Phân biệt sự khác biệt giữa gia đình Việt Nam truyền thống và gia đình Việt Nam hiện nay. - Pdf 26

1
1
Phân biệt sự khác biệt giữa gia đình Việt Nam
truyền thống và gia đình Việt Nam hiện nay.
I. Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau giữa gia đình truyền thống và gia
đình hiện đại.
Mọi xã hội cũng giống như tự nhiên, không ngừng biến đổi. Sự ổn định của xã hội chỉ
là sự ổn định bề ngoài. Thực tế, nó không ngừng thay đổi ngay ở bên trong bản thân nó.
Sự biến đổi xã hội sẽ dẫn theo các yếu tố bên trong nó và những yếu tố khác (Kinh tế-
văn hóa- chính trị- quân sự…) thay đổi. Và gia đình là một thành tố tồn tại bên trong xã
hội, có thể coi gia đình là một nhóm xã hội sơ cấp, là “tế bào” của xã hội, hay hiểu rộng
hơn gia đình là một thiết chế xã hội. Vào những năm đầu đổi mới, “ mở cửa”, với sự tác
động mạnh mẽ của cơ chế thi trường, kéo theo nó là sự du nhập ồ ạt của lối sống,
phương thức sinh hoạt của xã hội phương Tây vào nước ta đã làm thay đổi phần nào
những giá trị truyền thống, đặc biệt trong gia đình Việt Nam dù ở nông thôn hay thành
thị. Có thể tùy từng dân tộc, từng vùng, từng dòng họ, từng gia đình …mà thay đổi nhiều
hay ít. Qua gia đình, chân dung của xã hội hiện ra một cách sinh động và toàn diện cả về
kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, lối sống, phông tục, tập quán, tín
ngưỡng… Trong bài này em muốn đưa ra một số tiêu chí, đánh giá về sự thay đổi của gia
đình Việt Nam. Ở đây là hai loại gia đình xưa-nay hay cụ thể hơn là gia đình Việt Nam
truyền thống và gia đình Việt Nam hiện đại.
Ta cũng có thể xét gia đình Việt Nam truyền thống và gia đình Việt Nam hiện đại dựa
trên khoảng thời gian, lấy mốc là năm 1945. Trước năm 1945 là gia đình Việt Nam
truyền thống, sau năm 1945 là gia đình Việt Nam hiện đại.
Sự khác nhau giữa gia đình Việt Nam truyền thống và gia đình Việt Nam hiện đại
dựa trên một số tiêu chí, biểu hiện sau:
2
2
II. Phân biệt gia đình Việt Nam truyền thống và gia đình Việt Nam
hiện đại:
STT

Chức
năng của
gia đình:
- Chức năng sinh sản: Coi trọng
chức năng này, họ coi việc càng
sinh nhiều con thì càng tốt, “con
đàn cháu đống” là có phúc. Đặc
biêt coi trọng con trai.
- Chức năng giáo dục: con cháu
chịu ảnh hưởng từ họ hàng, gia
đình, làng xóm Giáo dục chủ yếu
the tư tưởng Nho giáo, theo những
lễ nghi.Giáo dục con cái bằng
những kinh nghiệm được truyền từ
đời này sang đơi khác. Chỉ có con
trai mới được đi học. Con gái
được giáo dục để làm việc nhà.
-Chức năng kinh tế: Chức năng
- Chức năng sinh sản: Vẫn được chú
trọng, nhưng gia đình hiện đại chỉ sinh
1-2 con là chủ yếu (nhất là những gia
đình ở thành thị). Đã giảm bớt giá trị
con trai.
-Chức năng giáo dục: Ngày càng được
coi trọng hơn. Nhưng gia đình lại chú ý
đến việc học hành của con cái trong
trường như thế nào. Quá trình xã hội
hoá của đứa trẻ được diễn ra nhanh hơn,
được gia đình cho tiếp xúc với xã hội,
với các nhó xã hội nhiều hơn: nhà trẻ,

-Sự kiểm soát của gia đình là
rất chặt chẽ, đặc biệt đối với con
gái.
-Sự kiểm soát các cá nhân theo
gia phong, theo những luật lệ
trong làng…
- Có sự kiểm soát từ trên xuống.
- Sự kiểm soát của gia đình có phần
lỏng lẻo hơn. Nhưng phương tiện kiểm
soát thì đa dạng hơn.
-Sự kiểm soát các cá nhân theo pháp
luật và nề nếp của gia đình.
3
Mối quan
hệ giữa
các thành
viên trong
gia đình
Mối quan hệ giữa các thành viên
được củng cố bằng chế độ tông
pháp và chế độ gia trưởng.
Có sự mâu thuẫn nhau trong
những mối quan hệ và trở nên gay
gắt: mẹ chồng nàng dâu, em chồng
chị dâu.
Mối quan hệ giữa các cá nhân bình đẳng
hơn.
Vẫn còn những mâu thuẫn tồn tại trong
cac mối quan hệ nhưng đã bớt gay gắt.
Các cá nhân có quyền tự do.

công lao
đông
trong gia
đình:
quan trọng trong gia đình ( nếu
không sinh được con trai).Người
vợ phải có trách nhiệm sinh con
trai, làm mọi công việc nhà.
- Con cái:
+ Con trai: được coi trọng nhiều
hơn.
+ Con gái:Không có giá trị bằng
con trai.
Thường con cái phải tuân theo lời
của bố mẹ.”Cha mẹ đặt đau con
ngồi đấy”.
sinh hoạt cộng đồng và thụ hưởng phúc
lợi xã hội, gia đình.
- Con cái: Đã giảm phân biệt giữa nam
và nữ. Con cái có quyền lựa chọn bạn
đời cho mình, có quyền quyết định cuộc
sống của mình khi đến tuổi công dân.
5
Nghề
nghiệp
Thường gia đình, dòng họ theo
một nghề nhất định, “cha truyền
con nối” tạo thành “nghề gia
truyền”, hay rộng hơn là thành
một làng nghề.

-Tình yêu lứa đôi trong sáng.
-lòng chung thủy, tình nghĩa vợ
chồng.
-Trách nhiệm và sự hy sinh vô tận
của cha mẹ với con cái.
-Con cái hiếu thảo với cha mẹ.
-Con cháu kính trọng, biết ơn và
quan tâm tới ông bà, tổ tiên.
Tình yêu thương, chăm lo và đùm
bọc anh em, họ hàng.
-Đề cao lợi ích chung của gia
đình.
-Tự hào truyền thống gia đình,
dòng họ.
Tiếp thu tư tưởng, tinh hoa của cả
phương Đông và phương TâyBên cạnh
những giá trị truyền thống, gia đình Việt
Nam còn tiếp thu những giá trị tiên tiến
của gia đình hiện đại như:
- Tôn trọng tự do cá nhân.Tôn trọng
quan niệm và tự do của mỗi người. Tôn
trọng lợi ích cá nhân.
-Dân chủ trong mọi quan hệ
- Bình đẳng nam nữ
- Bình đẳng trong trách nhiệm, nghĩa vụ.
- Bình đẳng trong thừa kế. - Không phân
biệt đối xử đẳng cấp, thứ bậc giữa con
trai- con gái, anh- em
8
Chu kỳ

Những mô hình gia đình nhiều thế hệ theo kiểu “tam đại đồng đường”,“tứ đại đồng
đường”, có khi tới hơn chục người cùng chung sống trong một ngôi nhà đang dần được
thay thế bằng mô hình gia đình ít người, thường chỉ có hai thế hệ cha mẹ-con cái hay có
thể đến thế hệ thứ ba, rất hiếm thấy gia đình có 4-5 thế hệ cùng chung sống, mặc dù tuổi
thọ trung bình ngay nay cao hơn trước rất nhiều. “Theo số liệu của các cuộc điều tra dân
số qua các năm cho thấy, qui mô gia đình Việt Nam đã giảm từ mức trung bình 5,22%
người/hộ năm 1979 xuống còn 4,61 người/hộ năm 1999 và đến thời điểm này còn có thể
ít hơn nữa, tuy chưa có công bố kết quả điều tra mới. Quy mô số gia đình ở các vùng
miền cũng khác nhau, do ảnh hưởng của trình độ dân trí, đặc điểm về kinh tế xã hội,
phong tục tập quán và đặc trưng văn hoá. Ví dụ như: Tại khu vực đồng bằng sông Hồng,
quy mô số gia đình trung bình là 4,1 người, thấp nhất trong cả nước. Vùng Tây Bắc có
qui mô số gia đình trung bình cao nhất, trên 5 người, trong đó có một số dân tộc ở miền
núi phía Bắc có quy mô hộ gia đình lớn hơn rất nhiều so với quy mô hộ trung bình của cả
nước” (nguồn: http://www.chungta.com.vn) Theo phân tích của một số nhà xã hội học, sự
thu nhỏ quy mô gia đình nói trên đang tạo thêm nhiều điều kiện thúc đẩy sự bình đẳng
giới, đời sống riêng tư của con người được coi trọng hơn, giảm bớt những mâu thuẫn và
xung đột phát sinh từ việc chung sống trong gia đình nhiều thế hệ. Việc sinh ít con đã trở
nên phổ biến trong các gia đình, cả ở nông thôn và thành thị. Điều này giúp phụ nữ có
nhiều cơ hội tham gia vào công việc xã hội, sống bình đẳng hơn với nam giới, có điều
kiện học hỏi nâng cao trình độ, trẻ em được chăm sóc tốt hơn. Tuy vậy, quy mô gia đình
thu nhỏ cũng gây nhiều khó khăn trong việc chăm sóc người cao tuổi và phát triển nhân
7
7
cách trẻ em. Ví dụ như: Trong những gia đình quy mô nhỏ ở Hà Nội được điều tra, có tới
hơn 30% số người sống ở nội thành cho biết họ không có thời gian hoặc rất ít thời gian để
chăm sóc giáo dục con cái. Sự thu nhỏ quy mô gia đình theo hướng con cái khi có gia
đình riêng sống tách rời cha mẹ đã khiến người già có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh cô đơn
và khó khăn về kinh tế, nhất là ở nông thôn-nơi bảo hiểm xã hội đối với người già chưa
phổ biến Quy mô của gia đình có ảnh hưởng đến hoạt động và đời sống của từng
thành viên trong gia đình đó.

của con người.
Từ cách tiếp cận xã hội học, xét về bản chất, gia đình có 4 chức năng cơ bản (sinh
sản.giáo dục, kinh tế, tâm lý- tình cảm) ngoài ra còn có các chức năng khác như: chăm
sóc sức khỏe của người già, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, điều chỉnh hành vi tình dục và giới,
xã hội hoá trẻ em…
Thứ nhất: Chức năng sinh sản, đại bộ phận người Việt cho rằng sinh con là một chức
năng quan trọng của gia đình. Tuy nhiên, đã có một sự chuyên đổi nhận thức về mặt số
con, con trai hay gái Theo kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, tỉ lệ người
đồng ý rằng gia đình phải có nhiều con chiếm tỉ lệ khá thấp (18,6% người cao tuổi,
6.6%người độ tuổi 18-60 và 2,8% vị thành niên), khác hẳn với gia đình truyền thống
trước kia, hầu như nhà nào cũng sinh rất nhiều con. Mọi người coi sinh đẻ , coi số con
càng đông thì gia đình ấy lại càng có phúc. Quan niệm “gia đình nhất thiết phải có con
trai” vẫn được bộ phận đáng kể người dân ủng hộ (gần 37% người độ tuổi 18-60), trong
đó nhóm dân số nghèo có nhu cầu sinh con trai nhiều hơn nhóm dân số giàu (45,5% ở
nhóm có thu nhập thấp nhất, 26% ở nhóm có thu nhập cao nhất). Lí do để giải thích vì
sao phải có con trai chủ yếu vẫ là “để có người nối dõi tông đường” (85,7%), “ để có
người nương tựa lúc tuổi già”(54,2%) và để có người làm việc nặng(23,4%) tuy nhiên
có khoảng 63% người cho rằng không nhất thiết phải có con trai. Cho thấy bộ phận
người dân đã tự nhận thức được giá trị của con cái trong cuộc sống gia đình nói chung.
Thứ hai, chức năng giáo dục. Dù là gia đình Việt nam truyền thống hay hiện đại thì
giáo dục là một phần không thể thiếu được trong gia đình, nó thể hiện sự dạy dỗ của ông
bà, bố mẹ với con cái, cháu chắt. Chúng ta thấy rằng gia đình truyền thống thì con cái sẽ
có được sự chỉ bảo, dạy dỗ của cả ông bà, chú bác, bố mẹ nhiều hơn gia đình hiện
đại.Hiện tượng gia đình hạt nhân làm chặn đứng cơ hội truyền thụ những hiểu biết về
việc nuôi dạu con cái từ thế hệ ông bà cho thế hệ cha mẹ. Thế hệ trẻ mới lập gia đình cho
9
9
dù có nhận được sự giúp đỡ của bố mẹ nhưng vẫn bộc lộ những bất đồng thế hệ, xung
quanh việc nuôi dạy con cái vì giới tre ngày nay trông cậy vào tri thức khoa học và
chuyên môn hơn là sự hiểu biết của bố mẹ.

Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình thể hiện cơ cấu của gia đình như thế
nào. Và nó cũng được biểu hện trong thuyết tương tác- biểu trưng. Đó là áp dụng để
nghiên cứu, xem xét quá trình xã hội hóa trẻ em, phân tích quan hệ giữa cha mẹ và con
cái, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.Nghiên cứu các vai trò vị trí trong gia
đình là ta nghiên cứu quan hệ bên trong gia đình. Điều đó nói lên mỗi vai trò trong gia
đình đều liên quan chặt chẽ với nhau.
Trong gia đình Việt Nam truyền thống, mối quan hệ giữa các thành viên được củng
cố bằng chế độ tông pháp và chế độ gia trưởng. Theo đó cả 3 mối quan hệ cơ bản của gia
đình (vợ- chồng; cha- con; anh- em) tuân theo một tôn ti, trật tự chặt chẽ. Là vợ chồng
thì phải hòa thuậ thương yêu nhau, phu xướng thì vợ phải tùy; là cha con thì cha phải
hiền từ, biết thương yêu và nuôi dạy con cái, biết làm gương cho con cái học tập,. Là con
cái thì phải biết ghi nhớ công ơn sinh thành, dưỡng dục của bố mẹ. Là anh em thì phải
biết đoàn kết,thương yêu, đùm bọc lẫn nhau Cho đến nay, mối quan hệ giữa các thành
viên trong gia đình thì lỏng lẻo hơn. Sức Nặng của tôn ti trật tự dù vẫn còn nhưng đã
giảm dần, và bây giờ là sự đề cao tự do cá nhân, bình đẳng trong mối quan hệ. Vì hiện
nay số lượng con cái trong gia đình có xu hướng giảm, thu nhâp của gia đình lại tăng lên
nên cha mẹ có điều kiện nuôi con tốt hơn. Cha mẹ đi làm suốt ngày, phần lớn bố mẹ đều
không có thời gian chăm sóc con cái học tập, vui chơi giải trí. Nhiều bậc cha mẹ phó
mặc con cái cho nhà trường,các đoàn thể trong việc giáo dục nhân cách, văn hóa. Đồng
thời, cũng có không ít con cái con cái có xu hướng muốn tách khỏi sự kiểm soát của cha
mẹ.Do đó mà mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong một số gia đình Việt Nam trở
nên lỏng lẻo,nảy sinh nhiều vấn đề tệ nạn xã hội trong giới thanh thiếu niên hiện nay.
4. Vị trí- vai trò của phụ nữ trong gia đình:
Phân công lao đông trong gia đình:Vì gia đình là một thiết chế xã hội. Mà ta biết
rằng thiết chế với tư cách một quy tắc các lễ nghi, những hành động và việc chuyển đổi
từ một vai trò sang vai trò khác bên trong thiết chế. Vị trí- vai trò của người vợ hoặc
chồng sẽ được phân công hoặc chuyển đổi cho nhau qua một số tình huống cụ thể, điều
kiện cụ thẻ để gia đình đảm bảo được tính ổn định.
11
1

Nghề nghiệp trong gia đình truyền thống thường được truyền tư đời này sang đời khác:
“Cha truyền con nối” làm cho tín chất nghề nghiệp trong gia đình không đa dạng. Nhưng
12
1
2
hiện nay thì nghề nghiệp trong gia đình hiện đại đã có sự thay đổi rõ ràng. Mỗi cá nhân
trong gia đình có thể tự lựa chọ cho mìn một nghề mình thích. Vì tự do cá nhân và dân
chủ được đề cao khiến cho cá nhân trong gia đình có quyền phát triển tốt hơn. Có nhiều
nghề nghiệp mới đang xuất hiện làm cho các thành viên được hoạt động và tìm cho
mình công việc thích hợp. Dù bây giờ con cái vẫn chịu ảnh hưởng định hướng nghề
nghiệp bởi cha mẹ.
6. Kinh tế gia đình:
Gia đình truyền thống chủ yếu dựa vào nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún ,
tự cấp tự túc để sinh sống và đảm bảo cuộc sống.80% dân số sống bằng nghề nông. Vì
vậy nó đã quy định cơ cấu kinh tế trong gia đình Việ Nam. Kinh tế nông nghiệp không
được mở rộng, không có sự quan tâm của chính sách hỗ trợ. Nhưng kinh tế gia đình đã
có sự thay đổi rõ ràng. Gia đình hiện đại có nguồn lợi kinh tế thu được từ phi nông
nghiệp hoặc hốn hợp phi nông nghiệp. Nhóm hộ gia đình Phi nông nghiệp là những gia
đình có nguồn thu nhập từ lương bổng, từ các lĩnh vực hoạt đọng kinh tế, dịch vụ.
Các gia đình chịu ảnh hưởng của cơ chế thi trường nên đã có những hoạt động kinh tế
phù hợp, phong phú, đáp ứng những nhu cầu của thị trường. Số thành viên đóng góp vao
kinh tế cho gia dình cũng nhiều hơn
7.Tư tưởng- giá trị , chuẩn mực của gia đình Việt Nam:
Vì gia đình được coi như một thiết chế xã hội, nên nó sẽ kiên quan đến các dạng ứng
xử gia đình, vai trò, chuẩn mực của gia đình được quy định. Một thiết chế bao gồm một
loạt các chuẩn mực. Một thiết chế định rõ hành vi đúng và không đúng bằng việc phân
định ranh giới giữa các thành viên và những người không phải thành viên của thiết chế,
bằng việc bố trí các thành viên theo các vai trò xã hội cụ thể. Thiết chế với tư cách một
qui tắc sử dụng các lễ nghi, hành động,và việc chuyển đổi từ một vai trò sang vai trò
khác bên trong thiết chế.

phận của mỗi người do xã hội quy định. Đó là phận làm vua, phận làm tôi, phận làm cha,
phận làm con Danh phận của mỗi người quy định cách ứng xử của họ. Cách ứng xử
theo danh phận Nho giáo gọi là lễ. Theo Nho giáo, nếu trong xã hội mỗi người đều làm
tất bổn phận của mình thì xã hội sẽ thái bình. Nếu xã hội thái bình thì mọi người ai cũng
được an cư lạc nghiệp. Khi đó tất cả những người già cả, trẻ nhỏ và những người cô quả
sẽ được mọi thành viên trong xã hội quan tâm giúp đỡ. Để làm được điều đó, Nho giáo
đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của gia đình. Được ví như cái nước nhỏ, Nho giáo cho
rằng, gia đình có vị trí quan trọng trong sự ổn định của xã hội. Vì vậy, những hành vi ứng
14
1
4
xử và giao tiếp của mỗi thành viên trong gia đình được Nho giáo quy định chặt chẽ, phụ
thuộc vào danh phận mỗi người. Những quy định này, nếu loại bỏ những yếu tô bảo thủ,
mất dân chủ thì cho đến nay, vẫn còn có giá trị. Do đó, kế thừa những tư tưởng tích cực
của Nho giáo về gia đình trong việc xây dựng gia đình mới ở Việt Nam hiện nay nhằm
thực hiện thành công xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là
việc làm cần thiết giúp cho những giá trị tốt đẹp giữa người với người, giữa các thành
viên trong gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại được đảm bảo theo một trật tự,
đạo đức nhất định.
Gia đình Việt Nam hiện đại không những vần tồn tại những tư tưởng- giá trị của Nho
giáo mà nó còn bổ sung thêm những giá trị, tư tưởng mới, tiến bộ, phù hợp với cuộc sống
hiện nay như đã nêu ở trên. Ta thấy rằng gia đình Viêt Nam đã biến đổi một cách toàn
diện và ngày càng trở thành một thực thể hoàn thiện, năng động phù hợp với những điều
kiện kinh tế- xã hội có nhiều biến động.
8. Chu kỳ gia đình:
Chu kỳ gia đình lấy việc gia đình cũng như cá nhân đươc tồn tại tiếp diễn với sự lặp đi
lặp lại của sinh và tử làm tiền đề và định ra giai đoạn bước ngoặt: là lúc trải nghiệm quan
trọng mà gia đình gặp phải từ khi 2 vơ chồng kết hôn cho đến lú chết đi. Chu kì gia đình
bình thường được tiếp diễn bởi các giai đoạn kết hôn, sinh con,ngừng sinh con, nuôi dạy
con cho đến khi con cái rời khỏi gia đình, kết thúc nuôi dạy con cái đến già nua và đến

nhược điểm của hai loại gia đình, và cho thấy những vấn đề phức tạp, những mâu thuẫn
và nguy cơ bởi xung đột giữa quan điểm giá trị truyền thống,v à quan điểm gia trị mới,
mâu thuẫn giữa thế hệ trước và thế hẹ sau của xã hội Việt Nam. Do vậy để giải quyết
mâu thuẫn và “xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc…” thì chúng ta
cân phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình truyền thống trong hoàn cảnh xã
hoọi mới, và đảm bảo quyền tự do dân chue mỗi cá nhân trong gia đình. Cần tập trung
vào một số vấn đề sau: có hệ giải pháp thiết thực để thực hiện tốt nhất chiến lược củng cố
và xây dựng gia đình; có hẹ chính sách hữu hiệu hỗ trợ phat triển kinh tế hộ gia đình;
16
1
6
phát triển giáo dục nâng cao dân trí; có chính sách tích cực đâye mạnh đoàn tụ gia đình;
đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, tăng cường thực hiênh công tác dân số, kế hoạch
hoá gia đình; mở rộng tuyên truyền bình đẳng giới trong gia đình…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status