Tiểu luận - Tính minh bạch của pháp luật - Pdf 19

Tiểu luận - Tính minh bạch của pháp luật

I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Khái niệm pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực
hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các
quan hện trong xã hội.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kiểu Nhà nước và một kiểu pháp luật
tương ứng. Lịch sử xã hội loài người đã có các kiểu pháp luật chủ nô, pháp luật
phong kiến, pháp luật tư sản và pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Pháp luật hoàn toàn không phải là sản phẩm thuần túy của lý tính hay bản tính tự
nhiên phi giai cấp của con người như học thuyết pháp luật tự nhiên quan niệm.
Pháp luật, như Mác – Ăng – ghen phân tích, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển
trong xã hội có giai cấp, có Nhà nước; bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai
cấp của Nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật cũng mang tính xã hội, bởi vì ở mức độ
nhất định, nó phải thể hiện và bảo đảm những yêu cầu chung của xã hội về văn
hóa, phúc lợi, môi trường sống… Về mặt này, pháp luật xã hội chủ nghĩa có sự
thống nhất giữa tính giai cấp và tính xã hội.
Pháp luật còn là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng xã hội. Nó do
cơ sở hạ tầng quyết định, nhưng có tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng. Nếu
pháp luật phản ánh đúng đắn các quy luật vận động và phát triển của xã hội, nhất
là các quy luật kinh tế thì pháp luật sẽ có tác động tích cực đối với phát triển kinh
tế - xã hội. Ngược lại, pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển đó.
Theo Lênin, “một đạo luật là một biện pháp chính trị”. Trong lịch sử, bất cứ
giai cấp cầm quyền nào cũng dựa vào pháp luật để thể hiện và thực hiện chính trị
của giai cấp mình. Pháp luật trở thành hình thức thể hiện tập trung, trực tiếp chính
trị của giai cấp cầm quyền, là một công cụ sắc bén thể hiện quyền lực của Nhà
nước thực hiện những yêu cầu, mục đích, nội dung chính trị của nó. Do đó, Nhà
nước nào, pháp luật ấy. Những thuộc tính cơ bản của pháp luật là tính quy phạm,
tính cưỡng chế, tính khách quan, tính Nhà nước, tính hệ thống và tương đối ổn
định.

Trong nhà nước pháp quyền, “Minh bạch pháp luật” còn là nguyên tắc cơ bản
trong quá trình lập pháp và hành pháp, theo nguyên tắc này thì “Pháp luật phải
được công chúng biết trước, ổn định theo thời gian, rõ ràng và không mập
mờ và được áp dụng một cách thống nhất và không tùy tiện bởi một hội đồng
xét xử độc lập và quyết định đưa ra sẽ được xem xét lại bởi cơ quan tư pháp”.
Ở chừng mực mỗi quốc gia thành viên cho phép, “Minh bạch hoá pháp luật” còn
giúp cho công dân và pháp nhân của các quóc gia thành viên khác góp ý kiến
trong việc xây dựng luật và các văn bản luật liên quan đến hoạt động đầu tư,
thương mại và sở hữu trí tuệ.
Đối với xã hội, minh bạch sẽ giúp phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả.
Khi minh bạch, về nguyên tắc, tài sản và nguồn lực của xã hội sẽ có cơ hội tìm đến
người sử dụng nó hiệu quả nhất. Chắc chắn rằng, việc đấu giá đất công khai sẽ
chọn ra được ông chủ sử dụng một cách hiệu quả hơn nhiều so với cơ chế giao đất,
phân đất “trong bóng tối”.
Đối với nhà đầu tư, sự minh bạch có ý nghĩa quan trọng đối với việc giảm thiểu
chi phí, giảm rủi ro cho DN và nhà đầu tư. Khi nhà đầu tư dễ dàng trong tiếp cận
thông tin, nhanh chóng trong thực hiện các thủ tục hành chính, tiên liệu được các
thay đổi về chính sách thì rõ ràng có động lực để quyết định đầu tư lớn và lâu dài.
Đối với bộ máy nhà nước, như ánh sáng mặt trời đối với vi trùng, minh bạch có
vai trò rất quan trọng trong giảm thiểu tham nhũng. Đòi hỏi về minh bạch còn tạo
ra được sức ép để bộ máy nhà nước vận hành tốt hơn. Như ý kiến của giáo sư
Stiglitz (người đoạt giải Nobel về kinh tế), việc quan chức muốn che giấu thông
tin không chỉ là che giấu chuyện tham nhũng mà cả sự bất lực của mình.
II. PHÂN TÍCH TÍNH MINH BẠCH CỦA PHÁP LUẬT
Để hướng tới xây dựng một nền pháp luật tiên tiến với hệ thống pháp luật thống
nhất, đồng bộ và toàn diện. Nhằm đáp ứng cho việc quản lý kinh tế-xã hội của nhà
nước một cách hiệu quả, cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch.
Tính minh bạch trong pháp luật là: pháp luật phải thống nhất, nhất quán; đảm bảo
rõ ràng, chính xác, dễ hiểu. Bên cạnh đó, là nguồn tin cậy được, lường trước được,
phải có thể đoán trước được; đồng thời pháp luật công khai, dễ dàng truy cập với

- Đặc thù của VBPL là mang tính quyền lực nhà nước nên ngôn ngữ VBPL là
ngôn ngữ chuẩn quốc gia được nhà nước sử dụng chính thức. Hệ thống ngôn ngữ
trong VBPL phải thỏa mãn những yêu cầu nhất định do nhà nước đề ra. Sự đặc thù
của ngôn ngữ được biểu hiện ở những khía cạnh sau:
+ Ngôn ngữ trong VBPL phải đảm bảo tính nghiêm túc:
Khi soạn thảo văn bản người viết không được sử dụng khẩu ngữ, tiếng lóng, từ thô
thiển, hạn chế tối đa các yếu tố ngôn ngữ mang tính chất biểu cảm, lối viết sáo
rỗng. Vì VBPL là phương tiện thực hiện quyền lực nhà nước nên buộc phải có tính
nghiêm túc thể hiện sự uy quyền, tạo tâm lí tôn trọng pháp luật của đối tượng chịu
sự tác động. Đồng thời tính nghiêm túc ít nhiều ảnh hưởng đến giá trị của VBPL.
+ Ngôn ngữ trong VBPL đòi hỏi tính chính xác:
Sử dụng từ ngữ phải đúng chính tả (âm, vần, tiếng, từ,…).
Chính xác về nghĩa của từ, sử dụng từ ngữ một nghĩa (không sử dụng từ ngữ đa
nghĩa, từ ngữ ẩn dụ,…). Vì điều này có ảnh hưởng to lớn tới sự lắm bắt nội dung
văn bản.
+ Ngôn ngữ trong VBPL đòi hỏi tính thống nhất: là sự thống nhất về nghĩa cho
tất cả các từ, ngữ được sử dụng để chỉ cùng một khái niệm trong các VBPL khác
nhau.
+ Ngôn ngữ pháp luật cần có tính phổ thông: là ngôn ngữ được sử dụng phổ
biến trong phạm vi toàn quốc, đễ hiểu đối với tất cả mọi người không phân biệt
trình độ học vấn, các vùng miền, dân tộc. Ngôn ngữ thể hiện tính đại chúng, gần
gũi với nhân dân.
3. Pháp luật phải công khai và dễ dàng truy cập đối với mọi người dân.
Như chúng ta đã biết, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xự do nhà nước ban
hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là
nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Việc xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật phải được tiến hành công khai, tạo
điều kiện cho mọi lực lượng trong xã hội bảo vệ và cân bằng lợi ích của mình. Sau
khi ban hành, luật của quốc gia phải được công bố trên công báo, văn bản hành
chính của các cơ quan hành pháp phải được công bố bởi các phương tiện thông tin

thông tin, nhanh chóng trong thực hiện các thủ tục hành chính, tiên liệu được các
thay đổi về chính sách thì rõ ràng có động lực để quyết định đầu tư lớn và lâu dài.
- Đối với bộ máy nhà nước, như ánh sáng mặt trời đối với vi trùng, minh bạch có
vai trò rất quan trọng trong giảm thiểu tham nhũng. Đòi hỏi về minh bạch còn tạo
ra được sức ép để bộ máy nhà nước vận hành tốt hơn.
- Công khai minh bạch giúp chống tham nhũng: Tổng Thanh tra Chính phủ cho
rằng, công khai, minh bạch là vấn đề cốt lõi nhất của chiến lược phòng chống
tham nhũng, bởi càng công khai, minh bạch, càng kiểm soát được tình hình, nhất
là công khai hoạt động của bộ máy nhà nước
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền thì một trong những định hướng quan trọng là
phải cải cách thủ tục hành chính vì thủ tục hành chính chính là mối quan hệ giữa
người dân với Nhà nước và đặc biệt là với các cơ quan quản lý nhà nước. Thủ tục
phải đơn giản, thuận tiện cho dân nhưng ngược lại, phải chặt và kín để đảm bảo
quyền lực thuộc về Nhà nước chứ nếu không thì người thực thi sẽ lợi dụng.
- Thủ tục phải minh bạch, rõ ràng đến mức nếu Nhà nước không thực hiện thì
người dân sẽ có phương tiện để đấu tranh. Chẳng hạn, trong đấu tranh chống tiêu
cực, tham nhũng, nếu thủ tục minh bạch, rõ ràng thì rất tốt để người dân đấu tranh
lại những biểu hiện tiêu cực từ phía Nhà nước.
6. Nhược điểm khi tính minh bạch PL còn hạn chế hiện nay ở nước ta
- Người dân thực hiện pháp luật rất khó khăn.
- Nếu không minh bạch PL, khó chống được tham nhũng.
- Là lực cản làm cho nền kinh tế nước ta mãi mãi "kém phát triển" vì làm xói mòn
lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; tạo ra môi
trường vô cùng thuận lợi cho tham nhũng hoành hành; là dư địa cho sự cấu kết để
đục khoét tài sản quốc gia…
III. LIÊN HỆ THỰC TẾ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG
VẤN ĐỀ TÍNH MINH BẠCH
1. Tính thời sự của việc minh bạch trong pháp luật việt Nam
 Minh bạch hóa hệ thống pháp luật ở Việt Nam – là yêu cầu từ thực tiễn
Trong bối cảnh thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

trong thời gian gần đây mà còn xuất phát từ nhu cầu nâng cao hiệu quả của việc
quản lý nhà nước, đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động của nhà nước. Thực tế,
ngay từ thời kỳ đầu, nhà nước Việt Nam cũng đã có những chính sách đảm bảo
tính công khai của hệ thống pháp luật cũng như đảm bảo quyền của nhân dân
trong việc tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, thể hiện tính dân chủ của
nhà nước mới theo chủ trương “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa được xác định bao hàm ý nghĩa đề cao vai trò pháp luật trong đời
sống xã hội, mở rộng dân chủ, công khai hóa các lĩnh vực hoạt động nhà nước, trừ
những lĩnh vực liên quan tới bí mật, an ninh quốc gia. Đồng thời, minh bạch hóa
hoạt động của bộ máy nhà nước cũng là công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa và phòng
chống hiệu quả tệ nạn hối lộ, tham nhũng
Việc cần phải công khai, minh bạch hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước xuất
phát từ những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đảm bảo tính dân chủ của nhà nước theo đó người dân có quyền
được biết về các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
Thứ hai, chính sách và pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành đều xuất phát
từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn và ngược lại, ảnh hưởng của các chính sách đó đến
thực tiễn đòi hỏi các đối tượng chịu tác động của chính sách phải nắm bắt được
nội dung của chính sách;
Thứ ba, cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi không chỉ các
cơ quan quản lý cần thông tin mà các doanh nghiệp, thể nhân thuộc mọi thành
phần kinh tế phải cập nhật thông tin nhiều hơn để phát triển sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tính minh bạch của các quy
định của pháp luật còn bị chi phối bởi các điều ước quốc tế mà các quốc gia đã ký
kết hoặc gia nhập;
Thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đòi hỏi Nhà nước không thể
khép kín phạm vi hoạt động của mình trong nội bộ các cơ quan mà phải mở rộng
phạm vi thông tin đến các đối tượng có liên quan, đối tượng chịu sự điều chỉnh
trực tiếp của các chính sách;

với các yêu cầu của cam kết quốc tế như: quy định về quyền tham gia góp ý kiến
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 4, Điều 33, Điều 35, Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật), quy định các văn bản quy phạm pháp luật chỉ có
hiệu lực sau khi đăng công báo (Điều 77, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật), quy định về việc công bố các điều ước quốc tế trên Công báo (Luật ký kết,
gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế), quy định về tính công khai, minh bạch
trong hoạt động xét xử (Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự).
Các thiết chế nhà nước cũng có nhiều nỗ lực trong việc minh bạch hóa hoạt động
của mình. Với vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất, Quốc hội đã cố gắng thiết lập cơ sở pháp lý của việc minh bạch
hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
và tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền với người dân.
Hoạt động của Quốc hội cũng từng bước được công khai, minh bạch. Trong hoạt
động lập pháp, Quốc hội đã tiến hành lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo, đăng tải
văn bản trên công báo và dịch văn bản ra các ngôn ngữ khác; trong việc quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước là việc Quốc hội thảo luận tập thể, công khai
vấn đề phân bổ ngân sách trung ương. Trong hoạt động giám sát, những phiên chất
vấn của Quốc hội tại hội trường đã thường xuyên được tường thuật trực tiếp trên
truyền hành, truyền hình, góp phần làm minh bạch hoạt động của Quốc hội cũng
như hoạt động của các cơ quan nhà nước khác.
Đối với Chính phủ, việc công khai các chủ trương, chính sách về quản lý đất nước,
quản lý xã hội là một trong những nhiệm vụ được quy định trong Luật Tổ chức
Chính phủ, Quy chế làm việc của Chính phủ và các quy định về lề lối, phương
thức làm việc của từng bộ, ngành của Chính phủ. Bên cạnh đó, đề án xây dựng
Chính phủ điện tử đang được dần dần hoàn thiện; các quy trình, thủ tục hành chính
được từng bước tin học hóa nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính
nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công cho nhân dân và doanh nghiệp
được thuận tiện, nhanh gọn; việc cung cấp thông tin về địa phương, thực hiện đăng
ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép đầu tư, giấy
phép xây dựng, tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo đã được công

và đa phương của Việt Nam, nhất là với Hiệp định thương mại song phương Việt
Nam – Hoa Kỳ và với các quy định của Tổ chức thương mại thế giới, đặt ra một số
vấn đề cần phải khắc phục để nâng cao tính minh bạch của hệ thống pháp luật và
hoạt động của các cơ quan nhà nước ở nước ta phù hợp với mục đích xây dựng
nhà nước pháp quyền và yêu cầu của hội nhập quốc tế.
Trước hết, chưa có quy định rõ ràng về việc xác định thế nào là văn bản có giá trị
áp dụng chung; chưa có quy định chặt chẽ và ràng buộc về việc văn bản quy phạm
pháp luật phải được đăng tải công khai trên Công báo thì mới có hiệu lực; chưa có
các quy định cụ thể và rõ ràng về nghĩa vụ đăng tải các điều ước quốc tế trên công
báo; chưa có các quy định rõ ràng về việc công bố số liệu thống kê, quy hoạch xây
dựng, sử dụng đất; chưa có cơ chế để tổ chức cho nhân dân thường xuyên tham gia
góp ý kiến vào việc soạn thảo văn bản, và đang tồn tại quá nhiều lần dự thảo luật,
pháp lệnh trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh.
Đối với hoạt động của Chính phủ, hiện tại chương trình xây dựng Chính phủ điện
tử còn gặp một số khó khăn nhất định như: chưa có khuôn khổ pháp luật cho việc
xây dựng Chính phủ điện tử theo đó người dân có thể dễ dàng truy cập đến các
thông tin của Chính phủ và giao lưu trực tuyến với các cơ quan của Chính phủ;
còn thiếu các chuyên gia, các chuyên viên về công nghệ thông tin để triển khai,
vận hành; vấn đề “chia sẻ thông tin, chia sẻ văn hoá” chưa được nhận thức một
cách toàn diện; các Bộ, ngành thường có xu hướng giữ thông tin cho mình, không
muốn trao đổi, sử dụng công nghệ thông tin; mức độ sẵn sàng điện tử (e-readiness)
của Việt Nam chưa cao.
Đối với hoạt động của Tòa án, cơ chế “tranh tụng”, một trong những cơ chế để
tăng cường tính minh bạch trong hoạt động xét xử, chưa được quy định như là một
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử. Quy trình xác lập chứng cứ chưa được
minh bạch hóa đầy đủ. Việc thực thi pháp luật tố tụng liên quan đến tính minh
bạch của hoạt động toà án còn có những hạn chế nhất định ảnh hưởng đến việc tổ
chức các phiên tòa xét xử công khai. Trong thực tiễn tố tụng còn một số cán bộ toà
án còn ngại minh bạch hoá hoạt động xét xử. Việc công khai bản án, quyết định
của toà án, pháp luật mới dừng lại ở việc tuyên án công khai tại phiên toà và giao

địa phương để đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương như Bình
Định, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ ba, cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện xây dựng Chính phủ điện tử,
công cụ thông tin qua mạng Intranet và xác lập mối quan hệ tương tác giữa người
dân, doanh nghiệp với Chính phủ thông qua các phương tiện công nghệ hiện đại.
Thứ tư, tiếp tục tăng cường tính minh bạch trong hoạt động xét xử. Trong
nhóm giải pháp này, yêu cầu cấp thiết nhất vẫn là việc triển khai việc đăng tải các
bản án, quyết định của Toà án. Để thực hiện được vấn đề này, cần phải có chính
sách đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác công bố các văn bản của toà
án; chuẩn hoá hình thức soạn thảo của tất cả các loại quyết định; định ra các yêu
cầu và loại quyết định về loại vụ việc nào của toà án cần được công bố; tỷ lệ các
quyết định phải được công bố từ cấp Hội đồng Thẩm phán tới toà án cấp huyện.
Thứ năm, tiếp tục thực hiện các giải pháp tăng cường tính minh bạch môi
trường đầu tư kinh doanh. Việc minh bạch hóa môi trường kinh doanh, đặc biệt
đối với môi trường đầu tư, là một yêu cầu cấp thiết và là mối quan tâm hàng đầu
của các doanh nghiệp hiện nay. Để làm được điều đó, trong thời gian tới Việt Nam
cần nâng cao tính minh bạch trong việc xây dựng quy hoạch phát triển các ngành
và vùng lãnh thổ; cần công bố rõ ràng các lĩnh vực cấm đầu tư để các nhà đầu tư
được đầu tư vào tất cả các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế mà pháp luật không
hạn chế hoặc cấm; bảo đảm tính minh bạch và hiệu qủa trong việc áp dụng các ưu
đãi đầu tư; tiếp tục cải tiến thủ tục đầu tư và nâng cao hiệu quản lý nhà nước về
đầu tư, nâng cao trách nhiệm và tăng cường cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin
giữa các Bộ, ngành, công khai mọi quy trình, thời hạn, trách nhiệm xử lý các thủ
tục đầu tư nước ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status