thực trạng và một số giải pháp thực hiện tốt công tác bảo hiểm nhân thọ tại thành phố vinh nghệ an - Pdf 26

Chuyên đề thực tập
Lời nói đầu
Bảo hiểm xã hội(BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá
sớm và đến nay đã đợc thực hiện ở tất cả các nớc trên thế giới. So với các loại
hình bảo hiểm khác, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt
do bản chất của nó chi phối.
ở nớc ta, BHXH là một chính sách lớn trong hệ thống an sinh xã hội.
BHXH vừa mang tính kinh tế nhng cũng mang tính nhân đạo của Nhà nớc ta
nhằm đảm bảo cuộc sống cho ngời lao động trớc những biến cố làm giảm hoặc
mất thu nhập. Mục tiêu của Nhà nớc là mở rộng đối tợng tham gia BHXH cho
mọi ngời dân nhng hiện nay mục tiêu đó cha đợc thực hiện vì nhiều nguyên
nhân. Trong công tác BHXH nói riêng còn có nhiều tồn tại cần đợc giải quyết.
BHXH cấp huyện là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý
BHXH Việt Nam, là cơ sở đầu tiên để thực hiện công tác BHXH. Thực hiện tốt
hoạt động ở BHXH cấp huyện thì mới đảm bảo cho việc thực hiện của cả hệ
thống. BHXH thành phố Vinh lă cơ quan BHXH cấp huyện trực thuộc sự quản lý
dọc của BHXH tỉnh Nghệ An. Trong thời gian 4 tháng thực tập tại BHXH thành
phố Vinh, em đã thu nhận đợc đợc một số kiến thức thực tế về công tác BHXH
và em đã tiến hành thực hiện chuyên đề thực tập về đề tài: Thực trạng và một số
giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động của BHXH thành phố Vinh nhằm xem xét và
nghiên cứu thực trạng hoạt động của BHXH TP Vinh trong giai đoạn (1995-
2002) để đóng góp một số giải pháp cho BHXH TP Vinh.
Bài viết đợc chia làm 3 chơng:
- Chơng 1: Lý luận chung về BHXH
- Chơng 2: Thực trạng thực hiện BHXH trên địa bàn thành phố Vinh
- Chơng 3: Phơng hớng hoạt động và những biện pháp chủ yếu nhằm
thực hiện tốt hoạt động của BHXH TP Vinh.
Trong quá trình thực tập, em đã nhận đợc rất nhiều sự giúp đỡ, hớng dẫn
của các cán bộ công tác tại cơ quan thực tập, các giáo viên trong bộ môn và đặc
biệt là sự hớng dẫn của thầy giáo Mạc Văn tiến trong việc chọn đề tài và hoàn
thành bài viết. Nhng do trình độ nhận thức và thời gian có hạn nên bài viết không

những nhu cầu cần thiết khi ốm đau, tai nạn, thai sản Trong thực tế, nhiều khi
các tròng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không phải chi trả một đồng nào.
Nhng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ một lúc phải bỏ ra trong một lúc
nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn.Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh,
giới thợ liên kết đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này
diền ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội.
Do vậy, Nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp
này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nớc, mặt khác buộc các giới chủ và giới
thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ
dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê .Số tiền đóng góp của
cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Qũy
này còn đợc bổ sung từ ngân sách Nhà nớc khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống
cho ngời lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối
quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải, cuộc
sống của ngời lao động và gia đình họ ngày càng đợc đảm bảo ổn định. Giới chủ
2
Chuyên đề thực tập
cũng thấy mình có lợi và đợc bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thờng,
tránh đợc những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung đ-
ợc thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh
lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên đ-
ợc thế giới quan niệm là BHXH đối với ngời lao động. Nh vậy, BHXH là sự đảm
bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời lao động khi họ gặp
phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ
sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho
ngời lao động và gia đình họ góp phần đảm an toàn xã hội .
2. Bản chất
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là
trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trờng, mối quan hệ

Đảng và Nhà nớc ta, BHXH có những chức năng chủ yếu sau:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động tham gia
BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất
việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho
cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết tuổi lao
động theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả
năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, ngời lao động cũng sẽ đợc
hởng trợ cấp BHXH với mức hởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời
điểm và thời hạn đợc hởng phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất
của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động
của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia
BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có ngời lao động mà cả ngời sử dụng lao
động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ
cấp cho một số ngời lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số l-
ợng những ngời này thờng chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số ngời tham gia đóng
góp. Nh vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu
nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những ngời có thu
nhập cao và thấp, giữa ngời khỏe mạnh đang lao động với những ngời ốm yếu
phải nghỉ việc v v Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực
hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao
năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham
gia lao động sản xuất, ngời lao động đợc chủ sủ dụng lao động trả lơng hoặc tiền
công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ
cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn
đợc đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, ngời lao động luôn yên tâm, gắn bó
tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất,
nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện nh
một đòn bẩy kinh tế kích thích ngời lao động nâng cao năng suất lao động cá

kể cả khi họ đang còn trong độ tuổi lao động.
Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh
tế xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH
cũng ngày càng cao.
II . Những nội dung cơ bản của BHXH
1. Khái niệm về BHXH
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời
lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động,
mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm
đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn
xã hội.
2. Đối tợng của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và
đến nay đã đợc thực hiện ở tất cả các nớc trên thế giới. Tuy BHXH ra đời sớm
5
Chuyên đề thực tập
nh vậy nhng một số khái niệm cơ bản của chúng nh: đối tợng tham gia, đối tợng
đợc bảo hiểm, đối tợng thụ hởng quyền lợi bảo hiểm đôi khi còn có sự nhầm lẫn
và có nhiều quan điểm cha thống nhất. Có nhiều lúc còn lẫn lộn giữa đối tợng
BHXH với đối tợng tham gia BHXH.
Nh chúng ta đã biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị
giảm hoặc bị mất đi do ngời lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm vì các nguyên nhân nh: ốm đau, tai nạn, già yếu Chính vì vậy, đối tợng
bảo hiểm xã hội chính là thu nhập của ngời lao động bị biến động giảm hoặc
mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm .
Ngời lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tợng tham gia, vừa là đối t-
ợng đợc bảo hiểm và họ cũng là đối tợng đợc hởng quyền lợi BHXH (chiếm
phần lớn trong các trờng hợp phát sinh trách nhiệm BHXH).
Đối tợng tham gia BHXH không chỉ có ngời lao động mà còn có ngời sử
dụng lao động và Nhà nớc. Sở dĩ ngời sử dụng lao động tham gia vào BHXH là

Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nớc tham gia công ớc Giơnevơ thực
hiện kiến nghị đó ở mức độ kác nhau.
ở nớc ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nớc ta hiện nay bao gồm 5
chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hu trí và chế độ tử tuất .
4. Quỹ bảo hiểm xã hội
4.1. Khái niệm quỹ BHXH
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà n-
ớc.
Quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm:
ngời lao động, ngời sử dụng lao động, Nhà nớc nhằm mục đích chi trả cho các
chế độ BHXH và đảm bảo hoạt động của hệ thống BHXH.
4.2. Đặc điểm
- Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong
hệ thống tài chính quốc gia. Là tổ chức tái chính nằm giao thoa giữa ngân sách
nhà nớcvới các tổ chức tài chính Nhà nớc, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tài
chính dân c.
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính không hoàn
trả. Tính không hoàn trả của quỹ BHXH đợc áp dụng đối với ngời đã tham gia
BHXH trong suốt quá trình lao động nhng không ốm đau, tai nạn lao động, sinh
con.
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHXH gắn liền với chức năng vốn có
của nhà nớc là vì quyền lợi của ngời lao động chứ không vì mục đích kiếm lời,
đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và điều kiện
lịch sử trong từng thời kì của từng quốc gia. Khi nền kinh tế càng phát triển thì
càng có nhiều chế độBHXHđợc thực hiện, và bản thân từng chế độ cùng đợc áp
dụng rộng rãi hơn, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với ngời lao động càng đợc
nâg caovà họ càng có khả năng tham gia vào nhiều chế độ bảo hiểm xã hội.
- Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng đợc thể hiện thông qua mục
tiêu, mục đích của nó là chi trả cho các chế độ BHXH. Nhng mặt khác nó lại

+T
K

Trong đó : Q
T
BH
: Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm.
Đ

: Đóng góp của ngời lao động
Đ
SDLĐ
: Đóng góp của chủ sở hữu lao động
Đ
NN
: Đóng góp và hỗ trợ của nhà nớc
T
ĐT
: Thu từ hoạt động đầu t
T
TT
: Thu từ viện trợ
T
K
: Thu khác
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho
ngời lao động đợc phân chia cho cả ngời sử dụng lao động và ngời lao động trên
cơ sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích
giữa hai bên. Về phía ngời sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho
ngời lao động sẽ tránh đợc thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi

nguồn: các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lơng của xí nghiệp,
phần còn lại do ngân sách Nhà nớc đài thọ. Thực chất là không tồn tại quỹ
BHXH độc lập. Từ năm 1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp
15% quỹ lơng của đơn vị. Sau khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị
trờng, Chính phủ đã ban hành rộng rãi Nghị định 43/CP ngày 22/ 06/ 1993 và
Điều lệ BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 12 /CP ngày 26/
01/1995, trong các văn bản này đều quy định quỹ BHXH đợc hình thành từ các
nguồn sau đây:
- Ngời sử dụng lao động đóng góp 15% so với tổng quỹ tiền lơng của những
ngời tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% để chi trả các chế độ hu trí, tử
tuất và 5% để chi các chế độ ồm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp .
- Ngời lao động đóng bằng 5% tiền lơng tháng để chi các chế độ hu trí và tử
tuất.
- Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối
với ngời lao động.
- Các nguồn khác.
9
Chuyên đề thực tập
Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết
định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này phải đợc tính toán một cách
khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của
BHXH và ngời ta thờng sử dụng các phơng pháp toán học khác nhau để xác
định. Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán khác nhau:
- Dựa vào tiền lơng và thang lơng để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có
cơ sở xác định mức phí đóng.
- Quy định mức phí BHXH trớc rồi từ đó mới xác định mức hởng.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của ngời lao động để xác định mức hởng, rồi
từ mức hởng BHXH này có thể xác định đợc mức phí phải đóng.
- Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật nhng xác định phí BHXH lại khá

BH
= C
TC
+ C
QL
+ C
DP
+ C
ĐT
+ C
K
Trong đó:
Q
C
BH
: tổng chi BHXH
C
TC
: chi cho bộ máy quản lí
C
DP
: chi lập quỹ dự phòng
C
ĐT
: chi đầu t
C
K
: chi khác
Khoản chi thứ hai trong BHXH là chi cho việc quản lí nghiệp vụ BHXH.
Đây là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi bảo hiểm xã hội nhng nó cũng là

* Trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội đúng quy định.
- Trích tiền lơng của ngời lao động để đóng BHXH đúng quy định.
- Xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan khi có kiểm
tra, thanh tra về BHXH của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền.
* Quyền hạn:
- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ của
BHXH .
- Khiếu nại với cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền khi cơ quan BHXH có
hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.
b. Ngời lao động
* Trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.
- Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hởng chế độ BHXH.
- Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ về BHXH theo đúng quy định.
* Quyền hạn:
12
Chuyên đề thực tập
- Đợc nhận sổ bảo hiểm xã hội.
- Đợc nhận lơng hu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ điều
kiện hởng BHXH theo quy định tại Điều lệ BHXH.
- Khiếu nại với cơ quan nhà nớc có thẩm quyền khi ngời sử dụng lao động
hoặc tổ chức BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH.
c. Cơ quan bảo hiểm xã hội
* Trách nhiệm:
- Tổ chức thu, quản lí, sử dụng quỹ BHXH đúng quy định.
- Thực hiện các chế độ BHXH đúng quy định tại Điều lệ BHXH.
- Tổ chức việc trả lơng hu và trợ cấp BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện.
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về bảo hiểm xã hội.
- Thông báo định kì hàng năm về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội đối

( chi nhánh bhxh xã, phờng) : Quan hệ ngành ngang
Hội đồng quản lí BHXH Việt Nam là cơ quan quản lí cao nhất của BHXH
Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam đợc tổ chức thành hệ thống từ Trung ơng đến địa
phơng, gồm có:
ở Trơng ơng : Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng( gọi chung là tỉnh) là BHXH
tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam.
ở các quận, huyện, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh( gọi chung là huyện)
là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam do Tổng giám đốc quản lí và điều hành thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc thu bảo hiểm xã hội theo quy định của
Bộ luật lao động, Điều lệ BHXH và các quy định của Chính phủ.
- Quản lí quỹ BHXH và tổ chức việc chi trả BHXH cho ngời tham gia
BHXH đợc đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn.
- Đợc quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH cho các đối tợng hởng
chế độ BHXH khi có kết luận của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền về hành vi
man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu để đợc hởng chế độ bảo hiểm xã hội, đồng thời ra
14
Chuyên đề thực tập
văn bản thông báo việc từ chối chi trả đó cho đơng sự, cơ quan sử dụng lao động
và cơ quan pháp luật.
- Bồi thờng mọi khoản thu chi sai các quy định của Nhà nớc về BHXH cho
các đối tợng tham gia BHXH và chịu trách nhiệm trớc pháp luật.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện dự án và biện pháp để bảo tồn giá trị và
tăng cờng quỹ BHXH theo quy định của Chính phủ.
- Trình thủ tớng Chính phủ quyết định về mức chi phí quản lí, định mức lệ
phí thu, chi quỹ BHXH và các quy định khác có liên quan đến hoạt động BHXH
và tổ chức thực hiện các quy định nói trên.

- Văn phòng.
- Trung tâm thông tin- khoa học.
Nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế của các đơn vị nói trên do Tổng giám đốc
quy định.
Việc bổ nhiệm, miễm nhiệm chức vụ lãnh đạo của các tổ chức nói trên do
Tổng giám đốc quyết định.
Bảo hiểm xã hội tỉnh thực hiện các nhiệm vụ về BHXH trên địa bàn tỉnh
theo quy định của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội
tỉnh do một giám đốc quản lí và điều hành. Giúp việc giám đốc có 1 2 phó
giám đốc. Giám đốc, phó giám đốc BHXH tỉnh do Tổng giám đốc BHXH Việt
Nam bổ nhiệm và miễm nhiệm.
Nhiệm vụ, quyền hạn, biên chế các phòng chuyên môn nghiệp vụ nói trên
do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quyết định.
Bảo hiểm xã hội huyện có nhiệm vụ tiếp nhận đăng ký hởng chế độ bảo
hiểm xã hội do BHXH tỉnh chuyển đến; thực hiện việc đôn đốc, theo dõi nộp
BHXH đối với ngời sử dụng lao động và ngời lao động trên địa bàn; tổ chức
mạng lới hoặc trực tiếp chi trả các chế độ BHXH cho ngời đợc hởng trên địa bàn
huyện.
Bảo hiểm xã hội huyện do một giám đốc quản lí và điều hành. Các huyện
có khối lợng công việc nhiều có thể có phó giám đốc giúp việc do giám đốc
BHXH huyện bổ nhiệm và miễn nhiệm theo phân cấp của Tổng giám đốc BHXH
Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội huyện không có cơ cấu tổ chức phòng. Biên chế của
BHXH huyện do giám đốc BHXH tỉnh quyết định trong phạm vi tổng biên chế
của BHXH tỉnh đợc Tổng giám đốc phân bổ.
Giám đốc BHXH huyện quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng viên
chức thuộc quyền quản lí.
Việc thành lập BHXH huyện do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quy định
căn cứ vào khối lợng công việc, số lợng ngời và đơn vị tham gia BHXH trên địa
bàn. Tại những nơi cha có đủ điều kiện thành lập BHXH huyện thì giám đốc

- Trợ cấp khi tàn phế
- Trợ cấp cho ngời còn sống( trợ cấp mất ngời nuôi dỡng)
Nhng trên thực tế không phải nớc nào cũng thực hiện đợc toàn bộ 9 chế độ
trên và không phải nớc nào cũng có phạm vi, đối tợng, nguồn hình thành quỹ
giống nhau. Có nghĩa là việc thực hiện BHXH ở những nớc khác nhau thì khác
nhau, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nớc và và hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai
đoạn phát triển mà mỗi nớc có hình thức áp dụng khác nhau cho phù hợp.
Trên thế giới có 35 nớc thực hiện đợc 9 chế độ, 37 nớc cha thực hiện đợc
chế độ thứ 3 ( trợ cấp thất nghiệp), 67 nớc cha thực hiện đợc chế độ thứ 3 và thứ
6 ( trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia đình).
2. Tại Việt Nam
Bảo hiểm xã hội có mầm mống dới thời phong kiến Pháp thuộc. Sau cách
mạng tháng 8/1945 Chính phủ nớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà -nay là nớc
17
Chuyên đề thực tập
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đã ban hành sắc lệnh 29/SL ngày
12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hu trí. Các chế độ này
đợc thực hiện đối với những ngời làm việc trong các cơ quan từ cơ sở đến Trung
ơng.
Tuy nhiên, do chiến tranh và khả năng kinh tế có hạn nên chỉ một bộ phận
lao động xã hội đợc hởng quyền lợi BHXH.
Sau khi hoà bình lập lại, ngày 27/12/ 1961 Nhà nớc ban hành Nghị định
128/CP của Chính phủ về Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với
công nhân viên chức và đợc thực hiện từ ngày 1/1/1962. Sau hơn 20 năm thực
hiện BHXH đối với công nhân viên chức, các chế độ bảo hiểm xã hội đã bộc lộ
nhiều hạn chế. Do đó ngày 18/9/1985 Chính phủ (lúc đó là Hội Đồng Bộ Trởng)
đã ban hành Nghị định 236/HĐBT về việc sửa đổi, bổ sung chính sách và chế độ
BHXH đối với ngời lao động. Nội dung chủ yếu của Nghị định này là điều chỉnh
mức đóng và hởng BHXH.
Tuy nhiên chính sách BHXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế không phù

BHXH ít song tỷ trọng ngân sách Nhà nớc hỗ trợ cho mục tiêu này lớn. Sau năm
1987 tỷ lệ này đợc nâng lên song số ngời hởng tăng lên, đặc biệt từ năm 1990
với việc thực hiện các Quyết định 176/ HĐBT và 111/CP của Chính phủ về giảm
biên chế khu vực nhà nớc nên số ngời hởng BHXH tăng đòi hỏi ngân sách Nhà
nớc phải chi bù rất lớn.
Thời kì 1993 đến nay đợc đánh dấu bằng việc ban hành Nghị định 43/CP
ngày 1/4/1993 của Chính phủ. Theo Nghị định này mức thu quỹ BHXH đợc nâng
lên 20% trong đó một sự thay đổi căn bản đó là: ngời lao động phải đóng 5%,
15% còn lại do ngời sử dụng lao động đóng. Quỹ BHXH trở thành nguồn tài
chính tập trung tơng đối độc lập với ngân sách Nhà nớc. Ngoài ra quỹ BHXH
còn đợc bổ sung từ việc sử dụng tiền nhàn rỗi đầu t vào hoạt động sản xuất kinh
doanh sinh lời. Khoản đầu t này đang thấp và sẽ đợc tăng dần trong các năm tiếp
theo.
Tổng các nguồn thu BHXH tăng nhanh do cả hai nguồn ngân sách Nhà
nớc hỗ trợ và tiền đóng BHXH của đơn vị sử dụng lao động và ngời lao động. Đó
là kết quả hoạt động của việc thực hiện điều lệ BHXH ban hành theo Nghị định
12/CP theo tổ chức mới. Việc hình thành một hệ thống BHXH tập trung đảm bảo
thu phí BHXH kịp thời và đầy đủ hơn làm tăng khá nhanh quỹ BHXH. Nguồn từ
ngân sách Nhà nớc để chi trả cho những ngời hởng BHXH trớc tháng 1 năm
1995.
Nhìn chung sự hình thành quỹ BHXH đã dần dần đi vào ổn định, mang tính
quy luật chung. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân ngân sách nhà nớc phải hỗ trợ
kéo dài nhiều năm, nhng xu hớng giảm dần, còn chi BHXH từ quỹ (chi cho
những ngời về nghỉ hu sau 1/1/1995) sẽ tăng lên do vậy cần phải có các giải
pháp để tăng nhanh nguồn thu BHXH.
Hiện nay các hoạt động đầu t đợc Chính phủ cho phép:
- Mua trái phiếu tín phiếu của kho bạc Nhà nớc và các ngân hàng thơng mại
Nhà nớc.
- Cho vay( Ngân sách Nhà nớc vay), quỹ hỗ trợ đầu t Quốc gia vay, các
ngân hàng thơng mại Nhà nớc vay.

nh hiện nay ngân sách hàng năm phải cấp bù rất lớn. Ngoài ra chính sách BHXH
cũng có tác động lớn đến chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình, chính sách
đối với những ngời tham gia chiến trờng B,C,K.
2.Mối quan hệ giữa BHXH với chính sách kinh tế
Mối quan hệ giữa chính sách BHXH với chính sách kinh tế đợc thể hiện ở
chỗ hai loại chính sách này có giới hạn hợp lí. Nếu không xác định đợc giới hạn
hợp lí này sẽ dẫn đến hoặc là xây dựng một hệ thống BHXH không phù hợp khả
năng và trình độ phát triển của nền kinh tế làm cho chính sách BHXH thực thi
không cao, tác động tiêu cực đến nền sản xuất xã hội. Hoặc nếu chỉ tập trung
phát triển kinh tế, coi trọng yếu tố năng suất lao động mà không đầu t thoả đáng
cho chính sách xã hội trong đó có chính sách BHXH sẽ làm mất ổn định xã hội.
Bởi vậy thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ tạo điều kiện để giải phóng năng lực
20
Chuyên đề thực tập
sản xuất, tạo năng suất lao động cao, sản xuất ổn định. Mối quan hệ giữa chính
sách BHXH với chính sách kinh tế còn thể hiện thông qua mối quan hệ giữa tăng
trởng kinh tế và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội. Tăng trởng kinh tế tự thân
nó không dẫn tới tiến bộ xã hội và càng không dẫn tới công bằng xã hội một
cách trực tiếp, mặc dù tăng trởng kinh tế ở một mức độ nào đó có thể thúc đẩy
tiến bộ xã hội. Tăng trởng kinh tế phải qua khâu phân phối mới đa các chính
sách BHXH nói riêng và phúc lợi xã hội nói chung tới các tầng lớp dân c. tăng
trởng kinh tế là một điều kiện quan trọng để thực hiện chính sách BHXH có hiệu
quả. Ngợc lại khi xem xét chính sách BHXH dới góc độ một chính sách kinh tế
khi hoạch định chính sách BHXH không hợp lí, xây dựng mức đóng BHXH
không phù hợp sẽ làm nâng giá thành sản phẩm lên cao, hiệu quả sản xuất kinh
doanh giảm, hạn chế tăng trởng kinh tế. Tuy nhiên giữa tăng trởng kinh tế và
chính sách BHXH cũng có sự mâu thuẫn. Qúa trình nâng cao hiệu quả kinh tế th-
ờng xuất hiện các hiện tợng cố tình không thực hiện chính sách BHXH cho ngời
lao động nh đóng BHXH không đứng mức thu nhập, kí hợp đồng lao động ngắn
hạn, trang bị bảo hộ lao động không đảm bảo gây ra tai nạn lao động- bệnh nghề

Tóm lại, với điều kiện tự nhiên nh trên, Vinh hoàn toàn có đủ điều kiện để
trở thành một trong những trung tâm giao lu kinh tế văn hoá của tỉnh Nghệ An
nói riêng và cả nớc nói chung.
2. Đặc điểm kinh tế xã hội.
Thành phố Vinh có nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế, là đô thị loại 2
vừa đợc xây dựng lại sau chiến tranh, đất đai cho quy hoạch là nhiều. Song trên
thực tế khai thác những tiềm năng còn hạn chế. Thu ngân sách hàng năm đạt
thấp. Đời sống của dân c tuy có đợc cải thiện so với trớc đây nhng vẫn thuộc
dạng có mức thu nhập thấp so với cả nớc. Thời gian qua thành uỷ, UBND thành
phố Vinh cùng với ban ngành và các phờng xã đã có nhiều cố gắng trong việc
22
Chuyên đề thực tập
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đối với vùng nội thành khuyến khích các hộ mở
rộng cơ sở sản xuất thủ công nghiệp củng cố cơ sở dạy nghề nhằm tạo ra nhiều
cơ sở làm việc mới.
Thành phố Vinh có dân số 224.536 ngời, là thành phố có số dân cha đông
so với loại đô thị. Nguồn bổ sung lao động hàng năm rất lớn, khoảng 2.000 ngời.
Thành phố Vinh nói riêng, Nghệ An nói chung là quê hơng có truyền thống
hiếu học, đã đóng góp cho đất nớc nhiều nhân tài, nhiều trờng hợp giữ những vị
trí quan trọng trong hệ thống chính trị kinh tế ở trong nớc. Tuy vậy trong chiến
tranh, Vinh là thành phố bị tàn phá nặng nề, các cơ sở sản xuất đều bị phá huỷ,
sức ngời sức của đợc huy động một cách tối đa. Hiện nay với nguồn bổ sung lao
động hàng năm lớn chủ yếu là học sinh hết học phổ thông và diện hoàn thành
nghĩa vụ quân sự về. Trình độ học vấn tay nghề còn thấp. Vấn đề tạo công ăn
việc làm để số lao động này có thu nhập nuôi sống bản thân và thực hiện các
nghĩa vụ với nhà nớc đang là gánh nặng đối với cấp uỷ và chính quyền thành phố
Vinh.
II. Hệ thống quản lý và bộ máy hoạt động của bhxh tP vinh.
1. Hệ thống quản lý.
BHXH Thành phố Vinh là cơ quan bảo hiểm cấp huyện do đó, theo quy

bàn nộp đầy đủ, kịp thời ghi sổ xác nhận số thu BHXH cho ngời lao động
- Tổ chức thực hiện việc chi trả lơng và trợ cấp cho các đối tợng hởng
BHXH đảm bảo an toàn, đầy đủ, đúng hạn.
24
Chính phủ
bộ lđtb và xh
BHXHVN
Chuyên đề thực tập
- Thờng xuyên kiểm tra, giám sát việc chi trả BHXH của đơn vị cơ sở, thu
hồi các khoản chi sai chế độ và báo cáo cơ quan BHXH cấp trên.
- Theo dõi di biến động các đối tợng đợc hởng BHXH theo từng tháng.
- Lu trữ hồ sơ các đối tợng đợc hởng BHXH theo phân cấp của thành phố.
- Lập báo cáo quyết toán quý, năm về thu, chi BHXH, chi quản lý bộ máy
gửi BHXH tỉnh, thành phố.
2.2 Bộ máy hoạt động.
Là cơ quan BHXH cấp huyện, BHXH thành phố Vinh là đơn vị có t cách
pháp nhân không có tổ chức phòng ban mà nó đợc chia thành 3 bộ phận:
a. Bộ phận kế hoạch tài chính (Do ông Nguyễn Đình Chân phụ trách)
Bộ phận này có chức năng:
- Tiếp nhận hồ sơ danh sách chi trả và nguồn kinh phí do BHXH tỉnh lập
chuyển về, tổ chức chi trả cho ngời đợc hởng, kiểm tra giám sát việc chi trả và
thanh quyết toán với cấp trên.
- Phối hợp với bộ phận thu và bộ phận chế độ để tiếp nhận hồ sơ chi 3 chế
độ(ốm đau, thai sản và nghỉ dỡng sức). Thông qua đơn vị sử dụng lao động để
chi trả cho ngời đợc hởng. Nộp kịp thời tiền thu BHXH vào tài khoản của
BHXH tỉnh.
- Thực hiện chế độ, tiêu chuẩn định mức chi tiêu tàI chính, chế độ kế toán
của đơn vị theo quy định của nhà nớc và cơ quan BHXH cấp trên. Thực hiện
nghiêm túc chế độ giao nhận và quản lý tiền mặt theo quy định của bộ tài
chính.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status