SKKN Nghiên cứu và thiết kế phần thực hành về địa lý Địa phương nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lý lớp 12 Trung học phổ thông - Pdf 26

1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LÊ QUÍ ĐÔN S Á N G K I Ế N K I N H N G H I Ệ M
NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ
PHẦN THỰC HÀNH
VỀ ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG
NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
MÔN ĐỊA LÍ 12 - THPT Tên tác giả: ĐOÀN VĂN XUÂN

3.2.2. Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên…………………….21
3.2.3. Dân cư và xã hội………………………………………………… 31
3.2.4. Kinh tế…………………………………………………………….39
4. Hiệu quả…………………………………………………………………… 58
III. KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ……………………………………………… 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………62
PHỤ LỤC………………………………………………………………………… 64
3

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ PHẦN THỰC HÀNH
VỀ ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ 12 – THPT

Tác giả, đơn vị công tác:
ĐOÀN VĂN XUÂN - Trường THPT chuyên Lê Quí Đôn, Khánh Hòa

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Trong chương trình Địa lí lớp 12 trung học phổ thông, phần về Địa lí địa
phương: Tìm hiểu địa lí tỉnh, thành phố nơi học sinh đang sống. Sau bài thực hành,
học sinh cần đạt được các mục tiêu :
- Hiểu và nắm vững được một số đăc điểm nổi bật về vị trí địa lí, đặc điểm
tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, đặc điểm một số
ngành kinh tế chính của tỉnh Khánh Hòa nơi học sinh đang sống.
- Phát triển các kĩ năng : bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu thống kê.
- Biết cách thu thập và xử lí thông tin; viết và trình bày báo cáo về một vấn
đề của địa phương.
- Bước đầu nghiên cứu khoa học và biết tổ chức hội nghị khoa học.
- Qua bài thực hành, sẽ tăng thêm tình yêu quê hương, ý thức xây dựng và bảo

+ Phân tích
+ Tổng hợp
+ Phân loại
+ Hệ thống
+ Đánh giá
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Quan sát khoa học
+ Tổng kết kinh nghiệm
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
Theo tác giả Nguyễn Gia Cốc trong tác phẩm Chất lượng đích thực của giáo
dục đào tạo, năm 1997, “Chất lượng dạy học chính là chất lượng của người học
hay tri thức phổ thông mà người học lĩnh hội được. Vốn học vấn phổ thông toàn
diện vững chắc ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học ”.
Khái niệm chất lượng dạy học liên quan mật thiết với khái niệm hiệu quả
dạy học. Nói đến hiệu quả dạy học tức là nói đến mục tiêu đã đạt được ở mức độ
nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường, chi phí tiền của, sức lực và thời
gian cần thiết ít nhất nhưng lại mang lại kết quả cao nhất. Chất lượng dạy học được
nhìn từ góc độ là giá trị tăng thêm, cách nhìn này muốn nói lên tác động ảnh hưởng
của nhà trường với người học. Để thực hiện việc đánh giá, người ta chuyển mục
tiêu dạy học sang hệ thống tiêu chí. Thông thường dựa trên 3 tiêu chí cơ bản: Kiến
thức - Kỹ năng - Thái độ.
Chất lượng dạy học càng cao càng làm phong phú thêm kiến thức, kĩ năng,
thái độ, giá trị và hành vi của người học.
Chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông liên quan chặt chẽ đến yêu
cầu kinh tế - xã hội của đất nước. Sản phẩm dạy học được xem là có chất lượng
5

cao khi nó đáp ứng tốt mục tiêu giáo dục mà yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra với
giáo dục trung học phổ thông.

nên việc học môn Địa lí có hạn chế nhất định (Trường trung học phổ thông chuyên
Lê Quí Đôn, Khánh Hòa không có lớp chuyên Địa lí, đồng thời học sinh thi đại
học khối C hàng năm rất ít). Vì vậy, để có thời gian chuẩn bị cho việc thực hành
phần tìm hiểu “Địa lí địa phương – Tỉnh Khánh Hòa” rất khó khăn đối với học
sinh.
- Tài liệu chính thức về Địa lí tỉnh Khánh Hòa sử dụng trong nhà trường phổ
thông đến nay vẫn chưa có. Tài liệu trên các phương tiện thông tin thì phân tán, các
tác phẩm về tỉnh Khánh Hòa thì chuyên sâu.
6

- Khả năng tiếp cận các cơ quan, ban ngành ở địa phương để có nguồn tài liệu
là rất khó khăn.
3. Các biện pháp tiến hành
3.1. Thiết kế các tiết của phần thực hành về “ Địa lí địa phương”:
Gồm 1 tiết chuẩn bị, nhằm hướng dẫn học sinh tìm hiểu, viết báo cáo và
1 tiết học sinh báo cáo các chủ đề tìm hiểu.

THIẾT KẾ CÁC TIẾT CỦA PHẦN THỰC HÀNH
VỀ “ ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG” http://www.google.com.vn/url?sa=i&rct=j&q=Ti%CC%89nh+Kha%CC%81nh+Ho
%CC%80a&source=images&cd=&cad=rja&docid=-
h5OlfuM_UyzSM&tbnid=Rq5uhc02HIv4lM:&ved=0CAUQjRw&url=http://dddn.c
om.vn/20110408035159419cat175/khanh-hoa-doi-trung-tam-hanh-chinh-ra-ngoai-
o-nha-
trang.htm&ei=S2CHUdLJJ4rMiQLUsIGwAw&bvm=bv.45960087,d.cGE&psig=A
FQjCNGEp1RA8ap1m9yFT1MUO6RTrAruKw&ust=1367912869958875
b. Thu thập tài liệu
- Thời gian: 2 tuần lễ trước khi tiến hành bài thực hành trên lớp.
- Xác định nguồn tài liệu:
+ Giáo viên cung cấp tài liệu Địa lí địa phương đã biên soạn làm
nguồn tài liệu cơ bản cho học sinh thực hiện.
+ Sách, tạp chí, tranh ảnh, bản đồ, bảng số liệu thống kê, các cơ
quan ban ngành có liên quan ở địa phương, các trang web trên mạng internet…
- Phân công trách nhiệm cho các nhóm, cử nhóm trưởng phụ trách.
8

c. Xử lí tài liệu
- Đối chiếu so sánh, chọn lọc kiến thức từ các nguồn để xác định kiến thức
chung nhất, chuẩn nhất phù hợp nội dung tìm hiểu.
- Tính toán các số liệu , phân tích số liệu để làm rõ nội dung.
- Chọn lọc hình ảnh minh họa phù hợp với yêu cầu của nội dung.
d. Viết báo cáo
Các bước tiến hành:
- Xây dựng đề cương chi tiết với bố cục chặt chẽ.
- Viết báo cáo theo đề cương, chú ý làm rõ các nội dung chính của chủ đề.
- Trong báo cáo ngoài kênh chữ, cần kết hợp kênh hình, bảng số liệu, biểu
đồ, bản đồ…một cách hài hòa để minh họa cho các nhận định của mình.

Tiết 2. BÁO CÁO VỀ ĐỊA LÍ TỈNH KHÁNH HÒA

a. Cách tiến hành
- Mỗi nhóm cử một học sinh lên trình bày báo cáo về chủ đề đã được phân
công (mỗi nhóm tối đa 10 phút để trình bày).
- Trao đổi các vấn đề về Địa lí tỉnh Khánh Hòa.
b. Giáo viên tổng kết, đánh giá
Giáo viên tổng kết và đánh giá về phương pháp tiến hành, nội dung và kết

0
20’Đ (quần đảo Trường Sa).
Tỉnh Khánh Hòa phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía nam giáp tỉnh Ninh
Thuận, phía tây giáp tỉnh Đăk Lăk và tỉnh Lâm Đồng, phía đông giáp Biển Đông.
Vị trí địa lí qui định đặc điểm tự nhiên của tỉnh mang tính chất nhiệt đới gió
mùa với tính chất hải dương rõ rệt, nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên như tài
nguyên biển, rừng, khoáng sản…
10

Khánh Hòa nằm trên trục giao thông quan trọng của cả nước là quốc lộ 1,
đường sắt Thống Nhất, nối Khánh Hòa với các tỉnh phía bắc, phía nam; quốc lộ 26,
đường tỉnh 723 nối Khánh Hòa với Tây Nguyên. Khánh Hòa có các cảng biển như
Nha Trang, Cam Ranh, sân bay quốc tế Cam Ranh, nằm gần đường hàng hải quốc
tế nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Khánh Hòa nằm giữa hai thành phố lớn
là Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, là một trong những cửa ngõ thông ra biển
của Tây Nguyên. Vị trí địa lí đó tạo cho Khánh Hòa khả năng phát triển sản xuất
hàng hóa, mở rộng giao lưu với cả nước và quốc tế, hình thành các khu trung
chuyển hàng hóa và dịch vụ cho các tỉnh xung quanh.
Vị trí địa lí của tỉnh Khánh Hòa còn có ý nghĩa chiến lược quan trọng về mặt
quốc phòng. Phần lãnh hải và hệ thống đảo, đặc biệt là huyện đảo Trường Sa, tạo
thành cứ điểm tiền tiêu để bảo vệ đất nước. Việc khẳng định chủ quyền của nước ta
đối với các đảo và quần đảo là cơ sở để khẳng định chủ quyền của nước ta đối với
vùng biển và thềm lục địa quanh đảo.
b. Phạm vi lãnh thổ
Tỉnh Khánh Hòa có hình dạng thon ở hai đầu và phình ra ở giữa. Chiều dài
bắc - nam khoảng 160 km; chiều dài đông – tây nơi rộng nhất khoảng 60 km, nơi
hẹp nhất khoảng 1 - 2 km ở phía bắc, 10 - 15km ở phía nam.
Lãnh thổ tỉnh Khánh Hòa gồm vùng đất, vùng biển và vùng trời.
- Vùng đất: có diện tích phần đất liền và cả đảo và quần đảo là 5197 km
2

Tháng 3 năm 1977, thị xã Nha Trang đổi thành thành phố Nha Trang.
Ngày 28 tháng 12 năm 1982, Quốc hội khóa VII ra nghị quyết sáp nhập
huyện Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh.
Ngày 30/6/1989, tỉnh Khánh Hòa được tái lập với 1 thành phố là Nha Trang
và 7 huyện: Cam Ranh, Khánh Sơn, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Ninh Hòa, Vạn
Ninh và Trường Sa.
Năm 2000, huyện Cam Ranh được trở thành thị xã Cam Ranh. Năm 2007,
huyện Cam Lâm được tái lập. Đến năm 2010, thị xã Cam Ranh được công nhận là
thành phố Cam Ranh trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Hiện nay, Khánh Hòa gồm có 2 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã và 6
huyện. Các thành phố, thị xã và huyện được chia thành 35 phường, 6 thị trấn và 99
xã.
http://www.google.com.vn/url?sa=i&source=images&cd=&cad=rja&docid=KNC5
IytV4cxaaM&tbnid=aOtsjF1ba9Qz6M:&ved=0CAgQjRwwAA&url=http://www.t
nmtkhanhhoa.gov.vn/index.php?nre_kh=OnlineMap&ei=8GiHUcifEcOniQK4iIG
AAQ&psig=AFQjCNEN4FQmnjdNe1wmgceUaJzq8lx91Q&ust=1367915120319
721
CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH TỈNH KHÁNH HÒA
Ðơn vị
hành chính
Diện
tích
(km²)
Dân số
năm 2009
(người)
Số xã, phường

Huyện lị
(Thị trấn)

Huyện Cam Lâm 547 100.850 13 xã, 1 thị trấn

Cam Đức
Huyện đảo Trường
Sa
496 195 2 xã, 1 thị trấn Trường Sa
13 Thành phố Nha Trang nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Khánh Hòa, có tọa độ địa
lí 12°15′22″B; 109°11′47″ Đ. Ngoài phần đất liền, Nha Trang có 19 đảo lớn nhỏ
nằm rải rác trên Biển Đông, đảo Hòn Tre (Hòn Lớn) là lớn nhất, diện tích hơn 36
km
2
, nằm che chắn ngoài khơi khiến cho vịnh Nha Trang trở nên kín gió và êm
sóng, các đảo khác như Hòn Một, Hòn Tằm, Hòn Miễu, Hòn Đỏ, Hòn Nội, Hòn
Ngoại, Hòn Lao…Nha Trang là thành phố biển xinh đẹp với bờ biển dài, cát trắng,
khí hậu nhiều nắng ấm. Vịnh Nha Trang là một trong các vịnh biển đẹp nhất thế
giới. Nha Trang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Khánh Hòa, là
trung tâm du lịch và sự kiện lớn của cả nước. Nha Trang là nơi từng diễn ra nhiều
14

sự kiện lớn như Festival Biển (2 năm 1 lần), các cuộc thi sắc đẹp lớn như Hoa hậu
Việt Nam năm 2006, Hoa hậu Thế giới người Việt năm 2007 và 2010, Hoa hậu
Hoàn vũ năm 2008 và Hoa hậu Trái Đất năm 2010. Nha Trang cách thủ đô Hà Nội
1.280 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 448 km, cố đô Huế 630 km.
Các danh lam thắng cảnh ở Nha Trang có các đảo trong vịnh Nha Trang, hồ

địa danh nổi
tiếng như chiến khu Đá Bàn, chiến khu Hòn Hèo, căn cứ địa Cần Vương Hòn Khói
- Đầm Vân, xã anh hùng Ninh An, Ninh Thọ. Khoáng sản chủ yếu của Ninh Hòa là
sét cao lanh, đất sét, đất laterit, đá granit phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng tại địa
phương, có mỏ nước khoáng Trường Xuân với trữ lượng lớn…
15

Huyện Diên Khánh là huyện nội địa, nằm về phía tây của thành phố Nha
Trang, huyện lỵ là thị trấn Diên Khánh (Thành), cách Nha Trang 10 km, nơi đây có
công trình Thành cổ Diên Khánh do Nguyễn Ánh xây dựng năm 1793 theo kiểu
Vauban, một hình mẫu thành quân sự nổi tiếng vào thế kỷ XVII, XVIII ở Tây Âu.
Thành Diên Khánh và thành nội Huế là hai ngôi thành trì phong kiến nguyên vẹn
còn sót lại cho đến ngày nay trên lãnh thổ Việt Nam. Dân cư sống chủ yếu bằng
nông nghiệp, thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Những địa danh nổi tiếng của
huyện Diên Khánh gắn liền với truyền thống hào hùng của nhân dân Khánh Hoà
như ngã ba Cây Dầu Đôi, chiến khu Hòn Dữ, căn cứ Tứ thôn Đại Điền…Núi sông
Diên Khánh tạo ra rất nhiều kỳ quan thiên nhiên như Đại An, Am Chúa, suối Ngỗ,
suối Đỗ, suối Tiên, núi Trường Tiên. Diên Khánh còn là vùng đất có nhiều chứng
tích lịch sử lớn của non nước Khánh Hoà như khu lưu niệm Yersin, bia Võ Cạnh,
miếu thờ Huỳnh Thúc Kháng, miếu thờ Trịnh Phong, đền thờ Trần Quý Cáp, Văn
Miếu
Về khoáng sản, Diên Khánh có nhiều sét cao lanh để phát triển nghề gốm sứ
và vật liệu xây dựng. Ngoài ra, nước khoáng ở Đảnh Thạnh - Diên Tân với chất
lượng cao là nguồn tài nguyên vô tận, đang được khai thác hiệu quả.
Huyện Vạn Ninh nằm xa nhất về phía bắc của tỉnh Khánh Hoà. Tại Mũi
Đôi, bán đảo Hòn Gốm, thuộc xã Vạn Thạnh là điểm cực đông trên đất liền của
Việt Nam, nơi đón ánh mặt trời đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam, cũng như cả bán
đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á lục địa. Nơi này đã được Bộ Văn hóa
Thể thao và Du lịch công nhận là di tích quốc gia.
Dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp.

Sơn. Chè Khánh Sơn thơm ngon, cây cà phê gần đây đã trở thành cây chủ lực của
huyện.
Huyện Khánh Vĩnh là huyện miền núi, địa phận huyện nằm ở đầu nguồn
của sông Cái Nha Trang. Huyện lị là thị trấn Khánh Vĩnh nằm trên đường tỉnh lộ 2,
cách Nha Trang 35km về phía tây. Đường tỉnh 723, trục giao thông mới, nối liền
Nha Trang với Đà Lạt chạy qua thị trấn Khánh Vĩnh.
Khánh Vĩnh là căn cứ địa cách mạng của quân dân Khánh Hòa trong hai
cuộc trường kỳ kháng chiến với các địa danh hào hùng như sân bay dã chiến Hòn
Xã, Hòn Nhạn, Soi Mít, Hòn Dù, buôn Gia Lê, Hòn Bà và căn cứ lịch sử Hòn Dữ.
Núi sông Khánh Vĩnh rất hùng vĩ, tạo ra các kỳ quan thiên nhiên như: thác
Ngựa, thác Hòn, thác Yang Bay có nhiều tiềm năng phát triển thủy điện, kết hợp
với thủy lợi và cải tạo nguồn nước cho hạ lưu sông Cái Nha Trang.
Khánh Vĩnh có diện tích rừng chiếm 90% diện tích tự nhiên với nhiều loại
gỗ quí, tổng trữ lượng gỗ của rừng Khánh Vĩnh lên đến 10 triệu m
3
. Khoáng sản có
thiếc, cao lanh
Dân cư chủ yếu sống bằng nông nghiệp và lâm nghiệp. Đồng bào các dân
tộc thiểu số đã có cuộc sống định canh định cư, đã có tập quán sản xuất lúa nước
tương đối ổn định và đang phát triển trồng mía thành vùng chuyên canh cây
nguyên liệu tập trung theo qui hoạch của tỉnh.
Huyện đảo Trường Sa nằm về phía đông nam bờ biển Việt Nam, được thiết
lập dựa trên cơ sở là toàn bộ quần đảo Trường Sa thuộc Biển Đông, trải dài từ
6°50' - 12°00' vĩ độ Bắc và từ 111°30' - 117°20' kinh độ Đông. Quần đảo Trường
Sa cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 250 hải lí, cách đảo Hải Nam (Trung
Quốc) trên 600 hải lí và cách đảo Đài Loan khoảng 960 hải lí. Quần đảo Trường Sa
nằm rải trên một vùng biển rộng, từ Tây sang Đông khoảng gần 350 hải lí, từ Bắc
xuống Nam khoảng hơn 360 hải lí, chiếm một diện tích biển khoảng 160.000 -
180.000km
2

Tử Tây, cao 4 - 6 m, khi thủy triều thấp nhất. Bãi ngầm lớn nhất là bãi Thuyền
Chài, dài 30 km; rộng 5 km (ngập nước khi triều lên).
Theo nghị định số 65/2007/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2007 của Chính
phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, huyện Trường Sa có ba đơn vị
hành chính trực thuộc là thị trấn Trường Sa (gồm đảo Trường Sa và các đảo, bãi
đá, bãi phụ cận), xã Song Tử Tây (gồm đảo Song Tử Tây và các đảo, bãi đá, bãi
phụ cận) và xã Sinh Tồn (gồm đảo Sinh Tồn và các đảo, bãi đá, bãi phụ cận).

18 Đảo Song Tử Tây (Ảnh: Vũ Ngọc Hoàng)
Đất trên các đảo là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim và mùn cây, có
bề dày từ 5 đến 10cm. Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như cây phong ba, phi
lao, bàng vuông và một số loại dây leo, cỏ dại.
Nguồn lợi hải sản của quần đảo Trường Sa rất phong phú, với nhiều loài cá
tập trung với mật độ cao;
nhiều loại hải sản quý như: hải sâm, rùa biển, cá ngừ,
tôm hùm, rong biển và các loại ốc có giá trị dinh dưỡng cao, giá trị kinh tế lớn,
nếu được khai thác, chế biến tốt sẽ mang lại thu nhập lớn cho nhân dân và tạo
sản phẩm xuất khẩu thu lợi nhuận cao cho Nhà nước. Về tài nguyên khoáng
sản,
ngoài phốt phát vôi, đá san hô thì khu vực quần đảo Trường Sa cũng có dầu
khí với trữ lượng khá lớn.

Với vị trí ở giữa Biển Đông, quần đảo Trường Sa có thế mạnh về dịch vụ
hàng hải, nghề cá, là địa điểm du lịch hấp dẫn trong và ngoài nước.
Quần đảo Trường Sa án ngữ đường hàng hải quốc tế nối liền Thái Bình
Dương với Ấn Độ Đương và Đại Tây Dương, giữa Châu Âu, Châu Phi, Trung
Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản với các nước Đông Nam Á và Đông Bắc

hộ và tạo điều kiện cho chính quyền Sài Gòn đóng giữ đảo Trường Sa, ép
chính phủ Philippin cho Mỹ lập căn cứ hải quân và không quân trên lãnh thổ
Philippin để khống chế lực lượng quân sự của các nước trong khu vực và
đường hàng hải quốc tế qua Biển Đông. Bàn về Biển Đông, nhiều nhà quân sự
thế giới cho rằng ai làm chủ Hoàng Sa và Trường Sa sẽ làm chủ Biển Đông.
3.2.2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN a. Địa hình

Địa hình Khánh Hòa tương đối phức tạp, cao từ tây sang đông , là một tỉnh
nằm sát dãy núi Trường Sơn Nam, đồng thời tiếp giáp Biển Đông nên có địa hình
đa dạng với địa hình núi, đồi, đồng bằng, ven biển và biển khơi.
Vùng núi và bán sơn địa
Khánh Hòa là một tỉnh có địa hình tương đối cao ở Việt Nam, độ cao trung
bình so với mực nước biển khoảng 60 m. Diện tích vùng đồi núi chiếm hợn 9/10
diện tích tự nhiên. Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh núi cao, phần lớn chỉ
trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với phần cuối phía nam của dãy Trường Sơn
Nam nên địa hình núi khá đa dạng.
Phía bắc và tây bắc tỉnh có vùng núi cao thuộc dãy Vọng Phu cao hơn 1000
m, trong đó có dãy Tam Phong gồm ba đỉnh núi cao là Hòn Giữ (cao 1264 m), Hòn
Ngang (1128 m) và Hòn Giúp (1127 m). Dãy Vọng Phu - Tam Phong có hướng tây
nam - đông bắc, kéo dài trên 60 km, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa ba tỉnh
Khánh Hòa, Phú Yên và Đắk Lắk.
Các núi thuộc đoạn giữa của tỉnh thường có độ cao kém hơn, chủ yếu dưới
1000m, có các ngọn núi cũng là địa danh nổi tiếng như Hòn Giữ (căn cứ địa cách
mạng trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ), Núi Chúa, Hòn Bà (núi của Bà
Thiên Y A Na), Hòn Cù Lao (có Tháp Bà Pô Nagar). Vùng núi này có nhiều nhánh
đâm ra sát biển tạo nên nhiều cảnh đẹp.
20

Khánh Hòa có các vịnh biển lớn là vịnh Vân Phong, vịnh Hòn Khói, vịnh
Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh. Trong đó, nổi bật nhất là vịnh Cam
Ranh với chiều dài 20 km, chiều rộng 10 km, thông với biển qua eo biển rộng 1,6
km, có độ sâu từ 18 - 20 m, và được xem là một trong các cảng biển có điều kiện
tự nhiên tốt nhất thế giới, sau cảng San Francisco của Hoa Kì, cảng Rio de Janeiro
của Brasil.
Vịnh Vân Phong dài 35 km, rộng 25 km, cách Nha Trang 80 km.
Vịnh Nha Trang rộng khoảng 400 km
2
, đã được công nhận là thành viên
chính thức của Câu lạc bộ Các vịnh đẹp nhất thế giới (tháng 5, năm 2003).
Các bãi biển và đầm nổi tiếng của Khánh Hòa là bãi biển Đại Lãnh, Dốc Lết,
Đầm Môn, Nha Trang, Bãi Dài, đầm Nha Phu (rộng khoảng 100 km
2
, sâu nhất từ 3
-5 m), Thủy Triều.

21 Vịnh Cam Ranh
Thềm lục địa tỉnh Khánh Hòa rất hẹp, địa hình vùng thềm lục địa phản ánh
sự tiếp nối của cấu trúc địa hình trên đất liền. Các nhánh núi Trường Sơn đâm ra
biển, không chỉ dừng lại ở bờ biển để tạo thành các mũi Hòn Thị, mũi Khe Gà
(Con Rùa) mà còn tiếp tục phát triển rất xa về phía biển mà ngày nay đã bị nước
biển phủ kín. Vì vậy, dưới đáy biển phần thềm lục địa cũng có những dãy núi
ngầm mà các đỉnh cao của nó nhô lên khỏi mặt nước hình thành các hòn đảo như
hòn Tre, hòn Miếu, hòn Mun
Xen giữa các đảo nổi, đảo ngầm là những vùng trũng tương đối bằng phẳng
gọi là các “đồng bằng biển”, đó chính là đáy các vũng, vịnh như vịnh Vân Phong,

khoáng ở Ninh Hòa, Vạn Ninh; thiếc ở Cam Ranh, Khánh Vĩnh. Biển Khánh Hòa
thuận lợi để khai thác muối (Ninh Hòa, Cam Ranh).
Trên quần đảo Trường Sa, ngoài phốt phát vôi, đá san hô, thì theo các
chuyên gia, khu vực quần đảo Trường Sa cũng có dầu khí với trữ lượng khá lớn.
Tài nguyên khoáng sản của Khánh Hòa là nguồn lực đáng kể để phát triển
nhiều ngành công nghiệp, đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
c. Khí hậu
Khánh Hòa vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang
tính chất của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa, đồng thời có những nét độc
đáo với các đặc điểm riêng biệt so với các tỉnh, thành phía Bắc phía Nam. Mùa hè
không bị oi bức, mùa đông ấm áp.
Nhiệt độ trung bình năm là 26
0
C, tổng nhiệt độ khoảng 9500
0
C, ánh sáng dồi
dào, có số giờ nắng trung bình năm tới 2.600 giờ.
Lượng mưa trung bình năm khoảng 2000 mm, trong đó vùng đồng bằng ven
biển phổ biến từ 1000 – 2000 mm, còn khu vực miền núi như huyện Khánh Sơn
lượng mưa lên đến 2600 mm.
Trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa ngắn, từ
khoảng giữa tháng 9 đến tháng 12, nhất là vào tháng 10 và tháng 11, mùa mưa
chiếm đến 70 - 80% lượng mưa cả năm, nhiệt độ thay đổi từ 20 -27 °C ở Nha
Trang và 20 - 28 °C ở Cam Ranh. Những tháng còn lại từ tháng 1 đến tháng 8 xem
như là mùa khô, thời tiết thay đổi dần, những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ
17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34 °C
(ở Nha Trang) và 37 - 38 °C (ở Cam Ranh). Độ ẩm cao khoảng 80,5%. Ở vùng núi
cao (núi Hòn Bà, cách Nha Trang 30 km đường chim bay) có khí hậu mát mẻ như
Đà Lạt.
Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có

Sông Cái Nha Trang có độ dài 79 km, bắt nguồn từ hòn Gia Lê cao 1.812 m
chảy qua Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Nha Trang rồi đổ ra biển qua Cửa Bé (Tiểu Cù
Huân) và Cửa Lớn (Đại Cù Huân). Lưu vực có lượng mưa lớn 1750 mm, sông có
lưu lượng trung bình 55,7 m
3
/s, mùa kiệt 7,32 m
3
/s. Đây là con sông lớn nhất và
lượng nước dồi dào nhất tỉnh. Gắn liền với sông Cái (Nha Trang) là đồng bằng
Diên Khánh – Nha Trang.
Sông Cái Ninh Hòa (sông Dinh) bắt nguồn từ vùng núi Chư H'Mư (đỉnh cao
2.051 m) thuộc dãy Vọng Phu, có tổng diện tích lưu vực 985 km
2
, chảy qua thị xã
Ninh Hòa và đổ ra cửa Hà Liên, đầm Nha Phu. Lưu lượng trung bình 23,9 m
3
/s,
mùa kiệt 0,6m
3
/s. Gắn liền với sông Cái ninh Hòa là đồng bằng Ninh Hòa.
Sông của Khánh Hòa có tiềm năng về thủy điện, nguồn nước cho sản xuất
và đời sống. Tuy nhiên, Khánh Hòa mưa tập trung chủ yếu trong 3 tháng mùa mưa
(70 -80%), nhưng lại tổn thất do lượng bốc hơi lớn, cho nên mùa khô dễ bị thiếu
nước.
Khánh Hòa có nhiều hồ nhưng phần lớn là hồ nhỏ, nguồn gốc tự nhiên và nhân
tạo (hồ thủy lợi). Các hồ chủ yếu là Hòa Sơn, Đồng Điền (Vạn Ninh); Đá Bàn, Ba Hồ,
Suối Trầu (Ninh Hòa); Vĩnh Lương, Đắc Lộc, Núi Sạn (TP Nha Trang ), Láng Nhớt,
24

Suối Dầu, Suối Thương (Diên Khánh); Lệ Lương, Suối Cát, Suối Hành (TP Cam

Cơ cấu (%)
Tổng số 521,7 100,0
Đất nông nghiệp 92,7 17,8
Đất lâm nghiệp 214,9 41,2
Đất chuyên dùng 83,5 16,0
Đất ở 6,6 1,3 25

Vấn đề sử dụng đất, nhìn chung có một số đặc điểm sau:
- Đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp rất hạn chế. Hầu hết diện tích canh
tác có điều kiện thuận lợi và vùng thấp ở hạ lưu các sông đã được khai thác. Ở các
vùng đất cao chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh lại thiếu nước tưới, nên
còn khó khăn trong việc mở rộng diện tích canh tác. Đất nông nghiệp bình quân
chỉ có 670 m
2
/người (năm 2000), thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả
nước.
- Đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích tự nhiên
của tỉnh. Đất chưa sử dụng còn chiếm khoảng 30% diện tích tự nhiên, đây là tiềm
năng lớn để phát triển nông lâm nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn các loại đất này là
cồn cát, bãi cát, đất chua măn, đất đồi núi nghèo dinh dưỡng, phân bố rải rác. Do
đó để khai thác vào phát triển nông, lâm nghiệp cần đầu tư vốn, kĩ thuật, thủy lợi…
f. Tài nguyên rừng
Diện tích rừng hiện có 186,5 nghìn ha, trữ lượng gỗ 18,5 triệu m
3
, trong đó
64,8% là rừng sản xuất, 34% rừng phòng hộ và 1,2% là rừng đặc dụng. Rừng
phòng hộ có 34%, song hầu hết là rừng giàu ở khu vực núi cao, đầu nguồn các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status