Tiểu Luận Chứng minh rằng Tư pháp quốc tế Việt Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống pháp luật nước ta, tư pháp quốc tế đóng vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
.Các ngành luật của nuớc ta có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Mặc
dù nguồn của tư pháp quốc tế Việt Nam chủ yếu là văn bản pháp luật của các
ngành luật trong nước như dân sự, hôn nhân gia đình…và các Điều ước quốc
tế, tập quán quốc tế, nhưng tư pháp quốc tế Việt Nam là một ngành luật độc
lập đối với các ngành luật khác trong nước. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề
này, vì vậy em đã chọn đề tài : “Chứng minh rằng: Tư pháp quốc tế Việt
Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia”. Sau đây em xin đi
vào chi tiết.
NỘI DUNG
Để chứng minh tư pháp quốc tế Việt Nam là một ngành luật độc lập trong
hệ thống pháp luật quốc gia, ta cần xem xét cụ thể thế nào là tư pháp quốc tế,
về đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế khác
1
với những ngành luật khác như thế nào. Chúng ta cùng đi tìm hiểu nhứng vấn
đề sau đây:
1.Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.
a.Định nghĩa:
 Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự
(theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài:
- Quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) là thuật ngữ pháp lý chỉ về
những quan hệ xảy ra trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia
đình, lao động, thương mại và tố tụng dân sự. Những quan hệ này
liên quan đến lợi ích tài sản và lợi ích nhân thân, chủ yếu phát
sinh giữa cá nhân, tổ chức, pháp nhân với nhau.
- Đây là khái niệm bao quát các lĩnh vực quan hệ do Tư pháp
quốc tế điều chỉnh. Thuật ngữ này được lý giải bởi kỹ thuật lập
pháp của các nước có sự khác nhau.
- Khái niệm quan hệ dân sự ở các nước được hiểu dưới những

quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức
Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo
pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến
quan hệ đó ở nước ngoài.”
Dựa vào lý luận và thực tiễn Tư pháp quốc tế cho thấy, điều luật trên quy
định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có những điểm khác sau đây:
4
+ Về chủ thể: Điều luật chỉ quy định chủ thể của quan hệ dân sự này là
người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài. Trong thực tiễn, chủ thể này
còn có thể là Nhà nước nước ngoài (chẳng hạn trong quan hệ thừa kế tài
sản giữa công dân Việt Nam và nhà nước nước ngoài).
+ Về khách thể: Điều luật chỉ quy định khách thể của quan hệ này là tài sản
tồn tại ở nước ngoài. Trong thực tiễn, khách thể của quan hệ này còn có thể
là công việc phải làm hoặc không được làm ở nước ngoài (chẳng hạn quan
hệ về gửi giữ tài sản giữa công dân Việt Nam và đại lý nước ngoài trong ví
dụ đã nêu).
Vì vậy, trong công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật, sự cần thiết đặt ra
là phải quy định chặt chẽ, chính xác về các khái niệm pháp lý, trên cơ sở
đó nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội.
c. Phân biệt đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế với đối tượng
điều chỉnh của các ngành luật, hệ thống pháp luật có liên quan:
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật nói chung và của các ngành luật nói
riêng đều là các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên
không phải quan hệ xã hội nào cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư
pháp quốc tế, của Luật dân sự và của Công pháp quốc tế.
5
 Sự khác nhau giữa đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế và
Luật dân sự:
+ Khác nhau về phạm vi các quan hệ xã hội do hai ngành luật này

b. Phương pháp điều chỉnh trực tiếp (còn gọi là phương pháp thực chất):
- Là phương pháp sử dụng các quy phạm pháp luật thực chất để
tác động trực tiếp lên quan hệ Tư pháp quốc tế.
Sự tác động của nhà nước lên quan hệ Tư pháp quốc tế được
7
thực hiện thông qua quy phạm thực chất. Quy phạm thực chất là
quy phạm quy định sẵn các quyền, nghĩa vụ, biện pháp chế tài
đối với các chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế. Khi quan
hệ Tư pháp quốc tế xảy ra, nếu có sẵn quy phạm thực chất để áp
dụng thì các bên chủ thể cũng như cơ quan có thẩm quyền (toà
án, trọng tài…) căn cứ ngay vào đó để xác định vấn đề họ đang
quan tâm (chẳng hạn: việc xác định các quyền và nghĩa vụ của
chủ thể quan hệ, trách nhiệm pháp lý…).
Trong thực tiễn, việc điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế
được áp dụng bởi các quy phạm thực chất thống nhất (là quy
phạm thực chất được xây dựng bằng cách các quốc gia ký kết,
tham gia các Điều ước quốc tế hoặc chấp nhận và sử dụng các
Tập quán quốc tế). Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực nhất định,
như xác định địa vị pháp lý của người nước ngoài, điều chỉnh
quan hệ về sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài, các quốc gia
cũng ban hành trong hệ thống pháp luật nước mình những quy
phạm pháp luật thực chất, trực tiếp điều chỉnh những quan hệ
phát sinh trong các lĩnh vực này.
8
- Tính ưu việt của việc áp dụng phương pháp điều chỉnh này:
Làm cho mối quan hệ Tư pháp quốc tế được điều chỉnh nhanh
chóng, các vấn đề cần quan tâm được xác định ngay, các chủ
thể của quan hệ đó và các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết
tranh chấp sẽ tiết kiệm được thời gian, tránh được việc phải tìm
hiểu pháp luật nước ngoài là vấn đề rất phức tạp.

10
số lượng các quy phạm này không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các
quan hệ Tư pháp quốc tế, trong khi đó số lượng các quy phạm xung đột lại
nhiều hơn và tham gia điều chỉnh hầu hết các quan hệ Tư pháp quốc tế; bởi
vậy phương pháp điều chỉnh trực tiếp là phương pháp chủ yếu hiện nay.
d. Phương pháp điều chỉnh gián tiếp là đặc trưng và cơ bản của Tư
pháp quốc tế vì những lý do sau đây:
- Đây là phương pháp điều chỉnh chỉ được áp dụng trong ngành luật Tư
pháp quốc tế mà không được áp dụng trong các ngành luật và hệ thống
pháp luật khác.
- Qua việc nghiên cứu các ngành luật khác cho thấy, không ngành luật nào
áp dụng phương pháp điều chỉnh này. Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
của các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam và ngay cả Luật
quốc tế thực hiện bằng cách sử dụng quy phạm pháp luật trong các văn bản
pháp luật là nguồn của chúng, mà không cần phải thông qua khâu trung
gian là “chọn luật”.
- Trong thực tiễn Tư pháp quốc tế, do các quy phạm thực chất thống nhất
có số lượng ít, không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ Tư
pháp quốc tế phát sinh ngày càng đa dạng; trong khi đó quy phạm xung đột
11
được xây dựng một cách đơn giản hơn, nhanh hơn nên có số lượng nhiều
hơn. Do đó quy phạm xung đột đã điều chỉnh hầu hết các quan hệ Tư pháp
quốc tế. Vì vậy phương pháp điều chỉnh gián tiếp được coi là phương pháp
cơ bản trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trong những giai đoạn tiếp
theo, để tránh sự phức tạp, các quốc gia trên thế giới sẽ cố gắng ký kết
ngày càng nhiều Điều ước quốc tế để từ đó xây dựng nên càng nhiều quy
phạm thực chất thống nhất, hoặc ít nhất là xây dựng nên các quy phạm
xung đột thống nhất. Đây chính là xu hướng phát triển tất yếu của Tư pháp
quốc tế trong tương lai.
3. Định nghĩa về Tư pháp quốc tế.

nhìn tổng thể, khách quan để nhận định bản chất của vấn đề.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. giáo trình tư pháp quốc tế, truờng đại học luật Hà Nội, chủ biên TS.
Bùi Xuân Nhự, NXB công an nhân dân, năm 2009.
2. Giáo trình tư pháp quốc tế, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội,
Nxb. ĐHQG, Hà Nội, 2001.
3. hướng dẫn học và ôn tập môn tư pháp quốc tế, TS.GVC Nguyễn
Hồng Bắc, Nxb tư pháp, Hà Nội, năm 2012.
4.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status