Một số kinh nghiệm khi giảng dạy bài đội ngũ từng người không có súng (Động tác đi đều, đứng lại) - Pdf 26

A.ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lý luận.
- Giáo dục Quốc phòng - An ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân,
một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân
dân, là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục của cấp THPT.
- Môn Giáo dục Quốc phòng - An ninh góp phần vào giáo dục toàn diện cho
học sinh về lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, niềm tự hào và sự trân trọng
đối với truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, của các lực lượng
vũ trang nhân dân Việt Nam; có ý thức cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn của
các thế lực thù địch; có kĩ năng quân sự, an ninh cần thiết để tham gia vào sự
nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.
- Nhằm để nâng cao được chất lượng giáo dục trong nhà trường. Theo Quyết
định số 16/2006 QĐ - BGDDT ngày 05/06/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã
nêu "phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc trưng môn học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú và trách
nhiệm học tập cho học sinh". Chính vì vậy chúng ta không thể nhồi nhét vào đầu
óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều mà chúng ta phải chú trọng
đến phương pháp rèn luyện cho học sinh một kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì
sẽ tạo ra cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết
quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội.
- Trong một lớp học trình độ kiến thức, tư duy của học sinh thường không
đồng đều, vì vậy khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực buộc phải chấp
nhận sự phân hoá về cường độ, mức độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập,
nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi hoạt động độc lập. Áp dụng
phương pháp dạy học tích cực càng cao thì sự phân hoá càng lớn.
- Tuy nhiên trong học tập không phải mọi trí thức, kỹ năng, thái độ đều được
hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao
tiếp thầy- trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con
đường chiếm lĩnh nội dung học tập.

không hề thực hiện được động tác chứ không nói đến hô cả khẩu lệnh và thực
hiện động tác.
- Kết quả điều tra của những năm trước
Năm học Kết quả kiểm tra khi chưa áp dụng Ghi chú
Giỏi % Khá % TB % Yếu % Kém %
2008 - 2009 02 % 10 % 45% 35 % 08 %
2009 - 2010 04 % 12 % 50 % 30 % 04 %
2010 - 2011 06 % 22% 54 % 16 % 02 %
- Những sai lầm học sinh thường mắc phải khi học bài này:
+ Về khẩu lệnh: khi hô hẩu lệnh học sinh có thói quen là "Giậm chân tại chổ -
Giậm" như vậy khẩu lệnh ở đây đã bị sai đó là dự lệnh thừa hai từ " tại chổ"
- Về động tác: Khi nghe dứt động lệnh "Giậm" học sinh không nhấc chân trái
lên ngay, mà thường nhấc chân chậm hơn khi có nhịp một thì mới nhấc chân và
đánh tay, như vậy đông tác đã bị sai một nhịp.
Cũng như thông qua những đợt điều tra tại các trường giáo viên đều nhận
định ở bài này số học sinh đạt được từ trung bình trở lên chỉ được 45- 50%.
Đối với bài này một thực tiễn chúng ta nhìn thấy rất rõ qua đợt học chuyên
đề năm 2012 tại Trường Dân tộc nội trú tỉnh. Đó là vẫn còn nhiều giáo viên
chưa thực sự vững về kỹ năng động tác.
Trên cơ sở đó trong những năm gần đây, đặc biệt là trong năm học 2012 -
2013 nội dung Điều lệnh đội ngũ sửa đổi, bổ sung được áp dung vào các nhà
trường. Tôi luôn tập trung nghiên cứu và áp dụng một số phương pháp giảng
dạy trong bài này và cũng đã đạt được những thành quả nhất định trong trường.
Cũng từ những kết quả này trong những năm vừa qua đã tạo ra cho học sinh
2
trong trường một sự đam mê mỗi khi học môn Quôc phòng để các em lại được
hiểu thêm về ý nghĩa truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta, về sức
mạnh của Quân đội nhân dân Viêt Nam.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

tranh cách mạng thì thế hệ trẻ mới không ngừng tiến bộ và trưởng thành.
Bốn là: Nhiệm vụ bồi dưỡng, rèn luyện thanh, thiếu niên là trách nhiệm của
toàn Đảng, của mọi cấp, mọi ngành. Nhưng chủ yếu là các trường phổ thông ,
đây là môi trường văn hoá tích cực, thuận lợi nhất trực tiếp giáo dục hình thành
nhân cách của thanh niên, để thanh niên phát huy vai trò xung kích, sáng tạo
trong mọi nhiệm vụ.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định hàng triệu thanh niên đã và
đang thực hiện xuất sắc vai trò của mình, đi đầu trên mọi mặt trận
3
Đặc biệt trong tình hình đất nước hiện nay, đang có nhiều các đối tượng thù
địch, chúng lợi dụng nhân dân ta bằng nhiều con đường , nhằm chia rẽ sự đoàn
kết của dân tộc cũng như gây mất lòng tin giữa nhà nước với nhân dân.
Chính vì vậy năm 1961 môn huấn luyện quân sự đã được đưa vào nhà trường
phổ thông và đã trở thành một môn học chính khoá.
Năm 1966 chương trình " huấn luyện quân sự" cho các cấp học đã được ban
hành và thực hiện thống nhất trong các nhà trường. Sau một thời gian triển khai
giảng dạy, nó đã trở thành một môn học quan trọng và được gọi là"Huấn luyện
quân sự phổ thông"
Năm 1980, trước yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng, mục tiêu nội dung
chương trình" huấn luyện quân sự phổ thông" đã được nghiên cứu thay đổi cho
phù hợp với tình hình mới của đất nước.
Năm 1983 Bộ Quốc phòng đã ban hành một chương trình giáo dục quốc
phòng mới gồm: Huấn luyện phổ thông bậc một áp dụng cho các trường phổ
thông cơ sở và THPT, Huấn luyện quân sự bậc hai áp dụng cho các trường ĐH,
CĐ- THCN- DN.
Năm 1989, thực hiện chủ trương đổi mới đào tạo nói chung và GDQP nói
riêng, chương trình "huấn luyện quân sự phổ thông" được tiếp tục nghiên cứu
cải tiến, vì thế chất lượng dạy và học được nâng lên một bước. Thuật ngữ "Huấn
luyện quân sự phổ thông" được thay bằng Giáo dục quốc phòng, với hàm ý rộng
hơn, phù hợp hơn với nội dung môn học.

nhiệm của công dân, tích cực hoạt động góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Do xác định rõ vị trí, vai trò của môn học, chương trình Giáo dục quốc
phòng - An ninh luôn được cải thiện, đổi mới đáng kể cho phù hợp với thực tiễn,
phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và của ngành giáo dục. Năm
1991 chương trình giáo dục quốc phòng được ban hành đã có những thay đổi
lớn về tên gọi, kết cấu nội dung giảm bớt phần thực hành kỹ năng quân sự cho
phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình. Chương trình Giáo dục
quốc phòng năm 2000 tiếp tục được sửa đổi bổ sung. Tuy nhiên kiến thức về an
ninh chưa được quy định cụ thể.
Để đảm bảo hoà nhập trong quá trình đổi mới giáo dục ở cấp trung học phổ
thông. Ngày 05 tháng 5 năm 2006 Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành
quyết định số 16/2006 QĐ- BGD & ĐT về chương trình phổ thông cầp trung
học phổ thông, trong đó có môn học Giáo dục Quốc phòng - An ninh với thời
gian 35 tiết cho mỗi lớp học, 105 tiết cho cả cấp học, đáp ứng yêu cầu tổ chức
dạy học theo phân phối chương trình.
Thực hiện sự chỉ đạo của chính phủ, tại nghị định 116/2007/NĐ - CP về
Giáo dục Quốc phòng - An ninh ngày 24/12/2007 Bộ giáo dục và đào tạo ra
quyết định ban hành chương trình Giáo dục Quốc phòng - An ninh cấp trung học
phổ thông đã đánh dấu bước hoàn thiện cả về nội dung, hình thức trong quá
trình phát triển của môn học.
Trên cơ sở chương trình toàn cấp, chương trình môn học Giáo dục quốc
phòng - An ninh là một chiến thuật quân sự cũng như những hiểu biết về phòng
không nhân dân, phục vụ trực tiếp cho việc sẵn sàng tham gia các lực lượng vũ
trang bảo vệ tổ quốc, nôi dung chương trình đã được lựa chọn phù hợp với khả
năng tư duy, khả năng hoạt động thực tiễn theo lứa tuổi và điều kiện kinh tế,
chính trị xã hội của đất nước.
Hệ thống kiến thức trong chương trình môn học được cấu trúc theo hệ
thống hình bậc thang từ thấp đến cao, lớp 12 là lớp cuối cùng trong chương trình
phổ thông. Trong nội dung kiến thức lý thuyết và thực hành đều có tính độc lập

nhiều nội dung trái ngược nhau, thời gian bồi dưỡng của giáo viên lại ngắn nên
đã gặp không ít những khó khăn trong khi giảng dạy.
+Về khách quan:
Thiết bị dụng cụ không đảm bảo hỏng nhiều.
Sân bãi không đảm bảo sau khi mưa một hai ngày sân vẫn lầy lội.
Trong khi đang học thực hành gặp phải những buổi trời mưa, thâm chí mưa
kéo dài trong nhiều ngày, nên ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập.
- Đối với học sinh
Do các em sinh ra và lớn lên trong thời bình, do yêu cầu vệ lượng kiến thức
của các môn học nhiều, nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của bộ môn.
Do một bộ phận không nhỏ của học sinh và phụ huynh còn ngộ nhận coi
đây là môn học phụ nên dẫn đến ý thức học tập kém.
Dụng cụ trang thiết bị tuy được cấp tương đối đầy đủ nhưng một sồ thiết bị
không đảm bảo chất lượng nên đã bi hỏng như máy bắn TEC 1, súng AK tập
(composite). Vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học
sinh.
Những hạn chế nêu trên có rất nhiều nguyên nhân sâu xa: như giáo viên
chưa thực sự quan tâm đến việc học sinh học tập, chưa nhắc nhở đôn đốc học
sinh học tập, chưa áp dụng phương pháp hợp lý Song nguyên nhân chính vẫn
là do bản thân từng cá nhân học sinh chưa tích cực rèn luyện, trong quá trình học
6
tập còn nô đùa làm việc riêng Để khắc phục những hạn chế này. Nhằm nâng
cao chất lượng về nội dung của bài này cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
2.3 Nôi dung nghiên cứu
1. Một số kinh nghiệm trong giảng dạy bài đội ngũ từng người không có
súng
Tiết 12: Động tác đi đều, đứng lại, đổi chân: động tác dậm chân, đổi chân
khi đang dậm, dậm chân chuyển thành đi đều
a. Đối tương:
Học sinh lớp 10b1, 10b2, 10b3 trường THPT Lam Kinh.

ra nhiều vấn đề đối với người học. Như khẩu lệnh không khớp với động tác,
động tác đánh tay sai Chính vì vậy giáo viên phải đưa ra được những phương
pháp hợp lý để học sinh có thể nhanh chóng tiếp thu được kiến thức cũng như
không bị nhàm chán trong khi học tập.
7
Giáo viên phải nêu rõ mục đích ý nghĩa, tác dụng của khẩu lệnh đối với
động tác đối với người học.
- Về khẩu lệnh:
+ Là sự thống nhất về ý trí, về hành động
+ Là sự thể hiện của sức mạnh quân đội.
+ Giúp người học chủ động tích cức trong khi thực hiện động tác.
+ Giúp người học phát hiện ra động tác đang thực hiện đúng hay sai.
- Về động tác:
+ Thể hiện tính nghiêm minh, tính kỹ luật của quân đội .
Để đảm bảo được thời gian và nội dung bài học ở tiết học này, nếu giao cho
học sinh tự nghiên cứu rồi giáo viên tổ chức tập luyện thì khó có thể đảm bảo
được thời gian cũng như học sinh tiếp thu được động tác. Chính vì vậy ở nội
dung này giáo viên nên tổ chức tập luyện đồng loạt.
Để đảm bảo được tính hiệu quả trong tập đồng loạt giáo viên phải chia nhỏ
động tác từ dễ đến khó.
Trong tiết 12 chúng ta có tới 8 nội dung cả 8 nội dung đều là bài mới. Vậy
trong 8 nội dung này ta xác định động tác đi đều, đứng lại là nội dung chính của
bài học.
Đối với bài điều lệnh đội ngũ học sinh muốn đảm bảo các nội dung trong
bài thì nội dung đi đều đứng lại học sinh phải thực hiện thuần thục cả về khẩu
lệnh và động tác thì các nội dung tiếp theo mới có thể thực hiện được.
2.2. Đối với giáo viên.
Trước hết cần giáo dục cho học sinh nhận thức đầy đủ ý nghĩa, mục đích,
yêu cầu của điều lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2010, làm cho học sinh chuyển biến
mạnh mẽ từ nhận thức đền hành động để có quyết tâm học tập tốt. Kết quả học

đủ như: trang phục phải đúng quy định, tác phong nhanh nhẹn, chuẩn xác, khẩu
lệnh dứt khoát, có hồn. Có như vậy mới gây ra được hứng thú ngay từ ban đầu
cho học sinh.
Về nội dung đi đều đứng lại tôi áp dung phương pháp lên lớp như sau:
- Một là: Giáo viên giới thiệu về ý nghĩa, mục đích, yêu cầu của Điều lệnh sửa
đổi, bổ sung năm 2010 làm cho học sinh hiểu được tầm quan trọng của nội dung
này.
- Hai là: Giáo viên thị phạm động tác theo bốn bước.
+ Bước một: Giáo viên làm nhanh khái quát động tác.
+ Bước hai: Giáo viên làm chậm, có phân tích từng cử động của động tác.
+ Bước ba: Giáo viên làm tổng hợp động tác.
+ Bước bốn: Giáo viên làm chậm, chỉ ra những điểm giống và khác nhau của
những động tác cũ và động tác mới.
- Ba là: Giáo viên đưa ra phương pháp và hướng dẫn học sinh tập luyện:
Để tránh tình trạng học sinh thực hiện động tác sai, chậm so với khẩu lệnh
và nhầm động tác, theo thói quen là chân thuận bước trước. Tôi chia động tác đi
đều ra các bước sau:
Bước một: Người chỉ huy cho tiểu đội đứng tai chỗ, hai chân đưng khép lại
với nhau như đứng nghiêm, hô khẩu lệnh.
Nhịp "Một" tay phải đánh ra phía trước, khuỷu tay gập cánh tay hơi nâng
lên, cánh tay trên hợp với thân người một góc 60 độ, cánh tay dưới thành đường
thẳng bằng, song song với mặt đất, cách thân người 20cm, nắm tay úp xuống, cổ
tay khoá, khớp xương thứ 3 của ngón tay chỏ cao ngang và thẳng với cúc áo
ngực bên trái, ( đối với quân nhân nữ khi mặc áo quân phục mùa he, mép trên
cánh tay dưới cao ngang với cúc áo thứ hai từ trên xuống, cách thân người
20cm, khớp xương thứ 3 của ngón tay trỏ thẳng giữa ngực áo bên trái. Tay trái
đánh về sau cánh tay thẳng, sát với thân người, hợp với thân người một góc 45
độ có độ dừng, lòng bàn tay cong vào trong, mắt nhìn thẳng.
Giữ nguyên động tác, người chỉ huy nhắc nhở chỉnh sửa động tác.
Nhip "Hai" tương tự như động tác "Một" nhưng chỉ đổi tay, tay trái đánh ra

IV. TỔ CHỨC LUYỆN TẬP
Đối với nội dung bài này tôi áp dụng phương pháp học nhóm, học theo
cách này để học sinh hợp tác được với nhau, học hỏi lẫn nhau để đạt được
những kết quả học tập cao. Tôi nhận thấy trong học nhóm có những ưu điểm
sau:
Một là: Phát huy được sức mạnh tập thể, nâng cao khả năng làm việc cá nhân,
phát huy ưu thế của mỗi thành viên. Làm việc nhóm thực ra là sự kết hợp các
sức mạnh cá nhân để xây dựng lên một sức mạnh tập thể tốt, chính vì thế trong
làm việc nhóm, mỗi thành viên có điều kiện tập trung vào điểm mạnh của mình,
rèn dũa bổ sung cho nhau để có được kết quả học tập tốt nhất.
Hai là: Nâng cao khả năng giao tiếp, đặc biệt trong điều lệnh đội ngũ là khả
năng lãnh đạo, thuyết trình, thực hành khẩu lệnh đến động tác.
Ví dụ: Khi hô khẩu lệnh một cá nhân hô khẩu lệnh thì có thể nhanh hoặc chậm,
không khớp với động tác, tập nhiều có thể trở thành cố tật khó sửa.
Nhưng ở đây cả nhóm tập đều hô khẩu lệnh thì những người hô nhanh hoặc
chậm cũng không hô được mà phải theo một quy luật nhất định đó là đồng thanh
khẩu lệnh.
Ba là: Khi đã đi vào thống nhất khẩu lệnh, thống nhất động tác, thì công việc
hoàn thành nhanh hơn, tốt hơn, phong phú hơn.
Đây là giai đoạn thứ nhất của bài này, tuy mất nhiều thời gian nhưng lại đem
lại hiệu quả cao nhất cho người học. Vì nội dung này tăng cường tối đa tính chủ
động cho học sinh.
Ở nội dung này, luyện tập và sửa tập phải thực hiện đúng quy trình, từ
luyện tập cơ bản đến luyện tập tổng hợp, luyện tập từng cử động của động tác
đến liên kết các cử động của động tác. Luyện tập các kĩ năng động tác phải đi từ
cá nhân đến tập thể, từ đơn giản đến phức tạp, từ phân đoạn đến tập tổng hợp.
Đối với cá nhân không nên học đối phó hay đến học chỉ để cho có mặt cho đủ
quân số. Tự mình phải nghiên cứu kĩ thuật từng động tác để luyện tập cho chuẩn
xác. Khi thấy động tác chưa đúng kĩ thuật phải nghiên cứu cụ thể để có biện
pháp khắc phục.

Luyện tập và sửa tập thực hiện đúng quy trình, từ luyện tập cơ bản đến
luyện tập tổng hợp, luyện tập từng cử động của động tác đến liên kết các cử
động của động tác. Luyện tập các kĩ năng của động tác phải đi từ cá nhân đến
tập thể, từ đơn giản đến phức tạp, từ phân đoạn đến tập tổng hợp. Trong quá
trình luyện tập, người giáo viên không nôn nóng cắt giảm các bước luyện tập, tổ
chức luyện tập cho học thành thạo động tác, dứt điểm nội dung này mới chuyển
sang nội dung khác.
Trước khi vào luyện tập, giáo viên phải nói rõ nội dung và phương pháp
luyện tập, quá trình luyện tập phải dùng khẩu lệnh và động tác mẫu để sửa, thực
hiện sai đâu sửa đó. Sửa tập không nóng vội nhưng phải làm kiên quyết, cá nhân
nào luyện tập chưa đúng phải kiên quyết bắt tập lại. Trong các nhóm tập đều
phân công nhóm trưởng để theo dõi, giúp giáo viên duy chì luyện tập cũng như
giúp đỡ sửa tập cho các bạn.
Luyện tập điều lệnh đội ngũ là nội dung xây dựng chính quy, là một nội
dung công tác quân sự của người chỉ huy để xây dưng đơn vị vững mạnh toàn
diện. Vì vậy, kết quả luyện tập điều lệnh đội ngũ của cá nhân và nhóm tập phải
được đưa vào nội dung đánh giá kết quả học tập trong các bài kiểm tra định kì
hoặc học kì, đó là cộng thêm điểm (điểm thưởng) cho cá nhân học sinh hoặc
nhóm tập đạt kết quả cao. Đối với những cá nhân thiếu ý thức học tập, làm ảnh
hưởng đến người khác thì sẽ bị phạt bằng hình thức như không có điểm thưởng
Bàn GV
13
hoăc hạ điểm. Có như vậy mới kích thích được phong trào luyện tập của học
sinh.
Trong quá trình học sinh luyện tập giáo viên phải thường xuyên quan sát để
phát hiện ra những sai sót, để sửa sai kịp thời tránh tình trạng để thành cố tật.
Đồng thời giáo viên nhận xét sự tiến bộ của học sinh, động viên khuyến
khích học sinh bằng lời nói hoặc bằng những động tác chuẩn, đẹp của giáo viên
để học sinh phấn đấu hơn nữa.
4.3. Kiểm nghiệm

Luyện tập điều lệnh đội ngũ là nội dung xây dựng Quân đội chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại. Mặc dù vậy trong những năm vừa qua, công tác giảng
dạy và học tập nội dung này ở một số trường phổ thông, còn đại khái kết quả
không cao, thậm chí có nhiều học sinh không thể thực hành được động tác đúng
có khẩu lệnh. Hoặc ta có thể nhận thấy qua các kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh của
những năm trước, có nhiều trường vào thi nội dung điều lệnh, học sinh làm sai
cơ bản.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn của trường nhà và một số trường xung quanh,
nên tôi đã nghiên cứu và mạnh dạn đưa vào áp dụng nội dung này và cũng đã có
những chuyển biến đáng kể.
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi đã được rút ra từ thực tế trong quá
trình giảng dạy tại trường Trung học phổ thông Lam Kinh. Có thể phương pháp
của tôi trong nội dung Đi đều, đứng lại chưa phù hợp với một số trường khác.
nhưng để góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Giáo
dục quốc phòng - An ninh, tôi dã mạnh dạn đưa vào thực nghiệm tại trường tôi
đang giảng dạy. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp, để ý
tưởng của tôi hoàn chỉnh hơn và có thể đưa vào thực nghiệm ở phạm vi rộng
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xác nhận của BGH trường Thanh Hoá, ngày28 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết
Trịnh Tiến Duẩn
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các văn bản hiện hành về chương trình Giáo dục quốc phòng - An ninh cấp
trung học phổ thông.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status