XHH092 - Một số giải pháp xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Pdf 26

LI M U

Bc sang th k XXI, Vit Nam vn l mt nc nụng nghip lc hu,
b quc t ỏnh giỏ l mt trong nhng nc nghốo nht th gii.
Mc dự nhng nm cui ca th k XX, c bit di tỏc ng ca cụng
cuc i mi hn mt thp niờn tr li õy, nn kinh t nc ta ó cú nhng
bc phỏt trin ỏng mng vi tc tng trng kinh t bỡnh quõn hng nm
tng i cao (6-7%, ng th hai sau Trung Quc), i sng vt cht, tinh
thn ca nhõn dõn c ci thin ỏng k. Nhng do xut phỏt im quỏ thp,
vn l mt nc nụng nghip nghốo nn, lc hu, cng vi iu kin t nhiờn ớt
thun li, thiờn tai thng xuyờn xy ra, hn na trong lch s phỏt trin ca t
nc, dõn tc ta luụn phi chng gic ngoi xõm, c bit l cỏc cng quc
hựng mnh nh Phỏp, M, ó gõy tn tht rt ln, kộo s phỏt trin ca nc ta
lựi li hng th k. Do vy ti nay, b mt kinh t-xó hi ca nc ta cha c
my sỏng sa, t l úi nghốo cũn cao (n 7/1998, theo Tng cc thng kờ, c
nc cũn 17,4% h úi nghốo, nhng theo tớnh toỏn ca Ngõn hng th
gii(WB) thỡ con s ú cũn cao hn nhiu). Mt khỏc, n nay vn cũn 80%
dõn s v trờn 70% lc lng lao ng ca c nc sng khu vc nụng thụn
v nh vy, vn ngun nhõn lc, vt lc, tim nng t ai, iu kin t
nhiờn nc ta gn vi vựng nụng thụn rng ln. Tuy nhiờn, chỳng ta cha chỳ
trng u t phỏt trin mt cỏch tho ỏng i vi khu vc nụng thụn dn ti s
phỏt trin khụng ng u gia khu vc nụng thụn v thnh th, gia min nỳi
v ng bng. Kt qu tt yu l s h úi nghốo tp trung phn ln a bn
nụng thụn (trờn di 90%), v con s y cng cao hn i vi a bn nụng
thụn min nỳi, trong ú cao nht l cỏc tnh min nỳi phớa Bc (xem ph lc 1).
Cỏi úi cỏi nghốo phn ỏnh t nhng cỏi c th nht l ming cm manh
ỏo. Khi m nhng nhu cu c bn ca con ngi cha c ỏp ng thỡ h,
nhng con ngi mt nng hai sng y khụng th lo ngh v vn ln
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
những lao hơn, đó là góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ta tươi đẹp hơn,
giàu mạnh hơn. Nói theo khía cạnh khác, muốn đất nước ta phát triển, tăng

trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”.
Để hiểu rõ hơn về đói và nghèo có thể phân thành hai khái niệm:
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng hoặc được
hưởng rất ít ỏi những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận
tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các dân tộc
ở các địa phương.
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được thoả mãn những
nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát
triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các địa phương.
Như vậy, ranh giới giữa đói và nghèo là không được hưởng hoặc được
hưởng rất ít ỏi với không được thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người.
Từ khái niệm chung ở trên, liên hệ với thực tiễn Việt Nam có thể hiểu về
đối tượng đói nghèo như sau:
- Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm
đau không có tiền chữa trị, nhà ở rách nát…. Nếu theo tiêu chí này thì những hộ
có thu nhập bình quân đầu người quy đổi ra gạo dưới 13 kg/tháng được coi là
hộ đói (Bộ Lao động – Thương binh và xã hội). Còn hộ nghèo là hộ thiếu ăn
nhưng không đứt bữa, mặc không lành và không đủ ấm, không có khả năng
phát triển sản xuất… Thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo của những hộ
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
ny l di 25 kg/thỏng nụng thụn, hi o; di 20 kg/thỏng nụng thụn
ng bng v di 25 kg/thỏng thnh th.
Nu quy ra tin, thỡ mc chun nghốo quc gia hin nay l:
- Nụng thụn min nỳi: 80.000 VN/thỏng/ngi.
- Nụng thụn ng bng: 100.000 VN/thỏng/ngi.
- Thnh th: 150.000 VN/thỏng/ngi.
Ngoi ra, cũn cú mc chun nghốo do Ngõn hng th gii(WB) a ra v
c xem l chun nghốo quc t nh sau:
- Nc chm phỏt trin:0,5 USD/thỏng/ngi.
- Nc ang phỏt trin: 1 USD/thỏng/ngi.

trng vụ quyn cng ti t hn vỡ ca ci ớt i cựng vi a v thp, ngi nghốo
khụng cú ting núi. Nh vy vi tim lc thp kộm v khụng ỏng k, nhng h
gia ỡnh nghốo s cú rt nhiu hn ch trong s phỏt trin. V nu nhỡn rng ra
nhng phm vi, qui mụ ln hn nh xó, huyn, vựng, thm chớ l mt quc
gia thỡ nhng tỏc ng hn ch y cú khỏc chng cng ch l phúng i m
thụi.
Ngoi ra, ta cng cn phi nhỡn nhn úi nghốo di gúc thng mi,
mt vựng nghốo chc chn s cú sc mua ớt (cu thp), do ú s khụng kớch
thớch c sn xut núi riờng, kinh t th trng núi chung phỏt trin. Mt khỏc
cng cn nhn mnh thờm rng, nu khụng gii quyt thnh cụng nhim v v
yờu cu xúa úi gim nghốo (c bit i vi nụng dõn, nụng thụn) s lm gia
tng phõn húa giu nghốo cú nguy c y ti phõn húa giai cp vi hu qu l
s bn cựng húa, do ú e da s n nh chớnh tr - xó hi, lm chch nh
hng xó hi ch ngha, khụng thc hin c cụng bng xó hi.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
3.Những ngun nhân chính dẫn đến đói nghèo:
Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến xung quanh việc xác định ngun nhân
của đói nghèo. Trên thực tế, khơng có một ngun nhân biệt lập riêng rẽ, nhất là
khi xét đói nghèo trên diện rộng có tính chất xã hội mà các ngun nhân thường
đan xen lẫn nhau giữa khách quan với chủ quan, giữa tất yếu với ngẫu nhiên, cơ
bản với tức thời, trực tiếp với gián tiếp. Nói cách khác, sự đói nghèo của một số
gia đình thường khơng xuất phát từ một ngun nhân mà từ nhiều ngun nhân
khác nhau. Nhìn chung chúng đều nằm trong những cụm ngun nhân chính
sau:
3.1 Do xa cách:
• Về địa lý:
Phần lớn hộ đói nghèo tập trung ở những địa bàn xa xơi, hẻo lánh, rừng
sâu, núi cao. Ở đó hệ thống hạ tầng cơ sở rất yếu kém. Ví dụ, đường ơ tơ tới
trung tâm xã riêng miền núi phía Bắc có trên 400 xã chưa có, chiếm 2/3 số
xã miền núi trong tồn quốc; còn đối với vùng cao chủ yếu là những con

năng đọc và viết, nhằm mở rộng sự hiểu biết thơng qua các phương tiện sách
báo, thơng tin đại chúng, được phát triển ở các vùng dân tộc thiểu số khá tốt
nhưng việc tái mù chữ vẫn xảy ra. Thầy giáo kết thúc lớp xố mù chưa được
bao lâu thì phần đơng học trò tái mù chữ trở lại, họ khơng thể đọc và viết
được. Vấn đề đặt ra là ở vùng sâu vùng xa họ rất ít có cơ hội tiếp xúc với
người Kinh cũng như các phương tiện văn hố thơng tin để ơn lại, hàng ngày
họ vẫn trao đổi với nhau bằng tiếng dân tộc của mình (một phần họ chưa ý
thức được tầm quan trọng của việc học ngơn ngữ tiếng Việt).
Từ thực trạng đó dẫn tới sự kém hiệu quả trong phổ biến các chủ trương,
chính sách, chương trình dự án mà họ là những đối tượng tác động. Khơng
những thế, do sự mù chữ, thiếu hiểu biết nên họ dễ bị lợi dụng, dễ phải mua
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
t bỏn r hay khai thỏc g trỏi phộp bỏn cho thng lỏi vi giỏ r nhm
duy trỡ cuc sng lm hu hoi mụi trng
Túm li, nhng cỏch bit trờn lm cho ngi dõn õy cú quan h vi t
nhiờn nhiu hn l quan h vi xó hi, gn vi kinh t t nhiờn nhiu hn l
gn vi kinh t hng hoỏ. ú l s thit thũi ln ca c dõn, ca nụng h úi
nghốo nhng ni xa cỏch. Vỡ vy cn phi cú chớnh sỏch hu hiu xoỏ b s
xa cỏch trờn.
3.2. p lc v nhõn khu v lao ng:
õy l mt hn ch ln hu ht cỏc vựng nụng thụn, trong khi ú tc
tng t nhiờn ca dõn s vn cũn mc cao lm cho ngun lc bỡnh quõn u
ngi ngy cng gim. Do ú vic tranh chp trong khai thỏc ti nguyờn v
hng th nhng thnh qu mang li l mt h qu tt yu. Mt khỏc vi kh
nng t thõn quỏ yu kộm h khụng th to c sc cnh tranh cao v gp
nhiu khú khn trong n lc thoỏt khi úi nghốo.
Sc ộp v tng dõn s lm gia tng vic di dõn t do t nhng ni t ai
cn kit ti nhng ni cũn mu m, cũn kh nng canh tỏc dn ti phỏ rng,
hu hoi mụi trng, lm tng din tớch t trng i nỳi trc. Cng cn lu ý
rng, din tớch gieo trng 1 ha vựng nỳi ch bng 1/2 ha vựng ng bng, nng

thường xun đói lương thực và bị đe doạ đứt bữa vào những kì giáp hạt. Do
thiếu đất nên nạn du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy là một trong những hệ
quả tiêu cực tất yếu xảy ra.
Có đất đai cần phải có sức lao động. Nhưng nhìn chung, chất lượng lao
động thấp thể hiện ở hai khía cạnh chính là thể trạng yếu (do suy dinh dưỡng ăn
khơng đủ chất là chính) và kĩ năng lao động kém, thiếu kiến thức canh tác tiên
tiến. Điều này có ngun nhân từ thiếu đói lương thực, ăn uống thiếu vệ sinh,
nhà ở dột nát, ẩm thấp gây bất lợi cho sức khoẻ, nguồn nước ơ nhiễm, phụ nữ
đẻ nhiều, ít tiếp xúc với các dịch vụ y tế, dịch vụ khoa học, tư vấn sản xuất…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Vốn cũng là một nguồn lực khơng kém phần quan trọng để sản xuất cũng
như tái sản xuất mở rộng nhằm nâng cao thu nhập. Nhưng đại bộ phận người
nghèo ở nơng thơn sống bằng nghề nơng hiệu quả khơng cao. Vấn đề tiêu thụ
nơng sản lại có nhiều khó khăn, “khi được mùa thì mất giá, khi được giá thì mất
mùa” trong khi giá các yếu tố đầu vào của sản xuất nơng nghiệp vẫn tăng cao
làm giảm nguồn thu nhập chính của người nơng dân. Cùng với tác động của giá
cánh kéo giữa hàng hố nơng nghiệp và hàng hố cơng nghiệp nên đời sống của
người nơng dân khó được cải thiện. Những nghịch lý này làm cho khả năng tích
luỹ vốn thấp. Trước thực trạng thiếu vốn của người nơng dân, Nhà nước đã có
những chính sách tín dụng ưu đãi nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Có một nghịch
lý là vốn ngân hàng cho người nghèo vay còn nhiều mà các hộ nghèo vẫn phải
đi vay mượn của tư nhân, phải chịu cảnh vay nặng lãi. Xuất phát từ thực tế là
nhu cầu vay thường có tính chất đột xuất (chủ yếu là nhu cầu phi sản xuất) và
khơng phù hợp với cơ chế vay vốn của ngân hàng. Do vậy, khơng ít hộ đã phải
bán lúa non để lo lót các khoản chi tiêu bắt buộc. Thực tế nghiệt ngã ấy đã đẩy
họ vào cuộc sống nghèo đói hơn. Còn về vấn đề cho vay vốn sản xuất, ở nhiều
nơi người dân (nhất là người dân nghèo có trình độ dân trí thấp, thiếu hiểu biết)
khơng dám sử dụng vốn cho vay của Nhà nước vì một lí do đơn giản “sợ khơng
trả nợ được Nhà nước”.
3.4 Do những rủi ro, thiên tai, địch hoạ:

- Ri ro, m au: 10 - 15%
- Thiu lao ng, neo n: 6 - 15%
- Li lao ng, chi tiờu lóng phớ: 5 - 6%
- Mc t nn xó hi: 2 - 3%.
Nh vy, theo kt qu iu tra cỏc nguyờn nhõn thiu vn, ụng con,
thiu kinh nghim c xột l quan trng, ph bin nht.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
4. Ch trng ca ng v Nh nc v xúa úi gim nghốo khu
vc min nỳi:
Xoỏ úi - gim nghốo l mt trong nhng chớnh sỏch ln c ng v
Nh nc c bit quan tõm. Ngay t khi nc ta mi ginh c c lp, Ch
tch H Chớ Minh ó xỏc nh nghốo úi cng l mt th gic nh gic dt,
gic ngoi xõm nờn ó a ra mc tiờu phn u lm sao nhõn dõn thoỏt nn
bn cựng, lm cho mi ngi cú cụng n, vic lm, i sng hnh phỳc.
Lm cho ngi nghốo thỡ n,
Ngi n thỡ khỏ, giu
Ngi khỏ, giu thỡ giu thờm
Thc hin t tng ú ca Ngi, ng v Nh nc ta ó cú nhiu ch
trng, chớnh sỏch to iu kin cho ngi nghốo v xúa úi gim nghốo ó tr
thnh mt trong nhng chng trỡnh mc tiờu quc gia thc hin trờn phm vi
c nc.
Cỏc tnh, xó, min nỳi, vựng cao, vựng sõu, v vựng xa l ni cú t l h
nghốo úi cao nht. Mt trong cỏc nguyờn tc u t ca Nh nc v xúa úi
gim nghốo l tp trung u t cú trng tõm, trng im. Chớnh vỡ vy, khu vc
cỏc tnh min nỳi trong ú cú cỏc xó c bit khú khn, vựng ng bo dõn tc
min nỳi v biờn gii, vựng sõu, vựng xa c xỏc nh l mt trng tõm ca
xúa úi gim nghốo. õy cng l khu vc cú rt nhiu khú khn khi thc hin
cỏc chớnh sỏch xúa úi gim nghốo nhng cũn cú ý ngha rt ln v an ninh,
chớnh tr v quc phũng. Chớnh ph ó quyt nh mt chng trỡnh riờng v
xúa úi gim nghốo cỏc xó c bit khú khn trong khu vc ny l chng

thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, công trình thuỷ lợi. Vì vậy,
trong 5 năm (1996 - 2000) Nhà nước đã chú trọng đầu tư 6500 công trình cơ sở
hạ tầng ở các xã nghèo. Tính tới cuối năm 2000, ở khu vực miền núi đã có trên
90% xã có đường ô tô tới trung tâm xã, trên 90% xã có trường tiểu học, trên
70% có trường trung học cơ sở, 98% xã có trạm xá, 80% xã có công trình thuỷ
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
lợi nhỏ, 70% xã có tỉ lệ hộ được sử dụng nước sạch trên 50%, 75% xã có nguồn
điện sinh hoạt tới trung tâm xã, 70% xã có chợ hoặc chợ trung tâm cụm xã được
xây dựng (xem thêm phụ lục 2). Ngồi ra còn mua và cấp thẻ BHYT cho người
nghèo, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo; thực hiện miễn giảm học
phí, miễn giảm các khoản đóng góp, cấp sách giáo khoa cho học sinh nghèo.
Một trong những khó khăn xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi là
tình trạng du canh du cư. Đến cuối năm 2000, các chương trình đã hỗ trợ đời
sống cho 20.000 hộ đồng bào dân tộc ĐBKK, hỗ trợ định canh định cư cho trên
118.000 hộ và sắp xếp ổn định cuộc sống cho 23.543 hộ di dân tự do.
Cái gốc để xóa đói giảm nghèo chính là phát triển sản xuất, tạo nên việc
làm và tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Đối với miền núi, khó khăn nhất
chính là xố bỏ tập qn canh tác cũ, hướng dẫn người nghèo cách làm ăn và tổ
chức tốt cơng tác khuyến nơng thơng qua các mơ hình trình diễn theo phương
thức “cầm tay chỉ việc”. Các dự án khuyến nơng, khuyến lâm với vai trò tích
cực của các tổ chức đồn thể (Hội nơng dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh…)
đã góp phần giúp hộ nghèo làm quen dần với phương thức canh tác mới, sử
dụng giống cây, con mới, tạo điều kiện để họ sử dụng vốn vay ưu đãi có hiệu
quả hơn.
Kết quả tổng hợp của các chính sách dự án là tỉ lệ hộ đói nghèo giảm khá
nhanh trong 5 năm từ 1996 - 2000 trung bình mỗi năm là 2%, hầu hết các tỉnh
miền núi có tỉ lệ hộ nghèo đói giảm bình qn hàng năm cao hơn trung bình cả
nước.
Trên đây là những kết quả lớn thể hiện quyết tâm cao của Đảng và Nhà
nước trong cơng cuộc chiến đấu - tấn cơng đói nghèo. Song, đến nay vẫn còn

2
, trong ú din tớch min nỳi khong 89.000 km
2
(chim 27% lónh
th quc gia v 88,15% lónh th vựng). Dõn s theo cuc tng iu tra dõn s
1/4/1999 l 11.053.030 ngi trong ú trờn di 5 triu ngi l ng bo ca
30 dõn tc thiu s. Mt dõn s l 109 ngi/ km
2
(ụng Bc: 135 ngi/
km
2
, Tõy Bc: 62 ngi/ km
2
; thp nht l Lai Chõu: 35 ngi/ km
2
) thp hn
nhiu so vi mt bỡnh quõn c nc (232 ngi/ km
2
). Dõn c nụng thụn
chim 83,5 % dõn s ton vựng vi 1,8 triu h sn xut nụng, lõm nghip v
nuụi trng thu sn. Quy mụ h bỡnh quõn khong 5 nhõn khu vi 2 - 3 lao
ng. t nụng nghip bỡnh quõn u ngi 1.182 m
2
bng 96,2% so vi ton
quc (1.229 m
2
).
V iu kin t nhiờn, 65% din tớch vựng cú cao t 200 m tr lờn,
14% cú cao khong 100 m. Tr mt s ớt lu vc gia nỳi v cỏc thung lng
sụng, a hỡnh phn ln b chia ct bi dc ln. Hn 50% vựng cao cú cỏc

những kết quả nhất định, song vẫn còn ở mức độ thấp chủ yếu là khai thác tự
nhiên, kém năng động, chưa chuyển mạnh sang sản xuất hàng hố. Nơng
nghiệp vẫn được xem là ngành kinh tế giữ vị trí hàng đầu với tỉ lệ GDP ngành
là 41,3% giá trị tổng sản phẩm tồn vùng, trong đó 7/14 tỉnh chiếm tỉ trọng trên
50% (cao nhất là Bắc Kạn: 63,1%), 6/14 tỉnh chiếm tỉ trọng từ 36,8% đến dưới
50%, chỉ riêng Quảng Ninh tỉ trọng nơng nghiệp trong GDP là 9,4%. Trong khi
đó, bình qn tồn quốc tỉ trọng nơng nghiệp chỉ chiếm 26% trong cơ cấu GDP.
Về hoạt động thương mại, thiếu thị trường trao đổi: bình qn 37% xã có chợ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
(riêng Lai Châu: 11%, Sơn La: 19%, Hồ Bình: 28%). Ở những nơi có chợ, mặt
hàng trao đổi cũng rất nghèo nàn. Nhiều nhà khơng có khả năng sản xuất ra bất
cứ thứ gì mang tính chất hàng hố ra chợ sau vụ mùa. Ở nhiều thị trường đã
hình thành thường khơng ổn định, giá thu mua còn rẻ khơng bù đắp được chi
phí sản xuất dẫn tới đời sống người dân khơng được đảm bảo, sản xuất bị đình
đốn, hiện tượng chặt phá cây trơng diễn ra khá phổ biến trong những năm vừa
qua như chặt chè, trồng sắn, …
Về lực lượng sản xuất còn thấp kém, cơng cụ thơ sơ, trình độ tổ chức và
quản lí sản xuất ở mức độ thấp, chủ yếu mang tính gia đình, tự cung tự cấp, lao
động theo tập qn và kinh nghiệm cổ truyền. Hơn nữa, đa phần trình độ dân trí
còn thấp, một số khơng ít còn lạc hậu, mê tín và bảo thủ gây trở ngại khi tiếp
nhận những cơng nghệ mới, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật ni, do vậy một
tất yếu là năng suất lao động q thấp.
2. Khái qt tình hình nghèo đói ở các tỉnh miền núi phía Bắc:
Theo số liệu thống kê năm 1999, tỉ lệ hộ nghèo đói của các tỉnh miền núi
phía Bắc là 40,63% gấp 1,44 lần so với tỉ lệ hộ nghèo đói bình qn cả nước
(28,21%) và cao nhất so với các vùng miền khác. Nhìn chung, tình hình nghèo
đói ở đây đã có sự chuyển biến đáng kể cả tuyệt đối lẫn tương đối. Điều đó
được biểu hiện qua số liệu về hộ đói nghèo như sau:
- Năm 1992: 799.500 hộ.
- Năm 1996: 695.503 hộ (giảm so với năm 1992 là 103.997 hộ, tốc

triển hơn. Bởi vậy, đồng thời với các giải pháp phát triển sản xuất, cần chú ý
nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật cho các chủ hộ và các lao động ở những
hộ nghèo, tạo điều kiện cho con em họ được học hành. Chú ý chăm sóc sức
khoẻ cho họ làm cho họ tự tin hơn, làm việc có hiệu quả hơn.
 Về tạo và sử dụng các yếu tố nguồn lực:
- Trên cơ sở phân loại ngun nhân nghèo mà có những chính sách
thích hợp, làm sao khi giao ruộng đất cho họ phải khai thác hết hiệu quả của
đất.
- Cần khai thác tối đa mọi nguồn vốn (vốn tự có, vốn vay, trợ cấp nhân
đạo,…) để cấp cho người nghèo dưới nhiều hình thức phong phú (trực tiếp
cấp, thơng qua các chương trình, dự án…) đồng thời có những biện pháp hỗ
trợ cần thiết để người nghèo sử dụng một cách có hiệu quả đồng vốn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Sức lao động vốn là tài sản lớn của người nghèo nhưng nhìn chung
chất lượng còn thấp, khả năng cạnh tranh kém. Do đó, cần giúp họ có cơ hội
tiếp cận với cơng việc bằng cách tạo thêm việc làm ở nơng thơn (kể cả nghề
nơng, cơng nghiệp và dịch vụ). Đồng thời có những biện pháp thích hợp để
nâng cao chất lượng nguồn lao động như: phổ cập tiểu học, trung học cơ sở,
chương trình khuyến nơng, chương trình chăm sóc sức khoẻ, xây dựng cơ sở
hạ tầng phục vụ đời sống, tăng phúc lợi xã hội…
- Xây dựng các cơng trình cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất như điện,
đường giao thơng, thuỷ lợi… kết hợp với trang bị những kĩ thuật khác cũng
là hình thức trang bị vốn cho người nghèo.
 Vai trò của Nhà nước:
- Xố đói giảm nghèo là một vấn đề đòi hỏi sự đóng góp nỗ lực của
tồn Đảng, tồn dân, các tổ chức quốc tế, các tổ chức quần chúng, trong đó
vai trò của Nhà nước đặc biệt quan trọng. Nhà nước cần ban hành hệ thống
chính sách mới như chính sách tín dụng, chính sách thị trường tiêu thụ sản
phẩm, chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách thuế, chính
sách khuyến nơng… để khuyến khích nơng dân giảm nghèo, làm giàu.

người nghèo trong vùng gặp nhiều rủi ro, đột xuất cần được cứu
trợ kịp thời.
 Nhấn mạnh vào trọng tâm giải quyết triệt để tình trạng đói kinh
niên, xố bỏ hiện tượng tái đói tái nghèo. Có như vậy mới đảm bảo
giảm thực sự vững chắc tỉ lệ hộ nghèo đói. Ngồi ra, phát triển
kinh tế hộ nghèo khơng tách khỏi sự phát triển chung cả vùng như
tăng cường xây dựng các cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ dân trí,
đổi mới hình thức quản lý nơng thơn, tăng cường sự hoạt động của
các tổ chức xã hội, quần chúng, nghề nghiệp,…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3. Một số giải pháp xố đói giảm nghèo:
3.1. Tăng trưởng kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững:
Cơ sở của giải pháp này dựa trên logic biện chứng là muốn giúp đỡ, hỗ
trợ có hiệu quả người nghèo đói thì Nhà nước phải có đủ nguồn lực, vật chất
trong tay. Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh,
hiệu quả và bền vững. Tất nhiên, ngồi nguồn lực tích luỹ từ nguồn kinh tế ta
còn có các nguồn lực hỗ trợ, ủng hộ của quốc tế nhưng nó chỉ chiếm một tỉ
trọng nhỏ lại mang tính tức thời nên ta khơng thể trơng chờ vào những nguồn
lực ấy. Thực tiễn những năm qua đã chứng minh nhờ kinh tế phát triển mà Nhà
nước có đủ tài chính để mở rộng các dự án, chương trình xố đói giảm nghèo,
hỗ trợ cho hàng ngàn xã khó khăn, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Trên
cơ sở đó những người nghèo có cơ hội vươn lên thốt khỏi đói nghèo.
Nhìn rộng ra, đây là giải pháp cơ bản khơng thể thiếu được trong việc xử
lý vấn đề đói nghèo ở một quốc gia. Mặc dù điều kiện chính trị - xã hội có thể
là khác nhau nhưng qui luật chung là khi kinh tế phát triển thì tỉ lệ người nghèo
giảm theo, cơ hội hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế của mỗi người
tăng lên. Điều này càng thể hiện rõ nét hơn ở Việt Nam, ở đâu kinh tế phát
triển, ngành nghề và hoạt động kinh tế đa dạng, sơi nổi, việc làm đầy đủ thì ở
đó số hộ nghèo đói giảm nhanh, số hộ giàu tăng lên và bộ mặt xã hội của cộng
đồng thay đổi nhanh chóng.

trình, dự án xóa đói giảm nghèo ở các nước có nhiều thành cơng như: Hàn
Quốc, Malaixia…cũng vơ cùng quan trọng và cần thiết. Chẳng hạn, theo kinh
nghiệm Hàn Quốc về hỗ trợ các xã nghèo phát triển là cung cấp cho họ các điều
kiện, phương tiện vật chất tối thiểu để họ tự triển khai theo sự tính tốn và bàn
bạc của tồn cộng đồng, các chun gia xóa đói giảm nghèo chỉ làm chức năng
tư vấn hướng dẫn và quản lí. Nhà nước đưa ra tiêu chuẩn về hiệu quả triển khai
dự án, xã nào làm tốt thì tiếp tục được hỗ trợ, xã nào yếu kém thì bị cắt giảm, từ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đó tạo ra khơng khí thi đua và cố gắng trong việc triển khai các dự án giữa các

3.3. Cơng tác qui hoạch, định hướng phát triển:
Trước hết, qui hoạch càng chi tiết và có tính khả thi sẽ tạo ra sự hấp dẫn
đối với các nhà đầu tư trong và ngồi nước. Từ đó có cơ chế cởi mở, thu hút
vốn đầu tư vào từng địa phương nhằm phát huy các thế mạnh tiềm tàng, phát
triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, có qui hoạch rõ ràng sẽ giúp cho mọi địa phương và các hộ gia
đình tránh được tình trạng phát triển kinh tế chạy theo phong trào một cách dập
khn máy móc như những năm vừa qua dẫn đến hiệu quả thấp và rủi ro cao,
kết cục sản phẩm làm ra ứ thừa, khơng tìm được thị trường tiêu thụ dẫn tới chặt
đốn những cây đã trồng (thậm chí chưa hoặc mới cho thu hoạch) gây lãng phí
và nhiều hậu quả khác.
Xuất phát từ thực tế, sản xuất hàng hố trong nơng nghiệp ít thích ứng
với sự thay đổi thất thường của giá cả thị trường, bởi vậy khơng thể phát triển
một nền nơng nghiệp tồn diện và bền vững mà lại thiếu qui hoạch linh hoạt
(hay qui hoạch cũng cần được thay đổi để phù hợp với “thời cuộc”) có tính đến
sự biến động của thị trường tiêu thụ chung và dài hạn.
Mỗi xã có những đặc thù riêng của mình, vì vậy cần phải dựa trên những
định hướng lớn của huyện, tỉnh…để xây dựng những phương án, bố trí cơ cấu
cây, con, ngành nghề phù hợp. Từ đó, hình thành nên cơ cấu sản xuất và cơ cấu
kinh tế theo hướng sản xuất hàng hố một cách hợp lí.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status