay vẫn
còn trong tình trạng thiếu đồng đều. Sự phát triển chưa đồng bộ giữa tốc độ đô thị hóa và
việc nâng cấp cơ sở hạ tầng cùng với sự phát triển của các ngành dịch vụ công cộng, du
lịch, thương mại cùng với mật độ dân cư tập trung cao đã tạo nên một lượng rác thải ra
môi trường xung quanh ngày càng nhiều. Lượng rác thải này không được thu gom, xử lý
kịp thời sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh cũng như gây tác động xấu
đến sức khỏe cộng đồng dân cư đang sinh sống tại Quận và các vùng lân cận.
Trong những năm qua Quận Hà Đông đã phối hợp với các ngành, các cấp có liên quan
Lời cảm ơn
Thời gian thực tập vừa qua Trung tâm tư vấn và Công nghệ Môi trường không dài nhưng
đối với tôi là rất quý giá vì nó đã giúp tôi trưởng thành hơn qua việc làm quen với môi
trường làm việc thực tế, áp dụng các kiến thức, kỹ năng có được vào trong thực tế cũng
như học hỏi thêm nhiều kiến thức, kỹ năng mới. Trong thời gian thực tập, tôi đã nhận
được sự quan tâm, giúp đỡ của rất nhiều người. Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn
đến PGS.TS. Lê Thu Hoa đã giúp đỡ, hướng dẫn tôi rất nhiều trong quá trình thực tập,
hướng dẫn tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp. Tôi cũng trân trọng gửi lời cảm ơn anh
Dương Xuân Điệp – Trưởng nhóm công nghệ môi trường- các anh chị đang làm việc
tạiTrung tâm tư vấn Công nghệ Môi trường- Tổng cục môi trường - vì sự giúp đỡ nhiệt
tình và thái độ thân thiện, cởi mở, chân tình mà mọi người luôn dành cho tôi trong những
ngày vừa qua.
Lời cam đoan: “Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện,
không sao chép, cắt ghép các báo cáo luận văn của người khác; Nếu sai phậm tôi xin
chịu kỷ luật với Nhà trường
Hà Nội, ngày tháng năm 2009
Ký tên
Họ và tên: Đỗ Thị Hồng Minh”
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải rắn sinh hoạt
1.1Đặc điểm chất thải rắn sinh hoạt đô thị
1.1.1 Nguồn phát sinh
a. Nguồn sinh hoạt
Tổng dân số Quận Hà Đông là: 175.371 người, lượng rác thải sinh hoạt thải ra từ nguồn
này khá lớn, chiếm khoảng 75 – 80% tổng lượng rác thải trên toàn địa bàn. Mặc dù đã có
bộ phận chuyên trách là Công ty Môi trường đô thị đảm nhiệm xử lý, tuy nhiên hệ thống
thu gom chưa triệt để, kỹ thuật xử lý còn hạn chế cộng thêm nguồn kinh phí hạn hẹp,
trang thiết bị còn thiếu nên chất thải rắn từ nguồn này ngày càng gia tăng sức ép lên môi
trường. Nếu coi mỗi người mỗi ngày xả thải ra 0,65 kg rác thì khối lượng chất thải rắn
sinh hoạt là: 114tấn/ngày.
b. Nguồn công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
sẽ gây cản trở giao thông, tác dòng chảy, làm mất mỹ quan đô thị, cần phải có biện pháp
thu gom xử lý riêng đối với nguồn chất thải này.
f. Nguồn công sở, cơ quan, trường học…
Toàn Quận với hơn 300 các cơ quan ban ngành của trung ương, Tỉnh và của Quận đóng
trên địa bàn Quận. Rác thải từ nguồn này chiếm tỷ lệ không lớn, thành phần chủ yếu là
giấy báo, bao bì giấy, bao bì plastic… Có thể thu gom, vận chuyển, tập kết chung với
lượng rác thải từ các nguồn khác để tiến hành xử lý.
g. Rác đường phố
Quận Hà Đông có tổng chiều dài các đường phố là 130,587km, với tổng diện tích đất giao
thông của các phố chính là 580.000 m2, lượng chất thải rắn chủ yếu do những người tham
gia giao thông và các hộ mặt đường tạo ra. Ước tính 1m2 đường tạo ra khoảng 0,01 kg
chất thải rắn/ngày đêm. Như vậy, trung bình trung bình một ngày đêm nguồn này tạo ra
khoảng 5,8 tấn/ngàyđêm chất thải rắn.
Như vậy, tổng khối lượng rác phát sinh trên địa bàn Quận khoảng 150 – 160 tấn/ngày.
1.1.2 Thành phần và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Qua thực tế khảo sát và quá trình phân tích mẫu chất thải rắn sinh hoạt cho thấy, thành
phần chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận Hà Đông như sau :
Bảng thành phần chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận Hà Đông
Thành phần rác Tỷ lệ % về khối lượng Độ ẩm
Hữu cơ 57,5 60,0%
Giấy, bìa, carton, gỗ 4,3 40,0%
Nilông, chất dẻo 9,3 28,5%
Vải, da, cao su 6,7 30,0%
Gạch đá, thuỷ tinh 13,1 20,0%
Kim loại 1,5 6,0%
Các loại khác 7,5 25,0%
1.2 Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đô thị
1.2.1 Tác động của CTRSH đô thị tới kinh tế - xã hội
Ngày nay, quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đã trở thành vấn đề môi trường và mang
tính chính trị quan trọng không chỉ ở các nước công nghiệp hóa phát triển mà cả ở các
vẫn còn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.
Theo kết quả điều tra do Bộ Y tế phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện trong chương
trình “Điều tra y tế quốc gia năm 2001-2002”, so với khu vực nông thôn, việc xử lý
CTRSH ở khu đô thị mặc dù đã tốt hơn, song vẫn còn ở trình độ thấp so với các nước
trong khu vực và các nước tiên tiến. Tỷ lệ CTSH được thu gom và xử lý hợp vệ sinh ở các
đô thị vẫn chưa cao.
Hình 1.1. Chi phí trong vận hành và bảo dưỡng các hệ thống quản lý chất thải rắn
Nguồn: Điều tra của các CT MTĐT, 2003. Các Quận lớn: số dân > 500.000; các Quận
cỡ vừa: số dân 250.000-500.000; Các Quận cỡ nhỏ: số dân < 250.000.
Bảng 1.1. Chi phí cho hoạt động liên quan đến rác thải đô thị ở Việt Nam so với các nước
Quận, nước Năm
Chi phí theo đầu
người
(Đô la Mỹ)
% GNP cho quản lý
chất thải rắn
Việt Nam (TB) 2003 3,5 0,20
Pháp 1995 63 0,25
0.00
0.05
0.10
0.15
0.20
0.25
0.30
0.35
Ho Chi
Minh City
Hanoi
Hai Phong
Băng La Đét 1995 1,46 0,54
Colombia 1994 7,75 0,48
(Nguồn: Báo cáo Diễn biến môi trường- Chất thải rắn, 2004)
Đầu tư cho lĩnh vực quản lý chất thải rắn tăng từ 195 tỉ đồng năm 1998 đến gần 1.100 tỷ
đồng năm 2003. Tỷ lệ đầu tư lớn nhất (87%) là dành cho cải thiện các hệ thống quản lý
chất thải rắn đô thị, tiếp theo là cho các hệ thống quản lý chất thải y tế (12%) và rác thải
công nghiệp (1%). Do tỷ lệ CTR được quản lý và trình độ công nghệ xử lý CTRSH ở Việt
Nam vẫn ở mức thấp hơn so với các nước trong khu vực, nên chi phí cho quản lý CTR nói
chung ở Việt Nam vẫn ở mức thấp, chiếm khoảng 0,2% GDP. Mức chi trung bình cho xử
lý CTRSH chiếm khoảng 0,5% chi phí sinh hoạt của 1 hộ gia đình (Theo kết quả điều tra
mức sống hộ gia đình năm 2002 của Tổng cục Thống kê). Các tỷ lệ này sẽ gia tăng nhanh
chóng khi kinh tế - xã hội phát triển do mức phát thải CTRSH gia tăng cũng như gia tăng
sự quan tâm và đầu tư cho lĩnh vực xử lý CTRSH từ các khu vực khác nhau.
Bảng 1.2. Các nguồn đầu tư cho lĩnh vực quản lý chất thải rắn (tỷ đồng)
Nguồn: Tính toán từ Danh mục các dự án môi trường của UNDP, cơ sở dữ liệu của Bộ
KH&ĐT về các dự án đầu tư của Nhà nước
Từ năm 1998 đến nay, các nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực quản lý chất thải rắn ngày càng
tăng. Trong năm 2003, nguồn đầu tư từ ngân sách trung ương tăng mạnh, nhiều gấp 100
lần so với năm 1998. Cùng giai đoạn này, các khoản đầu tư từ ngân sách các tỉnh/Quận
cũng tăng gấp đôi, nguồn đầu tư từ ODA tăng gấp bốn lần. Ngân sách trung ương đầu tư
chủ yếu cho cơ sở hạ tầng trong khi tại các địa phương lại chủ yếu đầu tư cho các hoạt
1998 1999 2000 2001 2002 2003
Ngân sách Trung ương 2,9 11 11 125 294 314
Ngân sách địa phương 33 44 66 94 77 77
ODA 159 251 279 503 640 692
Tổng 195 306 356 722 1.011 1.083
động thu gom, duy tu và bảo dưỡng. Các công ty môi trường đô thị không có quyền kiểm
soát một cách độc lập các nguồn thu và ngân sách của họ do phí thu được từ các dịch vụ
quản lý chất thải rắn phải nộp vào ngân quỹ của Nhà nước và sau đó lại phân bổ ngược lại
cho các công ty môi trường đô thị dưới dạng bao cấp từ ngân sách Nhà nước.
Bãi chôn lấp
Ngoài các hơi khí gây ô nhiễm thông
thường, còn có PCBs, PAHs, các hợp chất
dioxins và furans
Thiêu đốt
Nước Ô nhiễm và mất cảnh quan ở các khu vực Thiếu ý thức, hiểu biết
nước mặt do rác bị vứt bừa bãi ở ao, hồ,
sông ngòi và kênh rạch
của người dân
Ô nhiễm nước mặt, nước ngầm do nước rỉ
rác chưa được xử lý từ các bãi chôn lấp
không hợp vệ sinh thải ra môi trường bên
ngoài, đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng.
Nước rỉ rác từ các bãi
chôn lấp
Đất
Suy thoái đất và ô nhiễm kim loại nặng, hóa
chất do thẩm thấu từ các bãi chôn lấp.
Mất quỹ đất do sử dụng đất để xây dựng các
bãi chôn lấp.
Các bãi chôn lấp
Tro thải có chứa các loại hóa chất độc hại Thiêu đốt
Tiếng ồn Tiếng ồn thường ở mức cao
Các phương tiện vận tải,
xử lý chất thải ở các khu
vực xử lý
Mùi Khó chịu
Từ khâu phát sinh, thu
gom và xử lý chất thải
Vi khuẩn
8.3
3000-
45000
2000-
30000
200-
1000
598 43.4 150x10
4
2 Trảng Dài ở
Đồng Nai
8.3 5882 2800 287 960 11.1 2300
3 Hiệp Thành
ở Bình
Dương
6.5 9881 6200 1860 345 13.2 240x10
3
4 Gò Cát ở
Tp. Hồ Chí
Minh
7.8-
8.6
1127-
1543
275-
412
244-
4311
1918-
2695
5-9 400 100 200 60 8 >10,000-
Nguồn: CENTEMA 04-08/2003; CERECE2002
Bảng 1.5. Kết quả quan trắc môi trường không khí ở một số bãi chôn lấp, 2003
Địa điểm
SO
2
(mg/m
3
)
NO
2
(mg/m
3
)
CH
4
(mg/m
3
)
CO
2
(mg/m
3
)
H
2
S
(mg/m
3
)
1.2.3 Tác động của CTRSH đô thị tới sức khỏe cộng đồng
Ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, chất thải rắn sinh hoạt đô thị
nói chung được thu gom, vận chuyển và xử lý bởi các hệ thống công nghệ ở trình độ thấp,
còn lạc hậu và sử dụng rất nhiều lao động trong các hệ thống này. Do sử dụng quá nhiều
lao động, đặc biệt lại trong tình trạng không được bảo vệ đúng mức do các quy định và
công tác giám sát về vệ sinh lao động ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển còn
tương đối lỏng lẻo, bản thân hoạt động quản lý chất thải rắn cũng là nguy cơ khá nghiêm
trọng đối với các nhóm cộng đồng, người lao động tham gia các hoạt động quản lý chất
thải (người nhặt rác, công nhân vệ sinh, công nhân ở các khu xử lý rác).
Bên cạnh đó, trình độ công nghệ thấp cũng như thiếu đầu tư cho các bãi tập kết, khu trung
chuyển và các khu xử lý chất thải rắn nói chung và chất thải sinh hoạt nói riêng chính là
nguồn phát sinh và gây bệnh tật đối với cộng đồng.
Mặt khác, việc không thực hiện phân loại tại nguồn, đổ lẫn các loại chất thải công nghiệp
và y tế với chất thải sinh hoạt để xử lý lại càng gia tăng các yếu tố độc hại trong môi
trường và có tiềm năng gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng người dân.
Việc thiếu các quy định về thải bỏ các mặt hàng gia dụng có chứa các chất nguy hiểm,
độc hại (rác thải sinh hoạt nguy hại) như pin, ắc quy, các chất tẩy rửa, các loại thiết bị sử
dụng điện, điển tử, v.v cũng là yếu tố làm tăng tính nguy hại của chất thải rắn sinh hoạt
đối với sức khỏe cộng đồng.
Các loại hơi, khí độc có mặt trong khí sinh học phát sinh từ các bãi chôn lấp, bãi đổ thải
lộ thiên có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng như làm gia
tăng mức độ nguy hiểm của các bệnh nhân hô hấp, hen suyễn, ảnh hưởng đến sức khỏe
sinh sản, tăng khả năng gây các bệnh truyền nhiễm và một số loại hơi dung môi, hữu cơ
có khả năng gây ung thư ở người. Ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường nước, đất có
khả năng ảnh hưởng tới chất lượng các nguồn thực phẩm và gây nguy hiểm đối với sức
khỏe con người.
Nhiều nghiên cứu đánh giá về tác động sức khỏe môi trường ở các khu vực xử lý chất thải
rắn sinh hoạt (bãi chôn lấp, lò đốt rác) ở Việt Nam cho thấy mức độ ảnh hưởng rõ rệt đối
với sức khỏe các nhóm cộng đồng sinh sống ở gần những khu vực này. Tỷ lệ dân bị mắc
các loại bệnh lây, các bệnh về da, mắt, hô hấp trong các cộng đồng sinh sống ở gần các
nắm giữ quyền lực của hệ thống môi trường. Nói một cách khác, bản chất của quản lý
môi trường tùy thuộc vào chủ sở hữu của hệ thống môi trường nhằm mục tiêu chung,
lâu dài và nhất quán của quản lý môi trường là nhằm góp phần tạo lập sự phát triển
bền vững
1.3.2 Mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
1.5.2.1 Các mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
+ Mô hình quản lý Nhà nước: định hướng thành lập Tập đoàn Quản lý CTRSH đô thị,
công tác quản lý CTRSH tại các đô thị thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.2. Mô hình do Nhà nước quản lý
Việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị do các Công ty Môi trường
đô thị là các công ty con của Tập đoàn Quản lý CTRSH đô thị đóng tại các tỉnh, thành
phố hoặc huyện, thị xã thực hiện. Các công ty Môi trường đô thị hoạt động dưới hình
thức các đơn vị sự nghiệp có thu. Tiền lương cho cán bộ công nhân viên chức, các loại
phương tiện, trang bị ban đầu do Nhà nước đầu tư lấy từ nguồn vốn ngân sách, nguồn
thu từ hoạt động thu gom, xử lý chất thải theo định mức áp dụng Tiêu chuẩn của Bộ
Xây dựng, đơn giá được áp dụng theo đơn giá của UBND tỉnh, thành phố ban hành
theo từng thời điểm. Việc thu chi kinh phí áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu và
được Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định.
+ Mô hình quản lý tư nhân: bao gồm các Hợp tác xã, tổ thu gom rác được hình thành
với hình thức tự nguyện, mỗi tổ có một cá nhân đứng lên làm nhóm trưởng để quản lý
và trả công cho các thành viên. Các tổ chức này sẽ được tăng cường tính tự chủ và tự
chịu trách nhiệm thông qua các chế tài.
Chất thải rắn
sinh hoạt
đô thị
Công nhân,
doanh
nghiệp thu
gom
Xã hội hóa
Luật pháp
loại bỏ
chất thải
Thu gom,
xử lý
Vận chuyển,
tiêu hủy
Bộ Xây dựng
Hình 1.3. Mô hình xã hội hóa công tác quản lý, thu gom vận chuyển và xử lý chất thải
rắn sinh hoạt tại các đô thị
1.5.2.2 Mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hà Đông
Tình hình thực tế như vậy có thể thấy: để công tác quản lý từng bước đi vào nề nếp,
đường phố ngày càng sạch đẹp và khang trang hơn Quận Hà Đông cần phải tiến hành
phân cấp quản lý, vệ sinh đường phố rõ ràng cho các cấp. Mạng lưới vệ sinh cơ sở
phải được tổ chức thành hệ thống từ cấp phường, xã trở lên. Dự kiến phương án thực
hiện như sau:
Công ty Môi trường đô thị Hà Đông
Công ty có trách nhiệm:
- Quản lý, sửa chữa, quét dọn vệ sinh các trục đường chính của Quận, thu gom
rác của các hộ gia đình gần trục đường chính, quét dọn chợ, khu công cộng, bến
tàu xe, lấy rác ở các cơ quan, xí ngiệp, bệnh viện, trường học… có ký hợp đồng
với công ty.
- Vận chuyển rác ở các điểm tập kết đến khu xử lý
- Hướng dẫn các tổ, đội vệ sinh phường xã về kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý vệ sinh
đô thị.
Tổ chức bộ máy mạng lưới vệ sinh cấp phường xã
a. Về mô hình bộ máy
+ Mỗi phường, xã thành lập một đội vệ sinh tự quản. Dưới mỗi đội chia nhỏ thành
các tổ vệ sinh, các tổ này chịu trách nhiệm thu gom được phân công theo địa giới
hành chính trong mỗi phường, xã.
- Quản lý, điều hành và phân công nhiệm vụ vệ sinh và thu lệ phí rác của các đội
viên. Kịp thời phát hiện sai sót của đội viên để uốn nắn giáo dục, nếu nghiêm
trọng, phải báo cáo với chủ tịch UBND phường, xã để có biện pháp xử lý.
- Mỗi tháng một lần, đội vệ sinh phải họp kiểm điểm rút kinh nghiệm trong công
tác và biện pháp khắc phục những tồn tại, khuyết điểm.
- Mỗi tuần một lần, đội trưởng phải báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ với chủ
tịch UBND phường, xã.
Đội phó có nhiệm vụ:
- Giúp đội trưởng những công việc cụ thể do đội trưởng phân công và thay mặt
đội trưởng khi đội trưởng đi vắng.
Đội trưởng, đội phó và các tổ trưởng ngoài lương chính ra đều có phần lương
trách nhiệm tùy theo địa bàn và số lượng lao động mà minh quản lý.
c. Về chế độ thù lao
Mỗi đội viên phải có trách nhiệm thu lệ phí rác của các hộ gia đình đảm bảo đạt kế
hoạch 100%. Nếu có trường hợp khê đọng hoặc không thu được phải báo cáo với
tổ trưởng. Lấy thu gom rác làm đơn vị tính tiền công:
- Mỗi hộ thu gom được tính tiền công 4.000 đ/tháng
- Mỗi đội viên được khoán thu gom khoảng 150 – 200 hộ/tháng.
Trong một tháng, đội viên hành thành cả hai nhiệm vụ là thu gom rác và thu phí vệ
sinh đầy đủ thì được hưởng lương khoảng 600 – 800 nghìn đồng/tháng. Còn trong
trường hợp không thực hiện đúng nhiệm vụ thì đội trưởng căn cứ vào mức vi phạm
để khấu trừ lương.
d. Trách nhiệm của tổ trưởng tổ dân phố, xóm trưởng về công tác vệ sinh đường,
ngõ phố.
+ Tuyên truyền giáo dục nhân dân có ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng, chấp hành
nghiêm chỉnh quy định về quản lý và vệ sinh đô thị.
+ Hàng tuần tổ chức cho nhân dân trong tổ, xóm, khối quét dọn vệ sinh, khơi thông
dòng chảy vào các ngày nghỉ cuối tuần.
+ Giáo dục tuyên truyền, nhắc nhở những hộ vi phạm nội quy vệ sinh. Những
trường hợp cố tình vi phạm hoặc vi phạm nghiêm trọng có thể tổ chức kiểm điểm,
sạch, đẹp đến các tổ chức như Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, trường học và
nhiều tổ chức xã hội khác.
Chương II: Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hà Đông
2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội Quận hà đông
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Quận Hà Đông, thuộc tỉnh Hà Tây có tọa độ địa lý 20
0
59’ vĩ độ Bắc, 105
0
45’ kinh độ
Đông, nằm dọc hai bên quốc lộ 6A từ Hà Nội đi Hòa Bình, cách trung tâm Quận Hà
Nội hơn 10km về phía Tây nam, tiếp giáp với các huyện:
- Phía Bắc giáp huyện Từ Liêm – Hà Nội;
- Phía Nam giáp huyện Thanh Oai – Hà Tây
UBND Quận
UBND phường, xã
Đội vệ sinh phường,
xã
Tổ vệ sinh
Đơn vị sản xuất
Đội vận
chuyển
Văn phòng
CT Môi trường ĐT
Đội thu
gom
Đội xử
lý
Đội phụ
khẩu hàng hoá. Đang triển khai xây dựng mới Trung tâm xúc tiến thương mại Hà
Đông, các siêu thị vừa và nhỏ trong các khu đô thị mới. Hệ thống khách sạn, nhà hàng
phát triển có sức thu hút khách trong vùng đến nghỉ ngơi và thưởng thức ẩm thực. Mức
tăng trưởng kinh tế bình quân từ năm 1997 - 2005 đạt 17,9%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tính đến năm 2005 thương mại, dịch vụ chiếm
42,05%; công nghiệp xây dựng chiếm 53,20%; nông nghiệp 4,75%.
Thu nhập bình quân người/năm (theo tỷ giá hối đoái 2005) là: 1082 USD
2.1.2.3 Xây dựng cơ cấu hạ tầng
Tỉnh và quận đã tập trung thực hiện quy hoạch xây dựng, hàng năm đầu tư hàng ngàn
tỷ đồng xây dựng hạ tầng như: trụ sở làm việc của các cơ quan, hệ thống các công
trình phúc lợi công cộng, công trình văn hóa thể thao, mở thêm nhiều tuyến đường
phố, điện chiếu sáng mới đồng thời cải tạo, nâng cấp mặt đường, vỉa hè, thoát nước
các tuyến phố cũ. Nhiều dự án lớn đã được đầu tư xây dựng theo quy hoạch. Bộ mặt
đô thị từng bước khang trang, sạch đẹp, trật tự đô thị chuyển biến tích cực, theo hướng
phát triển đô thị hiện đại.
Về phát triển đô thị
Hiện nay, hệ thống giao thông nội thị, đối ngoại và các khu chức năng của quận đang
được hình thành như: Trung tâm hành chính mới, khu Công viên thể thao - cây xanh,
Trung tâm xúc
tiến thương mại, cụm Công nghiệp Yên Nghĩa, điểm công nghiệp - làng nghề Vạn
Phúc, Đa Sỹ, các trường học, Trung tâm y tế, khu đô thị Văn Quán - Yên Phúc, Mỗ
Lao, Văn Phú, Lê Trọng Tấn, chợ Hà Đông… Tất cả đã được quy hoạch chi tiết và
triển khai xây dựng với tốc độ nhanh, cụ thể:
- Mạng lưới đường giao thông đang được đầu tư, xây dựng đồng bộ, hiện đại theo quy
hoạch. Hiện tại, Quận có 130,587km đường nội thị, trong đó có 64,4km đường phố