BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN DUY HUY
GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG THU NGÂN SÁCH
HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN DUY HUY
GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG THU NGÂN SÁCH
HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH THAO
HÀ NỘI, NĂM 2014
MỤC LỤC
Bảng 2.1 Tình hình thực hiện thu NSNN giai đoạn 2006-2010 ở nước ta 42
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Thuận Thành qua 3 năm 2011 -2013 48
Bảng 3.2: Tình hình dân số, lao đông của huyện Thuận Thành qua 3 năm 2011 -2013 51
Trong những năm qua cùng với chủ trương chính sách của tỉnh, huyện Thuận Thành cũng đã
>ch cực kêu gọi đầu tư phát triển các khu công nghiệp dịch vụ. Kết quả cơ cấu kinh tế của
huyện có sự thay đổi theo hướng >ch cực, cơ cấu ngành nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản
có xu hướng giảm (năm 2011 chiếm 28,2%, năm 2013 còn 18,9%), cơ cấu ngành công nghiệp
– xây dựng và ngành thương mại – dịch vụ không ngừng tăng lên. Năm 2011 cơ cấu kinh tế
ngành công nghiệp dịch vụ 39,4%, năm 2013 tăng lên 47,4% 52
Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế của huyện Thuận Thành qua 3 năm từ 2011 -2013 52
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất huyện Thuận Thành qua 3 năm 52
hiểu nguyên nhân thất thu do nợ động năm 2011 trên địa bàn huyện là gần 663 triệu đồng
chiếm 20,59%, năm 2013 là 3867,69 triệu đồng chiếm 57,27%. Bình quân qua 3 năm thất thu
do nguyên nhân Nợ động tăng 141,47% nguyên nhân là do các khủng hoảng kinh tế các đơn
vị kinh doanh bị các doanh nghiệp bị đối tác nợ ^ền 72
Bảng 4.9: Ý kiến đánh giá của cán bộ thu ngân sách về các chính sách 78
Bảng 4.14: Mong muốn hỗ trợ để mở rộng sản xuất của người nộp ngân sách 89
iv
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình thực hiện thu NSNN giai đoạn 2006-2010 ở nước ta 42
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Thuận Thành qua 3 năm 2011 -2013 48
Bảng 3.2: Tình hình dân số, lao đông của huyện Thuận Thành qua 3 năm 2011 -2013 51
Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế của huyện Thuận Thành qua 3 năm từ 2011 -2013 52
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất huyện Thuận Thành qua 3 năm 52
Bảng 4.1 Tình hình thực hiện thu ngân sách của huyện Thuận Thành 58
giai đoạn 2011 -2013 58
Bảng 4.2. So sánh tốc Ynh hình thực hiện thu ngân sách của huyện qua các năm 61
Bảng 4.3. Kế hoạch giao thu ngân sách nhà nước của huyện 64
giai đoạn 2011 – 2013 64
Bảng 4.4. So sánh tỷ lệ kế hoạch giao thu ngân sách nhà nước của huyện 64
giai đoạn 2011 - 2013 64
Bảng 4.5. Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu ngân sách nhà nước 68
của huyện giai đoạn 2011 – 2013 68
Bảng 4.6: Cơ cấu các khoản so với tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện 70
Bảng 4.7. Tình hình thất thu thuế trên địa bàn huyện 71
giai đoạn 2011 -2013 71
Bảng 4.8: So sánh Ynh hình thất thu thuế trên địa bàn huyện 72
giai đoạn 2011 -2013 72
Bảng 4.9: Ý kiến đánh giá của cán bộ thu ngân sách về các chính sách 78
Bảng 4.14: Mong muốn hỗ trợ để mở rộng sản xuất của người nộp ngân sách 89
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích chỉ ra những vấn đề còn bất cập và
hạn chế trong công tác thu ngân sách của huyện Thuận Thành trong thời gian
1
1
qua, từ đó đề ra các giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhà nước trong tời
gian tới.
Việc đảm bảo cân bằng thu - chi sẽ tạo ra mâu thuẫn đòi hỏi phải đánh
đổi giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài đó là việc tăng nguồn thu ngân
sách sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và có được sự tăng
trưởng và phát triển lâu dài, tuy nhiên tăng thu ngân sách sẽ làm giảm hoặc
tiêu diệt nguồn thu hiện tại, nhưng lại có nguồn thu để đầu tư phục vụ cho
việc phát triển và có lợi ích lâu dài. Việc giải quyết mâu thuẫn giữa tăng
nguồn thu ngân sách hiện tại mà vẫn đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững
đòi hỏi cần phải có những giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề này. Xuất
phát từ yêu cầu thực tế đòi hỏi cần tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp
nhằm tăng thu ngân sách huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng thu ngân sách trên địa bàn huyện trong thời gian
qua từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng thu ngân sách của huyện trong
thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thu ngân sách nhà nước và
tăng thu ngân sách nhà nước.
- Đánh giá thực trạng thu ngân sách và phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến thu ngân sách của huyện Thuận Thành trong thời gian qua.
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng thu ngân sách của huyện Thuận Thành
trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
khẳng định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Như vậy, khái niệm ngân sách được hiểu khá nhất quán, chuyên đề sử
dụng khái niệm ngân sách, tìm hiểu về ngân sách theo những căn cứ của Luật
ngân sách nhà nước 2002.
Trong khái niệm, ngân sách được hiểu là toàn bộ các khoản thu, chi. Về
bản chất, đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa
nhà nước với các chủ thể khác như: doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và
ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách.
4
4
Ngân sách Nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định, điều này thể hiện tính hệ thống của ngân sách nhà nước, bao gồm: ngân
sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm
ngân sách của đơn vị hành chính cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân. Phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền Nhà nước ta hiện nay, ngân
sách địa phương gồm: ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(gọi chung là ngân sách cấp tỉnh), ngân sách cấp quận, huyện, thị xã, thành
phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách cấp xã,
phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
Thu ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để
huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm
đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thu ngân sách bao gồm rất nhiều loại,
ngoài các khoản thu chính từ thuế, phí, lệ phí, còn có các khoản thu từ hoạt
động kinh tế của nhà nước, từ đóng góp của các cá nhân trong và ngoài nước,
hay các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Để cung cấp thông tin một cách có hệ thống, công khai minh bạch, đảm
bảo trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu quản lý của các đối tượng thì việc phân loại
các khoản thu theo những tiêu thức nhất định là rất cần thiết. Hiện nay, trong
+ Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, các cá nhân trong và
ngoài nước.
+ Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ
chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam, các cấp chính quyền và
các cơ quan, đơn vị nhà nước.
+ Thu từ Quỹ đất dự trữ tài chính; thu kết dư ngân sách.
+ Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Cách phân loại này giúp cho việc xem xét từng nội dung thu theo tính
chất và hình thức động viên vào ngân sách, đánh giá tính cân đối, bền vững,
6
6
hợp lý về cơ cấu các nguồn thu. Trên cơ sở đó giúp cho việc hoạch định chính
sách cũng như tổ chức điều hành ngân sách phù hợp với các mục tiêu nhà
nước theo đuổi trong từng thời kỳ.
Ngoài ra trong quản lý NSNN, trong các biểu mẫu về thu NSNN người
ta thường phân loại thu ngân sách theo nguồn hình thành nguồn thu thành các
nhóm lớn là: Thu cân đối ngân sách; thu vay để cân đối ngân sách trung ương;
thu để lại đơn vị chi quản lý qua ngân sách; thu chuyển giao giữa các cấp
ngân sách; các khoản tạm thu và vay khác của NSNN.
2.1.2 Chức năng của thu ngân sách
NSNN là thành phần chủ đạo trong tài chính công, gắn liền với vai trò
và chức năng của nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế. Đó là ba chức
năng, phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập và điều chỉnh kiểm soát. Trong
đó, thu NSNN tham gia rõ nét vào chức năng phân bổ và phân phối thu nhập.
Đặc biệt là chức năng phân phối thu nhập.
2.1.2.1. Chức năng phân bổ nguồn lực
Chức năng phân bổ nguồn lực của NSNN là khả năng khách quan mà nhờ
vào đó các nguồn tài lực thuộc quyền chi phối của Nhà nước được tổ chức, sắp
xếp, phân phối một cách có tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội của việc sử dụng các
nguồn tài lực đó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc và ổn định theo các
hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước trong từng thời kỳ và theo sát các kế
hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng là một tiêu
chuẩn quan trọng. Phân bổ nguồn lực tài chính phải nhằm đạt được những
mục tiêu kinh tế vĩ mô là hiệu quả, ổn định và phát triển kinh tế.
2.1.2.2. Chức năng phân phối lại thu nhập
Chức năng phân phối lại thu nhập của thu NSNN là khả năng khách
quan mà nhờ vào đó ngân sách được sử dụng vào việc phân phối và phân phối
lại các nguồn tài chính trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã
hội trong phân phối và hưởng thụ kết quả của sản xuất xã hội.
8
8
Trong chức năng này, chủ thể phân phối là Nhà nước trên tư cách
người có quyền lực chính trị, còn đối tượng phân phối là các nguồn tài chính
đã thuộc sở hữu công cộng hoặc đang là thu nhập của các pháp nhân và thể
nhân trong xã hội mà Nhà nước tham gia điều tiết.
Công bằng về phân phối được biểu hiện trên hai khía cạnh: công bằng về
mặt kinh tế và công bằng về mặt xã hội. Như đã biết, công bằng về kinh tế là
yêu cầu nội tại của nền kinh tế thị trường. Do giá cả thị trường quyết định mà
việc đưa ra các yếu tố đầu vào (chi tiêu) và việc thu nhận thù lao các yếu tố
(thu nhập) là tương xứng với nhau, nó được thực hiện theo sự trao đổi ngang
giá trong môi trường cạnh tranh bình đẳng. Chẳng hạn, việc phân phối vật
phẩm tiêu dùng cá nhân được thực hiện theo nguyên tắc phân phối theo lao
động, trong đó, cá nhân bằng việc bỏ ra sức lao động mà có được thu nhập,
nhưng thu nhập mà họ nhận được (thù lao cho lao động) là tương xứng với số
lượng và chất lượng lao động mà họ bỏ ra. Đó là sự công bằng về kinh tế.
Tuy nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, do những yếu tố
sản xuất của các chủ thể kinh tế hoặc các cá nhân không giống nhau, sức
khỏe, trình độ, hoàn cảnh, không giống nhau mà thu nhập của các chủ thể
kinh tế hoặc của các cá nhân có sự chênh lệch. Sự chênh lệch thu nhập này
vượt quá giới hạn nào đó sẽ dẫn đến bất công bằng xã hội. Như vậy, mặc dù
Khác với chức năng phân bổ nguồn lực, chức năng phân phối lại thu
nhập được đề cập với sự quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh xã hội của sự
phân phối. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần nhận thức và xử lý hợp lý mối quan
hệ giữa mục tiêu công bằng và mục tiêu hiệu quả của kinh tế vĩ mô. Trong
nhiều trường hợp, để đạt mục tiêu công bằng, sự phân phối lại làm tổn hại tới
mục tiêu hiệu quả. Chẳng hạn, một sự đánh thuế quá cao vào thu nhập sẽ hạn
chế tác dụng thúc đẩy tăng tiết kiệm và tăng đầu tư của tư nhân, đồng thời, có
thể dẫn đến hiện tượng tìm cách trốn thuế do tình trạng quá tải của thuế mang
lại. Hay một sự trợ cấp xã hội tràn lan, thiếu tính toán cân nhắc dễ dẫn đến
10
10
tâm lý chờ được cứu tế, giảm tính tích cực lao động, đồng thời làm giảm tác
dụng tăng tiết kiệm của khu vực công.
Do đó, một sự tính toán cân nhắc trong chính sách phân phối và tái
phân phối thu nhập để có thể đạt tới mục tiêu công bằng trên cơ sở đảm bảo
tính hiệu quả kinh tế là rất quan trọng nhằm sử dụng có hiệu quả NSNN trong
thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
2.1.3 Vai trò của thu ngân sách
Vai trò của thu NSNN được xem xét trên hai khía cạnh: là công cụ tập
trung nguồn tài lực đảm bảo duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà
nước và là công cụ của Nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường.
Thu NSNN là để đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy
nhà nước: Để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy nhà nước cần phải có
nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu. Các nhu cầu chi tiêu của bộ
máy nhà nước được đáp ứng chủ yếu bởi các nguồn thu NSNN. Vai trò trên
được thể hiện ở việc khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính
để đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự
tính cho từng thời kỳ phát triển. Các nguồn lực này có thể được tập trung ở cả
trong và ngoài nước, từ mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, có bắt buộc và
tự nguyện, trong đó bắt buộc là nét đặc trưng.
kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Cần hiểu rằng,
vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo
từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước
đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội.
Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội,
định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh
đời sống xã hội.
Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế: Ngân sách nhà nước
là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản
12
12
xuất kinh doanh và chống độc quyền. Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt
động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch
định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển ổn định và bền vững.
Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí
đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các
ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra
đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy
rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động
kinh doanh của các Doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các
doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc
quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn
hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng
có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm
bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới
hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính
thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng
đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh
Giải quyết các vấn đề xã hội: Trợ giúp trực tiếp dành cho những người
pháp luật gồm:
- Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế;
- Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi).
- Thu từ nhập vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ
lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ chức kinh tế có sự
tham gia góp vốn của nhà nước theo quy định của Chính phủ.
Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các hoạt động sự nghiệp.
Tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích.
Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước.
14
14
Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và
ngoài nước.
Thu từ huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 luật NSNN.
Phần nộp cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ tiền
bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.
Cách khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ
chức, cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam, các tổ chức nhà nước
thuộc đia phương theo quy định.
Thu quỹ dự trữ tài chính.
Thu kết dư ngân sách.
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, gồm:
- Các khoản di sản nhà nước được hưởng.
- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phạt,
tịch thu.
- Thu hồi dữ trữ Nhà nước.
- Thu chênh lệch giá, phụ thu.
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên.
- Phần nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật từ các
khoản phí và lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu,
không kể phí xăng dầu và lệ phí trước bạ;
- Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản
thu sự nghiệp của các đơn vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý;
- Chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Thu kết dư ngân sách trung ương;
- Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách trung ương năm trước
chuyển sang;
16
16
- Các khoản phạt, tịch thu và thu khác quả ngân sách trung ương theo
quy định của pháp luật.
*Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách
trung ương và ngân sách đia phương
- Thuế GTGT, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu quy định
tại điểm a Khoản 1 Điều này và thuế GTGT thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp
của các đơn vị hoạh toán toàn ngành quy định tại điểm d Khoản 1 Điều này
và thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ hoạt động xổ số kiên thiết;
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, không kể quy định tại
điểm đ Khoản 1 Điều này;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước không kê
thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Phí xăng, dầu.
Nguồn thu của ngân sách địa phương
* Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%:
- Thuế nhà, đất;
- Thuế tài nguyên; không kể thuế tài nguyên thu từ hoạt động dầu khí;
- Thuế môn bài;
- Thu chuyển nguồn từ ngân sách địa phương năm trước sang ngân
sách địa phương năm sau.
* Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách trung ương và
ngân sách địa phương mà địa phương được hưởng.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (khong kể thuế thu nhập doanh nghiệp
của các đơn vị hoạch toán toàn ngành).
- Thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập
khẩu).
- Tiền cho thuê mặt đất, mặt nước.
18
18
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
- Thuế chuyển lợi nhận ra nước ngoài (không kể thuế chuyển lợi nhuận
ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí)
- Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước
- Phí xăng, dầu.
2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến Thu ngân sách
2.1.5.1. Mức độ tăng trưởng của nền kinh tế
Toàn bộ nền kinh tế quốc dân chính là nguồn thu của NSNN. Thu của
NSNN được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong và ngoài nước, từ mọi
lĩnh vực hoạt động khác nhau, cả sản xuất, lưu thông và phân phối. Bởi vậy,
thu NSNN luôn gắn chặt với kết quả của hoạt động kinh tế trong nước và sự
vận động của các phạm trù giá trị khác như: giá cả, thu nhập, lãi suất, Kết
quả của các hoạt động kinh tế trong nước được đánh giá bằng các chỉ tiêu chủ
yếu như: mức tăng trưởng GDP, tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế Đó là các
nhân tố khách quan quyết định mức động viên của NSNN. Sự vận động của
các phạm trù giá trị khác vừa có tác động đến sự tăng giảm mức động viên
của NSNN, vừa đặt ra yêu cầu sử dụng hợp lý các công cụ thu của NSNN để
điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội cho phù hợp với sự biến động của các
phạm trù giá trị.