Đồ Án Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện lao động đến sức khỏe người lao động trong ngành xây dựng - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, lao động sản xuất trong
nền công nghiệp luôn là vấn đề mang tính nền tảng. Hơn nữa, trong những năm
gần đây, nhiều khu công nghiệp lớn ở nước ta được hình thành với hàng loạt các
nhà máy, xí nghiệp và các dịch vụ kèm theo đã giải quyết việc làm cho một số
lượng lao động lớn. Tuy nhiên, trước tình hình phát triển nhanh và nhiều của các
cơ sở công nghiệp, dịch vụ…thì vấn đề môi trường, vệ sinh lao động như: yếu tố
vi khí hậu, bụi, ánh sáng, chất độc, hơi khí độc, tiếng ồn, độ rung sốc, tia phóng
xạ, các vi sinh vật gây hại…phát sinh và có diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến
sức khỏe cũng như tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Mặc
dù đã biết nhiều là trong quá trình lao động sản xuất, người lao động thường
xuyên tiếp xúc với các yếu tố nguy hại với hàng trăm nghìn các hóa chất và dung
môi độc hại được đưa vào sản xuất và phục vụ đời sống cũng như hàng trăm các
yếu tố vật lý, sinh học có ở trong môi trường sống và lao động. Và hàng ngày
chúng tác dụng lên sức khỏe người lao động có khả năng gây nên những rối loạn
bệnh lý hoặc làm mất cân bằng các phản ứng sinh lý, sinh hóa của cơ thể người lao
động trong thời kỳ mới tiếp xúc…Hơn nữa, đa phần các doanh nghiệp chạy theo
lợi nhuận, không ngừng tăng ca, tăng cường độ và thời gian lao động với tư thế
làm việc gò bó, kém thoải mái… Họ bỏ qua các vấn đề chăm sóc sức khỏe cho
người lao động làm cho người lao động có khả năng mất sức, tiêu hao nhiều năng
lượng, gây stress…ảnh hưởng đến tâm sinh lý của họ. Khi đó người lao động sẽ
làm việc với tâm trạng không thoải mái, bị áp lực…thì năng suất lao động không
cao mà nguy hiểm hơn là khi họ mất tập trung có khả năng sẽ xảy ra tai nạn lao
động. Mặt khác nước ta đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, thô sơ với các cơ
sở hạ tầng, phương tiện lao động và điều kiện sản xuất cũng lạc hậu, không đồng
bộ, đồng thời với nhịp sản xuất tăng nhanh như thế mà trên thực trạng môi trường
bị ô nhiễm, do vậy các tác hại của yếu tố vệ sinh lao động vẫn không ngừng tăng
lên. Hậu quả của nó là các rối loạn bệnh lý, các bệnh nghề nghiệp ngày càng gia
tăng, đây là vấn đề hết sức nan giải trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, đòi
hỏi nhiều cấp, nhiều ngành phải phối hợp giải quyết vì mục tiêu sức khỏe cho
người lao động mới của đất nước. Bởi vì mong muốn được làm việc trong một

không thoải mái, làm việc trên cao ở những vị trí cheo leo, không lang cang, tay
vịnh…, trong tầng hầm, có nhiều bụi, tiếng ồn, rung, hơi khí độc, … Và như thế
ta thấy chỉ có đánh giá đúng mức độ khắc nghiệt của điều kiện lao động không tốt
do các yếu tố có hại và nguy hiểm này thì mới tìm ra được giải pháp hiệu quả và
kinh tế nhất để nâng cao năng suất lao động và đảm bảo sức khỏe cho người công
nhân lao động.
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu
Mục lục
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VỆ SINH LAO ĐỘNG
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Điều kiện lao động
1.1.2. Vệ sinh lao động
1.1.3. Bệnh nghề nghiệp
1.2. Mục đích của vệ sinh lao động
1.3. Phân loại các yếu tố có hại
1.4. Đánh giá điều kiện lao động
Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY
2.1. Đặc thù của ngành xây dựng 2.2. Thực trạng về điều kiện lao động của công ty
2.2.1. Thực trạng về điều kiện lao động của ngành xây dựng2.2.2. Thực trạng về điều kiện lao động của công ty

2.2.3. Quy trình làm việc tại công trường (các công đoạn thi công)

Đánh giá, phân tích điều kiện lao động phải tiến hành đánh giá, phân tích đồng
thời trong mối quan hệ tác động qua lại của tất cả các yếu tố trên.
1.1.2. Vệ sinh lao động
Vệ sinh lao động nghiên cứu những quá trình sinh lý của cơ thể trong lúc lao
động, những quan hệ qua lại giữa cơ thể người lao động và ngoại cảnh hay môi
trường lao động; là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật
nhằm phòng ngừa các yếu tố có hại trong sản xuất và cải thiện điều kiện làm việc
cho người lao động.
Yếu tố có hại trong sản xuất là yếu tố tác động gây bệnh cho người lao động
Các tác hại nghề nghiệp: Người công nhân trong quá trình lao động sản xuất có
thể tiếp xúc với các yếu tố độc hại, các yếu tố đó có thể xuất phát từ nguyên liệu,
sản phẩm, từ thiết bị công nghệ sản xuất, từ ddiieuf kiện thực hiện công việc, từ
môi trường nơi làm việc…Và có thể ảnh hưởn đến sự thoải mái của cơ thể, đến
sức khỏe người lao động. Đó là các yếu tố nghề nghiệp hay các tiếp xúc nghề
nghiệp. Vậy tác hại nghề nghiệp là khi các yếu tố nghề nghiệp gây tác dụng có hại,
gây hậu quả xấu trên sức khỏe và khả năng lao động của người lao động.
Sơ đồ:
Sơ đồ 1: Mối quan hệ đa chiều tạo nên trạng thái cân bằng động hoặc mất cân
bằng, suy giảm sức khoẻ và lao động cùng với các tác hại nghề nghiệp (Vệ sinh
lao động và bệnh nghề nghiệp-Đỗ Hàm)
1.1.3. Bệnh nghề nghiệp
Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp
tác động đối với người lao động. Hiện nay, có 25 bệnh nghề nghiệp và Danh mục
các loại bệnh nghề nghiệp do bộ y tế và bộ lao động thương binh và xã hội ban
hành sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người
sử dụng lao động. (Điều 106 Bộ luật lao động)
1.2. Mục đích của vệ sinh lao động
Mục đích nghiên cứu của vệ sinh lao động là nhằm làm triệt tiêu những nguyên
nhân có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và khả năng lao động của người công
nhân lao động. Do đó, nhiệm vụ chính của vệ sinh lao động là dùng những biện

nghệ và khí hậu địa phương.
1.3.1.2. Bức xạ nhiệt, ion, sóng điện từ.
- Bức xạ không ion hóa: Gồm ánh sáng hay sự chiếu sáng, tia laser, tia hồng ngoại,
tia cực tím,…
- Bức xạ ion hóa: Các tia X (tia Roenghen), α, β, γ…
- Các sóng điện từ: rada, truyền thanh truyền hình, vô tuyến viễn thông (luyện
kim, sưởi ấm).
- Siêu âm…
1.3.1.3. Tiếng ồn và rung chuyển
- Tiếng ồn là những âm thanh gây nhiễu cảm giác khó chịu, quấy rối sự làm việc
và nghỉ ngơi của con người và tiếng ồn có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe, gây
điếc cho người lao động khi môi trường lao động phát sinh ra tiếng ồn vượt tiêu
chuẩn cho phép là 85dBA
- Rung chuyển là những dao động của những vật dụng, máy móc, thiết bị nào đó…
Rung chuyển xảy ra rất phổ biến trong sản xuất. Ngày nay máy móc được sử dụng
nhiều nên số người tiếp xúc với rung cũng ngày một tăng. Các máy móc gây rung
với các tần số khác nhau, biên độ khác nhau, gia tốc khác nhau sẽ gây hại cho cơ
thể một cách toàn thân hay cục bộ.
1.3.1.4. Chiếu sáng không hợp lý
Chiếu sáng không hợp lý tại nơi làm việc nghĩa là ánh sáng không đạt tiêu chuẩn,
chất lượng ánh sáng kém…khi đó mắt phải điều tiết nhiều trở nên mệt mỏi, trình
trạng mắt bị mệt mỏi kéo dài sẽ gây ra căng thẳng làm chậm phản xạ thần kinh,
khả năng phân biệt của mắt đối với sự vật dần dần giảm sút, làm khả năng tập
trung giảm. Khi đó khả năng xảy ra tai nạn lao động cao.
1.3.2. Các yếu tố hóa học:
1.3.2.1. Bụi trong sản xuất.
Bụi là những hại nhỏ của vật chất rắn, kích thước thay đổi từ trên 0,001 µm đến
hàng trăm micromet, chúng tập hợp hoặc rải rác trong môi trường, là tác hại phổ
biến nhất trong các tác hại nghề nghiệp của môi trường không những bởi tính độc
hại của nó mà còn là do chúng rất phổ biến, có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ trong môi

lên bộ phận của cơ thể khi làm việc thường xuyên và lâu dài.
1.3.4.3. Mệt mỏi trong lao động
Mệt mỏi là trạng thái phức tạp của cơ thể xảy ra sau một quả trình lao động biểu
thị bằng sự giảm khả năng lao động và có cảm giác khó chịu. Hay mệt mỏi là do
rối loạn các chức năng điều hòa phối hợp của hệ thần kinh trung ương dẫn đến làm
giảm hoặc ngừng hoạt động của tất cả các hệ thống.
Trước đây người ta chỉ biết đến mệt mỏi cơ bắp, ngày nay chia mệt mỏi ra làm
nhiều loại:
- Mệt mỏi thể lực chung gây ra bởi sự căng thẳng của toàn bộ cơ thể, mức chịu tải
của cơ bắp.
- Mệt mỏi thần kinh gây ra bởi sự căng thẳng của chức năng thần kinh vận động.
- Mệt mỏi tâm lý gây ra bởi lao động trí óc.
- Mệt mỏi mắt gây ra bởi sự căng thẳng của cơ quan thị giác.
- Mệt mỏi gây ra bởi công việc đơn điệu hoặc ảnh hưởng của môi trường.
- Mệt mỏi mãn tính gây ra bởi nguyên nhân khác nhau và kéo dài.
1.3.5. Yếu tố tâm lý xã hội:
- Tâm lý, tình cảm của người lao động trong mối quan hệ gia đình, xã hội.
- Tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến đời sống người lao động.
- Sự cố bất ngờ xảy ra đối với người lao động.
- Thời tiết, khí hậu chung.
- Tài chính bản thân, gia đình người lao động.
1.4. Đánh giá điều kiện lao động:
Để đánh giá điều kiện lao động chúng ta dựa vào bản Hệ thống chỉ tiêu về điều
kiện lao động (gồm 22 yếu tố)
- Đánh giá mức độ khắc nghiệt tác động đồng thời của nhiều yếu tố điều kiện lao
động bằng 3 công thức sau:
• Công thức của Viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội của Việt Nam:
21.172.1
2
++−= XXy

0








+=


=
n
i
i
n
x
xxy
Phân loại lao
động theo
mức độ
tác động tổng
hợp các yếu tố
điều kiện lao
động
I II III IV V VI
Giá trị theo y <18 19 - 33 34 - 45 46 – 53 54 - 58 59 - 60
Công thức Pukhov tính mức độ khắc nghiệt tổng hợp của các yếu tố điều kiện lao
động theo yếu tố điều kiện khắc nghiệt trội, lớn nhất.

64,0
6,15−y
)
Trong đó:
- y: mức độ khắc nghiệt lao động tổng hợp của các yếu tố điều kiện lao động.
- 15,6 và 0,64 là hệ số hiệu chỉnh.
Năng suất lao động được tính theo công thức:
NSLĐ = (
1
1
2

KNLĐ
KNLĐ
)
×
0,2
×
100%
Trong đó:
- KNLĐ
2
là khả năng lao động sau khi đã thực hiện biện pháp cải thiện điều
kiện lao động.
- KNLĐ
1
là khả năng lao động trước khi thực hiện biện pháp cải thiện điều
kiện lao động.
- 0,2 là hệ số hiệu chỉnh.
Chương 2

nhiều khó khăn phức tạp, nguy hiểm và độc hại, cho nên phải hết sức quan tâm
đến cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động trong quá
trình lao động.
2.2. Thực trạng về điều kiện lao động của ngành xây dựng
2.2.1. Thực trạng về điều kiện lao động của ngành xây dựng
Ngành Xây dựng là ngành sử dụng nhiều lao động, chiếm từ 9
÷
12%, có khi tới
20% lực lượng lao động của mỗi quốc gia. Hiện nay, lực lượng lao động trong
ngành khoảng 1,3 triệu người. Người công nhân lao động phải làm việc trong điều
kiện lao động phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố có hại và nguy cơ mất an toàn dẫn
đến tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
Năm 2008, Bệnh viện Xây dựng đã tiến hành đo kiểm 13.828 mẫu về môi trường
lao động, nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, ánh sáng, bụi, tiếng ồn, độ rung, hơi, khí
độc, phóng xạ và từ trường tại 41 cơ sở. Kết quả kiểm tra cho thấy tuy môi trường
lao động được chuyên môn và Công đoàn các cấp quan tâm đầu tư khắc phục
nhằm từng bước cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, nhưng vẫn còn
9,84% số mẫu không đạt tiêu chuẩn cho phép (năm 2007 là 13,1%).
Một số điều kiện làm việc như nhiệt độ, bụi, tiếng ồn số mẫu không đạt tiêu chuẩn
vẫn chiếm tỉ lệ cao. Bệnh viện cũng đã khám, phát hiện bệnh nghề nghiệp cho
1.690 lượt người, trong đó 11 trường hợp mắc bệnh điếc do tiếng ồn.
Ngoài điều kiện làm việc và môi trường lao động chưa đạt chuẩn theo quy định,
thì thiết bị, máy móc, công cụ lao động không đảm bảo an toàn vẫn đưa vào sử
dụng và người lao động không được trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá
nhân trong lao động sản xuất. Đây đều là những nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao
động và bệnh tật, bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Theo báo cáo của các đơn vị trực thuộc Bộ xây dựng, năm 2008 đã xảy ra 167 vụ
tai nạn lao động, trong đó 15 vụ tai nạn lao động chết người làm 21 người chết. Vụ
tai nạn lao động chết người nghiêm trọng nhất xảy ra ngày 15.7.2008 tại cảng Cái
Lân-Quảng Ninh, làm 7 công nhân lao động của công ty CP Lilama bị chết và 1

những người lao động nông nhàn, công nhân chưa được đào tạo một cách có hệ
thống nên không có trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ để thực hiện công
việc còn thấp, kiến thức về xây dựng chủ yếu được thu gom trong thực tế công
việc, chủ yếu học hỏi qua người khác để nâng cao trình độ tay nghề và khi trình độ
tay nghề lên thì đồng nghĩa với việc được tăng lương. Do đó, khi tiếp xúc với các
thiết bị công nghệ hiện đại, các công trình phức tạp thường lúng túng khi thao tác,
năng suất lao động không cao, chất lượng lao động bị hạn chế và dễ gây tai nạn
lao động. Ngoài ra việc người công nhân lao động khi sử dụng các phương tiện
bảo vệ cá nhân chỉ mang hình thức, sử dụng đai an toàn không đúng cách, móc đai
không đúng điểm cố định, đai không chất lượng khi làm việc trên cao, không đội
nón bảo hộ, găng tay…Như vậy từ việc đào tạo không có hệ thống và cách làm
cẩu thả cùng với cách nhìn nhận về vấn đề an toàn cho mình và cho người khác
không cao nên nguy cơ xảy ra tai nạn là có thể tại công trường.
2.2.3. Quy trình làm việc tại công trường (các công đoạn thi công)
San ủi mặt bằng
Copfa, cốt thép
Lắp dựng cốt thép, đổ sàn
Đổ bê tông sàn, cột
Làm móng, tầng hầm
Sơ đồ2: Các công đoạn thi công tại công trường
Xây tô
Hoàn thiện công trình
Lắp đặt cửa, điện nước
Chương 3
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ KHẮC NGHIỆT CỦA ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG
ĐẾN SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
3.1. Đánh giá vệ sinh lao động tại công trường xây dựng của công ty
Để có thể đánh giá điều kiện vệ sinh lao động tại một công trường xây dựng nhất
định, thì trước hết phải giám sát môi trường lao động tại đó. Vì giám sát môi
trường lao động là phải xác định cho được mức độ các yếu tố lý hóa của môi

Nhịp điệu cử động, số lượng thao
tác trong 1 giờ
Lớp chuyển động của
cánh tay

500 lần/h
600 lần/h
Vị trí, tư thế lao động khi làm
việc trên cao

5m
20m, treo người
trên dây
3.1.2. Đánh giá nhận xét kết quả đo đạc
Từ bảng kết quả đo đạc môi trường ta nhận thấy
- Nhiệt độ: Kết quả đo được tại một vị trí lao động (giàn giáo) trên công trường là
37
0
C, cao hơn tiêu chuẩn cho phép của bộ y tế quy định là 5
0
C. Vì do tính chất làm
việc ngoài trời nên người công nhân lao động chịu ảnh hưởng trực tiếp của ánh
nắng mặt trời, chủ yếu là trong quá trình lao động sản xuất và từ thân nhiệt của
người lao động. Hơn thế nữa do sự biến đổi khí hậu toàn cầu, sự nóng lên của trái
đất góp phần làm cho môi trường lao động của người công nhân luôn nóng bức
với nhiệt độ luôn lớn hơn 35
0
C vào mùa khô. Nhiệt độ cao ảnh hưởng đến sức
khỏe của người công nhân làm cho người công nhân luôn mệt mỏi, mất nhiều mồ
hôi, mất nước, muối gây nên các bệnh về tim mạch, hô hấp, thay đổi chức năng

tường… Đặt biệt trong ngành xây dựng bụi luôn là một yếu tố độc hại cao vì là bụi
khoáng (bụi đá, bụi xi măng, bụi amiăng. bụi than, cát, đất, bụi kim loại và độc
nhất là %SO
2
có trong bụi phát sinh trong quá trình thi công…). Tại công trường
bụi phát sinh và phát tán trong quá trình làm việc như sàn cát, trút xi măng, bởi
máy cắt đá, gạch men, di chuyển vật liệu, làm sạch bề mặt sắt còn gọi là bụi sơ
cấp. Nhưng khi nó có trạng thái khô và dưới tác dụng của gió, của việc chà nhám
và quét dọn vệ sinh, từ đó hình thành bụi thứ cấp nên khi người công nhân lao
động làm việc trong môi trường bụi sau một thời gian thì sẽ ảnh hưởng đến hệ hô
hấp và nặng thì có thể gây bệnh nghề nghiệp bệnh bụi phối silic, amiang… Ngoài
ra cũng gây ra một số bệnh khác như viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản và bụi
có thể gây cháy nổ, mài mòn thiết bị sản xuất với số lượng bụi phát sinh ra nhiều,
và kết quả đo được tại nơi làm việc của công nhân là 60 mg/m
3
vượt tiêu chuẩn
cho phép rất nhiều lần.
- Tiếng ồn: Công trường xây dựng là nơi tập trung các loại máy móc thiết bị phục
vụ cho công tác thi công. Do đó nguyên nhân gây ồn là từ các thiết bị máy móc
hay là sự pha trộn từ những máy khoang, chất gây nổ để phá dỡ công trình cũ,
tiếng làm việc của những máy cẩu, động cơ, xe chuyên chở, tiếng đập vào nhau
của kim loại, máy hàn, máy trộn bê tông… gây ồn cục bộ và phát tán ra môi
trường xung quanh. Gây ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động có thể gây ra tổn
thương thính giác, điếc nghề nghiệp, gây cảm giác khó chịu cho sự sinh hoạt và
nghỉ ngơi của dân cư vùng lân cận. Kết quả đo được 90dBA cao hơn tiêu chuẩn
cho phép 5dBA
- Vị trí, tư thế lao động: đa dạng, có thể đi lại nhiều, đứng lâu, khom cúi để mang
vác đá gạc, vật liệu xây dựng… nhiều lần trong ca làm việc, làm việc trên cao
bằng dây đai, đứng trên máy nâng giàn, đứng trên giàn giáo, ở những vị trí cheo
leo không có tay vịnh, lang cang bảo vệ…Nói chung nếu không có đầy đủ các

( số công nhân)
Năm 2009
( số công nhân)
Loại I 22% 14% 15%
Loại II 39% 25% 30%
Loại III 24% 35% 29%
Loại IV 15% 22% 21%
Loại V 0 4% 5%
Loại I: rất khỏe Loại II: khỏe Loại III: trung bình
Loại IV: yếu Loại V: rất yếu
3.2.2. Nhận xét kết quả khám sức khỏe
Qua bảng khám sức khỏe định kỳ (1 lần/ năm) trong vòng 3 năm trước
(2007-2009) của công ty ta thấy tình hình sức khỏe của người công nhân lao động
ngày một giảm, suy yếu đi. Tỉ lệ đạt sức khỏe loại I, II ngày càng giảm trong khi
đó tỉ lệ sức khỏe loại IV, V ngày càng tăng. Cho thấy người lao động phải làm
trong điều kiện lao động không mấy thuận lợi, có thể khắc nghiệt. Tuy nhiên có
giảm có tăng (loại I II,III) là bởi vì công ty có thể tuyển dụng thêm một số công
nhân mới thay thế một vài vị trí công việc, hay cho những công nhân có sức khỏe
quá yếu (số công nhân mới này có thể có sức khỏe tốt loại I, II và có thể loại III),
đồng thời công ty có thể thực hiện một vài giải pháp cải thiện điều kiện lao động
nhằm tăng năng suất và cải thiện sức khỏe cho công nhân.
Những người mới tuyển dụng thì sức khỏe tốt nhưng thiếu kinh nghiệm. Ngược lại
công nhân làm việc lâu năm, có nhiều kinh nghiệm thì sức khỏe ngày càng giảm
sút, năng suất lao động cũng giảm theo. Để tăng năng suất, công ty cần quan tâm
nhiều hơn đến vấn đề đầu tư cho công tác vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện làm
việc và huấn luyện công nhân lao động về công việc cần làm, an toàn lao động và
vệ sinh lao động.
3.3. Đánh giá điều kiện lao động tại công trường xây dựng
3.3.1. Tính toán mức độ khắc nghiệt của điều kiện lao động tại công trường.
Bảng kết quả đã đo được điều kiện lao động tại một vị trí trên công trường

C

500 lần/h
≤85
dBA
<5m ≤ 6mg/m
3
1cal/cm
2
/
phút
Trên
giàn
giáo
37 600 90
20m, đứng lâu,
tay chân có khi
không đúng vị
trí thuận lợi.
60 2
Số
điểm
4 3 3 5 4 4
Qua bảng đo kết quả điều kiện lao động ta thấy có một điều kiện khắc nghiệt nhất
là yếu tố bụi tại công trường xây dựng. Do đó ta sử dụng công thức Pokhov để
tính toán mức độ khắc nghiệt tổng hợp của các yếu tố điều kiện lao động theo yếu
tố điều kiện khắc nghiệt trội, lớn nhất.
y= [ x
max
+

2
lần lượt là mức độ khắc nghiệt tổng hợp các yếu tố điều kiện lao động
trước khi cải thiện và sau khi cải thiện điều kiện lao động
Thay số điểm vào công thức trên ta có:
y
1
= [ 5+ ( 4+3+3+4+4).
)16(6
56


].10 = 56
3.3.2. Phân loại điều kiện lao động
Ta thấy y
1
=56 và 55 < y
1
≤ 59. Đây là điều kiện lao động loại V, là loại lao động
có yếu tố điều kiện lao động vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép rất nhiều lần, làm
việc trong điều kiện khí hậu nóng xấu với nhiệt độ luôn cao hơn tiêu chuẩn cho
phép từ 4 – 5
0
C và lượng bức xạ nhiệt của mặt trời lớn, tiếng ồn, nồng độ bụi cao,
nhịp cử động, số lượng thao tác nhiều,…nhưng khắc nghiệt nhất là vị trí làm việc
trên cao, tư thế lao động không thoải mái, đứng nhiều, đi lại khó khăn. Khi đó
trạng thái chức năng cơ thể ở ngưỡng thấp của bệnh lý. Làm việc liên tục, kéo dài
sẽ dẫn tới tiền bệnh lý. Công việc đòi hỏi người lao động có sức khỏe tốt, song
cũng cần có chế độ bảo hộ lao động tốt, và thời gian làm việc, nghỉ ngơi hợp lý
trong ca.
3.3.3. Cải thiện điều kiện lao động và tính toán mức khắc nghiệt sau khi cải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status