Tính minh bạch của pháp luật - Pdf 26

Tiểu luận : Tính minh bạch của pháp luật
I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Khái niệm pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý
chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hện trong xã hội.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kiểu Nhà nước và một kiểu pháp luật tương ứng. Lịch sử
xã hội loài người đã có các kiểu pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản và pháp
luật xã hội chủ nghĩa.
Pháp luật hoàn toàn không phải là sản phẩm thuần túy của lý tính hay bản tính tự nhiên phi giai
cấp của con người như học thuyết pháp luật tự nhiên quan niệm. Pháp luật, như Mác – Ăng –
ghen phân tích, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, có Nhà nước; bản chất
của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của Nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật cũng mang tính xã hội,
bởi vì ở mức độ nhất định, nó phải thể hiện và bảo đảm những yêu cầu chung của xã hội về văn
hóa, phúc lợi, môi trường sống… Về mặt này, pháp luật xã hội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa
tính giai cấp và tính xã hội.
Pháp luật còn là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng xã hội. Nó do cơ sở hạ tầng
quyết định, nhưng có tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng. Nếu pháp luật phản ánh đúng đắn các
quy luật vận động và phát triển của xã hội, nhất là các quy luật kinh tế thì pháp luật sẽ có tác động
tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển đó.
Theo Lênin, “một đạo luật là một biện pháp chính trị”. Trong lịch sử, bất cứ giai cấp cầm
quyền nào cũng dựa vào pháp luật để thể hiện và thực hiện chính trị của giai cấp mình. Pháp luật
trở thành hình thức thể hiện tập trung, trực tiếp chính trị của giai cấp cầm quyền, là một công cụ
sắc bén thể hiện quyền lực của Nhà nước thực hiện những yêu cầu, mục đích, nội dung chính trị
của nó. Do đó, Nhà nước nào, pháp luật ấy. Những thuộc tính cơ bản của pháp luật là tính quy
phạm, tính cưỡng chế, tính khách quan, tính Nhà nước, tính hệ thống và tương đối ổn định.
2. Vai trò của pháp luật
- Là phương tiện thể hiện đường lối chính sách của Nhà nước.
- Là công cụ quyền lực của quản lý nhà nước.
- Thể chế hóa và bảo vệ quyền làm chủ của giai cấp.
Nghiên cứu những đặc điểm và mối quan hệ giữa pháp luật và các nhân tố khác trong xã hội,
chúng ta có thể thấy pháp luật có vai trò quan trọng trên các bình diện (i) Pháp luật là cơ sở để

về nguyên tắc, tài sản và nguồn lực của xã hội sẽ có cơ hội tìm đến người sử dụng nó hiệu quả
nhất. Chắc chắn rằng, việc đấu giá đất công khai sẽ chọn ra được ông chủ sử dụng một cách hiệu
quả hơn nhiều so với cơ chế giao đất, phân đất “trong bóng tối”.
Đối với nhà đầu tư, sự minh bạch có ý nghĩa quan trọng đối với việc giảm thiểu chi phí, giảm rủi
ro cho DN và nhà đầu tư. Khi nhà đầu tư dễ dàng trong tiếp cận thông tin, nhanh chóng trong thực
hiện các thủ tục hành chính, tiên liệu được các thay đổi về chính sách thì rõ ràng có động lực để
quyết định đầu tư lớn và lâu dài.
Đối với bộ máy nhà nước, như ánh sáng mặt trời đối với vi trùng, minh bạch có vai trò rất quan
trọng trong giảm thiểu tham nhũng. Đòi hỏi về minh bạch còn tạo ra được sức ép để bộ máy nhà
nước vận hành tốt hơn. Như ý kiến của giáo sư Stiglitz (người đoạt giải Nobel về kinh tế), việc
quan chức muốn che giấu thông tin không chỉ là che giấu chuyện tham nhũng mà cả sự bất lực của
mình.
II. PHÂN TÍCH TÍNH MINH BẠCH CỦA PHÁP LUẬT
Để hướng tới xây dựng một nền pháp luật tiên tiến với hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ và
toàn diện. Nhằm đáp ứng cho việc quản lý kinh tế-xã hội của nhà nước một cách hiệu quả, cần
phải xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch.
Tính minh bạch trong pháp luật là: pháp luật phải thống nhất, nhất quán; đảm bảo rõ ràng, chính
xác, dễ hiểu. Bên cạnh đó, là nguồn tin cậy được, lường trước được, phải có thể đoán trước được;
đồng thời pháp luật công khai, dễ dàng truy cập với mọi người dân.
1. Pháp luật phải thống nhất, nhất quán.
Một hệ thống pháp luật được coi là hoàn thiện trước hết phải đảm bảo được tính thống nhất trong
chính hệ thống pháp luật đó.
- Pháp luật phải là một hệ thống lô gích chặt chẽ, không tự mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau. Yêu
cầu này, được đặt ra với cả hệ thống pháp luật, đối với từng lĩnh vực luật, và ngay cả đối với từng
loại văn bản pháp luật hoặc quy định pháp luật.
Ví dụ: Trong luật doanh nghiệp của chúng ta hiện nay, tính không nhất quán biểu hiện rất rõ: mỗi
loại hình doanh nghiệp có một loại luật, có rất nhiều loại hợp đồng (dân sự, kinh tế, thương mại).
Khi giao dịch thương mại khó phân biệt.
- Các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật không được mâu thuẫn với đạo luật mà chúng đang
dựa vào, các quy định trong cùng một văn bản không được trái ngược nhau hoặc triệt tiêu nhau.

dụ,…). Vì điều này có ảnh hưởng to lớn tới sự lắm bắt nội dung văn bản.
+ Ngôn ngữ trong VBPL đòi hỏi tính thống nhất: là sự thống nhất về nghĩa cho tất cả các từ,
ngữ được sử dụng để chỉ cùng một khái niệm trong các VBPL khác nhau.
+ Ngôn ngữ pháp luật cần có tính phổ thông: là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong phạm vi
toàn quốc, đễ hiểu đối với tất cả mọi người không phân biệt trình độ học vấn, các vùng miền, dân
tộc. Ngôn ngữ thể hiện tính đại chúng, gần gũi với nhân dân.
3. Pháp luật phải công khai và dễ dàng truy cập đối với mọi người dân.
Như chúng ta đã biết, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xự do nhà nước ban hành và đảm bảo
thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã
hội.
Việc xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật phải được tiến hành công khai, tạo điều kiện cho
mọi lực lượng trong xã hội bảo vệ và cân bằng lợi ích của mình. Sau khi ban hành, luật của quốc
gia phải được công bố trên công báo, văn bản hành chính của các cơ quan hành pháp phải được
công bố bởi các phương tiện thông tin dễ dàng truy cập đối với người dân. chỉ sau khi được công
ố trên các tờ công báo như vậy, luật pháp mới có giá trị thi hành.
Công khai, minh bạch pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho các đối tượng bị tác động
bởi các luật pháp đó lắm vững, hiểu được pháp luật để áp dụng, tránh những tranh chấp có thể xảy
ra. Nhờ đó mà nhà nước quản lý xã hội tốt hơn.
Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ, đa dạng hóa các phương tiện thông tin đại chúng, là cơ
sở thuận lợi để nhà nước công khai pháp luật đến với mọi người dân.
4. Pháp luật phải tin cậy được và dự đoán trước được.
An toàn pháp lý là một dịch vụ công cộng mà người dân chờ đợi ở nhà nước. Muốn vậy, pháp luật
phải đáng tin cậy, phải là những đại lượng tượng trưng cho công bằng và lẽ phải. Xây dựng, ban
hành và thực thi pháp luật không được gây ra những cú sốc, ngạc nhiên, bất ngờ cho đối tượng bị
áp dụng. Việc sửa đổi, bổ sung pháp luật phải được loan báo công khai trước một thời hạn hợp lý
để người dân có thời gian chuẩn bị.
Để đảm bảo cho tính thống nhất của hệ thống pháp luật, một yêu cầu quan trọng đó là phải bảo
đảm sự phù hợp trình độ lập pháp với trình độ phát triển của xã hội, làm cho sản phẩm của hoạt
động lập pháp tương thích, không quá cao cũng không lạc hậu so với mức độ phát triển của xã
hội.

- Nếu không minh bạch PL, khó chống được tham nhũng.
- Là lực cản làm cho nền kinh tế nước ta mãi mãi "kém phát triển" vì làm xói mòn lòng tin của
nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; tạo ra môi trường vô cùng thuận lợi cho
tham nhũng hoành hành; là dư địa cho sự cấu kết để đục khoét tài sản quốc gia…
III. LIÊN HỆ THỰC TẾ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ TÍNH
MINH BẠCH
1. Tính thời sự của việc minh bạch trong pháp luật việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status