tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Ngày nay, doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu t trong n-
ớc và doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới. Điều này xuất phát từ
lợi ích mà các doanh nghiệp không những đem lại cho nhà đầu t mà còn đem lại
cho nhà nớc cũng nh toàn xã hội.
Trong bối cảnh Việt Nam đang trên tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đầu
t trực tiếp nớc ngoài có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển của đất nớc.
Nhận thức đợc điều đó, trong Báo cáo chính trị đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta
đã chủ trơng : Thống nhất khung pháp lý, chính sách, điều kiện kinh doanh áp
dụng cho các doanh nghiệp trong nớc và các doanh nghiệp nớc ngoài. Thể chế đ-
ờng lối, chủ trơng đó, Luật doanh nghiệp năm 2005 đã đợc ban hành, thống nhất
điều chỉnh cho các doanh nghiệp nhà nớc trớc đây đợc quy định trong Luật doanh
nghiệp nhà nớc năm 2003; các loại hình công ty nh công ty TNHH, công ty cổ
phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp t nhân trong Luật doanh nghiệp năm
1999; doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài trong Luật đầu
t nớc ngoài tại Việt Nam về các vấn đề cụ thể là : quy định bản chất pháp lý của
từng loại hình doanh nghiệp, thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh; tổ
chức quản lý doanh nghiệp; cấu trúc vốn trong doanh nghiệp tổ chức lại, giải thể,
phá sản doanh nghiệp.
Để góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình thống nhất pháp luật về doanh
nghiệp, tác giả đã chọn vấn đề: Tính thống nhất của pháp luật về doanh
nghiệp làm đề tài khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật của mình. Trong luận văn
này, tác giả đã nêu một số vấn đề lý luận của pháp luật về doanh nghiệp, thực tiễn
thống nhất pháp luật doanh nghiệp với những thành tựu đã đạt đợc và một số hạn
chế còn tồn tại, từ đó đa ra một vài kiến nghị cụ thể để hoàn thiện hơn nữa tính
thống nhất đó.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song với nội dung của đề tài là khá rộng đối với
một cử nhân luật nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu
Website: Email : Tel : 0918.775.368

độc lập mà ở đó, hoạt động kinh doanh chỉ là chức năng đầu tiên và chủ yếu. Từ
điển Tiếng Việt định nghĩa doanh nghiệp là một hình thức tổ chức kinh tế làm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công việc kinh doanh [trang 260 -13]. Theo đó, xét về mặt bản chất, doanh
nghiệp là một loại hình tổ chức nên mang những đặc điểm chung nh bao gồm
nhiều thành viên, có một cấu trúc rõ ràng để các thành viên thực hiện phần việc
của mình.
Có thể nói, đặc trng riêng có của doanh nghiệp, phân biệt doanh nghiệp với
các đơn vị khác nh cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội, trờng học, bệnh viện chính
là mục tiêu mà doanh nghiệp luôn hớng tới: lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh
doanh. Theo Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh và pháp luật kinh tế hiện
hành ở Việt Nam của tiến sỹ Bùi Ngọc Cờng, kinh doanh là một phạm trù gắn
liền với sản xuất hàng hoá, là tổng thể các hình thức, phơng pháp, biện pháp nhằm
tổ chức các hoạt động kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa ngời với ngời trong quá
trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm thu về
một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu [tr 11-6]. Nh vậy, dới góc độ kinh tế,
doanh nghiệp đợc tổ chức theo một cấu trúc nhất định để sử dụng vốn, bộ máy
quản lý, lực lợng lao động nhằm thu lợi nhuận sau một thời gian hoạt động. Với
cách hiểu trên đây, khái niệm doanh nghiệp ở Việt Nam không đồng nghĩa với
khái niệm chủ thể kinh doanh theo quan niệm phổ biến ở nhiều nớc trên thế giới
coi doanh nghiệp là chủ thể pháp luật bao gồm cả cá nhân và tổ chức. Theo đó,
doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ là một trong rất nhiều chủ thể kinh doanh đợc pháp
luật ghi nhận để điều chỉnh.
Có thể khẳng định rằng, với những đặc điểm nêu trên, doanh nghiệp chỉ
thực sự phát huy lợi thế trong nền kinh tế thị trờng. Theo kinh nghiệm phát triển
kinh tế của Việt Nam trớc đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh
nghiệp chịu ảnh hởng nhiều từ phía nhà nớc về nguồn vốn cũng nh mục tiêu, kế
hoạch sản xuất, kinh doanh. Với mô hình này, nhà nớc, chứ không phải là các
doanh nghiệp, đóng vai trò trung tâm của nền kinh tế. Bớc sang nền kinh tế thị tr-
ờng, doanh nghiệp chủ yếu hoạt động theo những quy luật kinh tế cơ bản (quy luật

này, khi thống nhất các loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2005,
pháp luật chỉ công nhận t cách chủ thể cho bốn loại hình doanh nghiệp: công ty
TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp t nhân. Dù thuộc bất kỳ
thành phần kinh tế nào thì khi thành lập doanh nghiệp, các nhà đầu t cũng chỉ đợc
thành lập một trong bốn loại hình doanh nghiệp đó. Kết quả là, khái niệm doanh
nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đã đợc thay thế bằng những khái niệm chính xác hơn nh doanh nghiệp có vốn
nhà nớc, hay doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Đây là tên gọi chung cho
các doanh nghiệp đợc tổ chức theo một trong bốn hình thức nêu trên mà nhà nớc
hoặc tổ chức, cá nhân nớc ngoài bỏ vốn thành lập.
Bên cạnh đó, khi nói đến doanh nghiệp, có một loại chủ thể luôn đợc đề cập
đến với hai quan điểm khác nhau về bản chất và t cách chủ thể - đó chính là hợp
tác xã.
Quan điểm thứ nhất cho rằng Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp.
Quan điểm này giải thích lý do là: Hợp tác xã có tổ chức rõ ràng, có bộ máy điều
hành gồm Hội đồng xã viên, Ban quản trị Hợp tác xã, Ban kiểm soát; đồng thời
cũng có quy định về góp vốn và cơ chế huy động vốn tơng tự nh doanh nghiệp. Vì
vậy, hợp tác xã phải là một loại hình doanh nghiệp đợc điều chỉnh bằng luật riêng
Luật hợp tác xã, cũng giống nh doanh nghiệp nhà nớc đợc quy định trong
Luật doanh nghiệp Nhà nớc năm 2003; công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty
hợp danh, doanh nghiệp t nhân đợc quy định trong Luật doanh nghiệp năm 1999
hay doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài đợc quy định
trong Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên, quan điểm thứ hai cho rằng hợp tác xã không phải là một loại
hình doanh nghiệp. Hợp tác xã có những nét tơng đồng với doanh nghiệp là vì
Hợp tác xã hoạt động nh một loại hình doanh nghiệp. Nhng điểm khác nhau cơ
bản giữa hợp tác xã và doanh nghiệp chính là yếu tố tự nguyện trong việc tham gia
hay rút khỏi hợp tác xã và tính xã hội, tơng trợ cộng đồng rất cao của xã viên.
Trong công ty, những điều kiện ràng buộc giữa các thành viên công ty TNHH,

doanh nghiệp. Hơn nữa, việc đăng kí kinh doanh sẽ tạo ra một môi trờng cạnh tranh
an toàn và minh bạch khi các nhà đầu t dễ dàng tìm hiểu thông tin về bạn hàng từ
sổ đăng kí kinh doanh. Việc đăng kí kinh doanh vì thế mà có thể giúp các doanh
nghiệp tránh đợc tình trạng lừa đảo bằng việc bng bít thông tin hay cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh vốn đã có rất nhiều rủi ro. Trên thực
tế, hoạt động đăng kí kinh doanh thể hiện thái độ của nhà nớc đối với các thành
phần kinh tế. Trớc đây, khi pháp luật về doanh nghiệp còn phân loại các doanh
nghiệp theo tiêu chí tính chất sở hữu, việc đăng kí kinh doanh đợc quy định trong
nhiều văn bản khác nhau. Hiện nay, theo xu hớng chung đảm bảo sự bình đẳng
cho các thành phần kinh tế, đồng thời đảm bảo hơn nữa quyền tự do kinh doanh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của công dân, các quy định về đăng kí kinh doanh đã đợc thống nhất trong Luật
doanh nghiệp năm 2005, áp dụng chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp.
Điều này tạo thuận lợi và dễ dàng cho các nhà đầu t khi áp dụng những quy định
đó. Trong bối cảnh nền thơng mại thế giới hiện nay, Việt Nam cũng nh các quốc
gia khác, luôn luôn đề cao việc cải thiện môi trờng đầu t mà trong đó quan trọng
nhất là cải thiện thủ tục hành chính ở khâu đăng kí kinh doanh nhằm khuyến khích
đầu t trong nớc đồng thời thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Thứ ba, mỗi doanh nghiệp đều đợc xác định bởi những ngành nghề kinh
doanh nhất định. Một doanh nghiệp sẽ phải kinh doanh đúng ngành nghề mà mình
đã đăng kí một cách thờng xuyên nh một nghề nghiệp. Nếu một chủ thể nào đó
thực hiện hành vi kinh doanh có tính chất đơn lẻ, vụ việc thì không thể xem chủ
thể đó là doanh nghiệp. Hơn nữa, thậm chí khi một chủ thể đã đợc coi là một
doanh nghiệp (đợc cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh) mà không hoạt
động tại trụ sở đăng kí trong thời hạn 6 tháng liên tục kể từ ngày đợc cấp Giấy
chứng nhận đăng kí kinh doanh hoặc chứng nhận thay đổi trụ sở chính (Khoản d
Điều 165 Luật doanh nghiệp năm 2005) thì sẽ bị xoá tên trong sổ đăng kí kinh
doanh. Quy định này thực sự là một công cụ hiệu quả giúp cho cơ quan quản lý
nhà nớc dễ dàng nắm bắt thông tin về doanh nghiệp, đồng thời tránh tình trạng
doanh nghiệp chỉ đăng kí kinh doanh mà trên thực tế không tiến hành hoạt động

đó, pháp luật về doanh nghiệp bao gồm cả những quy phạm điều chỉnh quan hệ xã
hội thuộc các ngành pháp luật khác nhau nh: Luật dân sự (phần về sở hữu), Luật
môi trờng, Luật đất đai, Luật thuế, Luật lao động
Theo nghĩa hẹp, pháp luật về doanh nghiệp là những quy tắc xử sự do nhà
nớc ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong khi
doanh nghiệp gia nhập thị trờng, quản trị nội bộ và rút khỏi thị trờng. Theo nghĩa
này, pháp luật về doanh nghiệp bao gồm:
- Quy định về bản chất pháp lý của các loại hình doanh nghiệp;
- Quy định về thành lập doanh nghiệp và đăng kí kinh doanh;
- Quy định về tổ chức quản lý doanh nghiệp;
- Quy định về cấu trúc vốn của doanh nghiệp;
- Quy định về tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp.
Nh vậy, pháp luật về doanh nghiệp là một bộ phận của pháp luật kinh tế, có
mối quan hệ mật thiết với những ngành luật khác nh Luật dân sự, Luật thuế - tài
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính, thơng mại. Điều đó có nghĩa là Pháp luật có nhiệm vụ chủ yếu thiết lập sự
bình đẳng về pháp lý trong quá trình tồn tại, hoạt động của các doanh nghiệp sau
khi đã thành là những văn bản nằm ngoài hệ thống pháp luật về doanh nghiệp [4].
Trong luận văn này, khái niệm pháp luật về doanh nghiệp đợc tiếp cận theo
nghĩa hẹp. Việc phân biệt đối tợng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của pháp luật
về doanh nghiệp theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp có ý nghĩa nhất định trong việc
nghiên cứu về pháp luật. Tuy nhiên, sự phân biệt ấy cũng chỉ có tính chất tơng đối
bởi lẽ pháp luật về doanh nghiệp, dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, vẫn luôn
bao gồm những bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
2. Khái niệm và yêu cầu về tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp
2.1. Khái niệm tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp
Về lý thuyết, hệ thống pháp luật phải luôn có tính thống nhất, đồng bộ, đợc
sắp xếp theo trình tự hiệu lực. Song trên thực tế, những quy định pháp luật không
phải lúc nào cũng đồng nhất, đôi khi vẫn mâu thuẫn, chồng chéo lên nhau. Xem
xét tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam, trong khoa học

Nh vậy, xét về cả mặt lý luận lẫn thực tiễn, quan điểm thứ hai đợc xem là
đúng đắn và lôgic hơn khi nêu bật đợc bản chất của tính thống nhất pháp luật về
doanh nghiệp biểu hiện ở những quy phạm pháp luật không mâu thuẫn, chồng
chéo lên nhau. Hơn nữa, tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp còn thể
hiện ở sự hài hoà với pháp luật quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia rất nhiều
hiệp định song phơng và đa phơng nhng trên thực tế, nhiều quy định của pháp luật
Việt Nam cha phù hợp với những quy định trong các hiệp định đó. Trong tơng lai,
Việt Nam cần phải sửa đổi những quy định trên để tạo sự thống nhất thực sự trong
pháp luật về doanh nghiệp.
2.2. Sự cần thiết của tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp
Yêu cầu thống nhất luôn đặt ra với tất cả các lĩnh vực pháp luật, ngành luật
trong hệ thống pháp luật của bất kì quốc gia nào. Đó là đòi hỏi của thực tế khách
quan và đòi hỏi này càng cấp thiết hơn khi Việt Nam đang trên con đờng hớng tới
hội nhập toàn cầu. Việc thống nhất pháp luật là yêu cầu khách quan bởi sự mâu
thuẫn, không tơng thích của hệ thống pháp luật sẽ tất yếu phải bị thay thế bằng
những qui phạm mới thích hợp hơn. Một trong những lợi ích lớn nhất có đợc từ sự
thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp là đảm bảo đợc yêu cầu quản lí nhà nớc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
về doanh nghiệp, một nội dung của quản lý nhà nớc về kinh tế. Quản lí nhà nớc về
kinh tế chính là sự tác động của hệ thống quản lí hay chủ thể quản lí - nhà nớc lên
hệ thống bị quản lí hay khách thể quản lí - nền kinh tế nhằm hớng sự vận hành
của nền kinh tế theo mục tiêu đã đặt ra [trang 15 - 10]. Trong nền kinh tế quan
liêu bao cấp, nhà nớc thực hiện việc hoạch định chính sách đối với các khu vực
kinh tế khác nhau. Do đó, để quản lí các doanh nghiệp, nhà nớc đã chia các loại
hình doanh nghiệp theo tiêu chí sở hữu: doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp dân
doanh. Song, khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, việc phân chia ấy không còn
thích hợp nữa. Quản lí nhà nớc lúc này chỉ là việc thực hiện các biện pháp vĩ mô,
nhà nớc không can thiệp vào các hoạt động kinh doanh, trao quyền tự chủ cho các
doanh nghiệp. Do đó, một yêu cầu tất yếu đặt ra là phải bỏ đi những đặc quyền
của doanh nghiệp nhà nớc, tất cả các loại hình doanh nghiệp phải đợc thống nhất

đầu t trực tiếp nớc ngoài. Việt Nam đã có Luật ban hành văn bản qui phạm pháp
luật, đó sẽ là cơ sở để ban hành những văn bản pháp luật đợc sắp xếp một cách hệ
thống, khoa học và theo đúng trình tự hiệu lực.
3. ý nghĩa của việc thống nhất pháp luật về doanh nghiệp
Nếu nh các doanh nghiệp đã góp một phần không nhỏ cho sự tăng trởng
kinh tế của Việt Nam trong những năm vừa qua thì pháp luật về doanh nghiệp
chính là cơ sở để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Do đó, xét về cả mặt lý luận
lẫn thực tiễn, sự thống nhất pháp luật về doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn,
biểu hiện cụ thể ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, pháp luật về doanh nghiệp đã thể chế đúng đờng lối của Hiến
pháp 1992: đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. (Điều 16, Điều 22).
Về mặt lý luận, Hiến pháp là văn bản có hiệu lực cao nhất của nớc Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam nên theo quy định, những văn bản luật và dới luật không
phù hợp với quy định của Hiến pháp sẽ không thể có hiệu lực pháp luật. Tuy
nhiên, trên thực tế ở Việt Nam vẫn tồn tại rất nhiều văn bản pháp luật cha thực sự
đảm bảo yêu cầu bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau. Thống nhất pháp luật vì thế sẽ tạo điều kiện cho những văn bản
pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp phù hợp hơn với quy
định của Hiến pháp và có hiệu lực pháp luật ở cả mặt lý luận và thực tiễn.
Thứ hai, hệ thống pháp luật thống nhất về doanh nghiệp sẽ tạo đợc sự tin t-
ởng của các nhà đầu t nớc ngoài đối với chính sách của nhà nớc Việt Nam. Sự tin
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tởng đó xuất phát từ tính minh bạch, đơn giản trong thủ tục thành lập doanh
nghiệp, đồng thời xuất phát từ sự bình đẳng với các nhà đầu t trong nớc. Thực tế
những năm vừa qua cho thấy, số lợng các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
tăng 2,42 lần trong 5 năm, từ năm 2000 đến năm 2005 nhng tỉ trọng trong tổng số
doanh nghiệp ở Việt Nam đã giảm nhẹ từ 3,61% xuống còn 3,42% [Tr 5- 15]. Kết
quả này là do pháp luật đã có những cải thiện trong quy định về địa vị pháp lý của
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài song vẫn cha đáp ứng đợc đầy đủ nguyện
vọng của tổ chức, cá nhân nớc ngoài muốn đầu t vào Việt Nam. Do đó, trong bối

hiệp định. Do đó, Việt Nam cũng nh các nớc thành viên khác phải tuân theo những
quy định này. Nh vậy, bằng những ý nghĩa quan trọng nói trên, việc thống nhất
pháp luật về doanh nghiệp là phù hợp với xu hớng hội nhập kinh tế trong khu vực
và trên toàn thế giới.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng II
Sự thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp
ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện sự
thống nhất đó
1. Sự thống nhất pháp luật về doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt
Nam
1.1. Sự thống nhất pháp luật về loại hình doanh nghiệp
Trong một thời gian dài trớc khi có Luật doanh nghiệp 2005, ở Việt Nam,
các loại hình doanh nghiệp khác nhau đợc điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật
riêng lẻ. Tuy nhiên, những bớc tiến trong việc thống nhất pháp luật về doanh
nghiệp thì vẫn thể hiện rất rõ ràng. Năm 1990, Luật công ty của Việt Nam ra đời,
quy định địa vị pháp lý của công ty TNHH, công ty cổ phần trong khi các doanh
nghiệp t nhân đợc điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp t nhân. Tuy nhiên, sau gần 10
năm áp dụng Luật công ty và Luật doanh nghiệp t nhân, thực tiễn đã nảy sinh nhu
cầu về một đạo luật mới nhằm đa dạng các loại hình doanh nghiệp, tạo môi trờng
kinh doanh ổn định, cải cách các thủ tục hành chính trong đăng ký kinh doanh
Đáp ứng nhu cầu đó, đến năm 1999, Luật doanh nghiệp đã ra đời, thống nhất điều
chỉnh cả bốn loại hình doanh nghiệp là công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty
hợp danh và doanh nghiệp t nhân.
Địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nớc trớc đây đã từng đợc quy định
trong một đạo luật riêng, Luật doanh nghiệp nhà nớc năm 1995 và sau đó là Luật
doanh nghiệp nhà nớc năm 2003. Thực tế này xuất phát từ quan điểm coi doanh
nghiệp nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, nhà nớc luôn khuyến khích
và tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, thực hiện tốt mục tiêu đợc
giao. Tuy nhiên trên thực tế, do đợc u đãi rất nhiều mà cha có quy định rõ ràng về

này là bốn năm kể từ ngày Luật doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực thi hành. Có
thể khẳng định, bản chất của việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nớc là chuyển đổi
hình thức pháp lý và quản trị nội bộ của doanh nghiệp, không phải là chuyển đổi
tính chất sở hữu. Doanh nghiệp nhà nớc sẽ đợc tổ chức lại theo những quy định
chung cho cả doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh nhng vốn điều lệ của
doanh nghiệp vẫn lấy từ ngân sách nhà nớc và vẫn có cơ chế ngời đại diện chủ sở
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hữu đứng ra điều hành doanh nghiệp đó. Việc chuyển sang hoạt động theo quy
định chung với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác có ý nghĩa to lớn
đối với chính các doanh nghiệp nhà nớc. Cũng giống nh trong quan hệ quốc tế, các
quốc gia tự từ bỏ quyền miễn trừ t pháp của mình để dễ dàng hơn trong việc thiết
lập các quan hệ thơng mại đối với các đối tác khác thì ở đây, bằng sự chuyển đổi
nh trên, các doanh nghiệp nhà nớc sẽ có điều kiện thuận lợi hơn khi tiến hành hoạt
động kinh doanh với các bạn hàng, nhất là bạn hàng nớc ngoài. Tính đến nay, Việt
Nam đã cổ phần hoá đợc hơn 3000 doanh nghiệp và theo quyết định số 1729/ QĐ
TTg của thủ tớng Chính phủ, trong giai đoạn 2007 2010 sẽ có thêm 71 tập
đoàn, Tổng công ty đợc cổ phần hoá [20]. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi doanh
nghiệp nhà nớc cũng có nhiều khúc mắc do những quy định pháp luật cha thống
nhất, hợp lý. Trên thực tế, theo Nghị định 187/ NĐ CP của Bộ tài chính về định
giá doanh nghiệp nhà nớc, có những tài sản lớn nh tài sản trí tuệ, thơng hiệu, thị
phần sản phẩm hay năng lực của bộ máy quản lý, giá trị quyền sử dụng đất của
các doanh nghiệp không đợc đa vào định giá. Do đó, giá trị thật của công ty hay xí
nghiệp đợc cổ phần có thể cao hơn nhiều so với giá đợc ấn định. Ví dụ điển hình
nh công ty bánh tôm hồ Tây, một công ty lâu năm, lại có thơng hiệu nổi tiếng với
một vị thế rất đẹp, lại chỉ đơc định giá 850 triệu VND. Điều này gây ra thất thoát
rất lớn cho ngân sách nhà nớc khi cổ phần hoá doanh nghiệp. Vì vậy, những quy
định nh trên cần phải đợc thay đổi để hợp lý hơn.
Về doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, sự thống nhất pháp luật về các loại
hình doanh nghiệp thể hiện bằng việc Luật đầu t năm 2005 khi quy định về hình
thức đầu t đã dẫn chiếu đến quy phạm về loại hình doanh nghiệp của Luật doanh

Theo ớc tính của Sở kế hoạch đầu t Hà Nội, hiện mới có khoảng 40 trên tổng số
700 doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đang hoạt động trên địa bàn thành phố
đã đăng kí lại. Trong khi đó, Nghị định 101/NĐ - CP quy định thời hạn đối với
hoạt động này chỉ có hai năm kể từ khi Luật doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực
thi hành, tức là đến hết tháng 6 năm 2008. Trờng hợp sau thời điểm đó doanh
nghiệp mới có nhu cầu đăng kí lại cha đợc các nhà làm luật dự liệu.
Trên đây là những hạn chế của quy định về thống nhất các loại hình doanh
nghiệp. Đứng trớc những hạn chế này, một yêu cầu tất yếu đặt ra là nhà nớc cần
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phải tập trung xem xét, sửa đổi hoặc ban hành mới các quy định pháp luật liên
quan để đảm bảo tính khả thi của pháp luật cũng nh tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho các loại hình doanh nghiệp.
1.2. Thống nhất về quyền thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp
Về mặt lý luận, quyền thành lập doanh nghiệp đợc xem là nội dung pháp lý
quan trọng về điều kiện xác lập t cách pháp lý cho doanh nghiệp. Trên thực tế, kể
từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, Việt Nam chủ trơng mở rộng hơn nữa
quyền tự do thành lập doanh nghiệp cho nhiều đối tợng có khả năng đầu t khác
nhau trong xã hội. Do đó mà pháp luật về quyền thành lập doanh nghiệp cũng
ngày càng đợc hoàn thiện hơn.
Theo quy định của pháp luật trớc đây, đối tợng có quyền thành lập và quản
lý doanh nghiệp đợc quy định không thống nhất ở nhiều đạo luật khác nhau nh:
quyền thành lập doanh nghiệp nhà nớc đợc quy định trong luật doanh nghiệp nhà
nớc, quyền thành lập công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh
nghiệp t nhân đợc quy định trong Luật doanh nghiệp năm 1999; quyền thành lập
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc quy định trong Luật đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam.
Đối với quyền thành lập công ty nhà nớc, pháp luật có quy định: Bộ trởng,
Thứ trởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân tỉnh là những ngời có thẩm quyền đề nghị thành lập mới công ty nhà
nớc (Điều 7 Luật doanh nghiệp nhà nớc). Về thẩm quyền quyết định việc thành

Việc Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam liệt kê những chủ thể đợc phép
thành lập doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài nh trên không những không hợp lý
về mặt kỹ thuật lập pháp mà còn tạo ra sự bất bình đẳng giữa tổ chức, cá nhân
trong nớc với các tổ chức, cá nhân nớc ngoài, dẫn đến những cơ hội không giống
nhau cho các nhà đầu t thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong việc gia
nhập thị trờng. Cá nhân, tổ chức nớc ngoài chỉ là một bên liên doanh trong doanh
nghiệp liên doanh hay thành lập doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài mà không có
nhiều cơ hội lựa chọn những loại hình doanh nghiệp phù hợp với điều kiện của
mình nh tổ chức, cá nhân trong nớc.
Khắc phục những hạn chế nêu trên, Luật doanh nghiệp năm 2005 đã quy
định thống nhất về quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp nh sau: tổ chức, cá nhân
Việt Nam, tổ chức, cá nhân nớc ngoài nếu không thuộc những trờng hợp cấm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thành lập doanh nghiệp theo Khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì có
quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam (Khoản 1 Điều 13). Những cá
nhân, tổ chức không đợc quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp là:
- Cơ quan nhà nớc, lực lợng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản của nhà nớc
để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng
trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở
hữu nhà nớc, trừ những ngời đợc cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần
vốn góp của nhà nớc tại những doanh nghiệp khác;
- Ngời cha thành niên, ngời bị hạn chế năng lực hành vi hoặc bị mất năng
lực hành vi dân sự;
- Ngời đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị toà án cấm hành nghề
kinh doanh;
- Các trờng hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.

đảm bảo tính khái quát và hợp lý, phù hợp với tình hình thực tiễn, tạo sự ổn định
lâu dài cho pháp luật về doanh nghiệp, tránh trờng hợp phải sửa đổi, bổ sung luật
doanh nghiệp khi những quy định trong pháp luật liên quan thay đổi. Đây cũng là
một biểu hiện của sự thống nhất, tránh những quy phạm pháp luật chồng chéo
trong hệ thống pháp luật nói chung.
1.3. Thống nhất về trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp
Về mặt lý luận, trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, việc
thành lập doanh nghiệp đợc coi là quyền cơ bản của nhà đầu t song lại có ảnh h-
ởng không nhỏ đến lợi ích toàn xã hội. Vì vậy, trình tự thành lập doanh nghiệp
phải đợc tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật. Các quy định về thành lập
doanh nghiệp không những phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh của nhà đầu t
mà còn phải đáp ứng nhu cầu của quản lý nhà nớc đối với doanh nghiệp.
Trên thực tế, thủ tục thành lập doanh nghiệp có ý nghĩa xác lập t cách pháp
lý cho doanh nghiệp. Cũng giống nh quyền thành lập doanh nghiệp, trớc đây, thủ
tục thành lập doanh nghiệp đợc quy định khác nhau tơng ứng với mỗi loại hình
doanh nghiệp. Với vai trò là đạo luật áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thuộc thành phần sở hữu khác nhau, Luật doanh nghiệp năm 2005 đã đa ra những
quy định nhằm thống nhất về thủ tục đăng ký kinh doanh nh sau:
Thứ nhất, tất cả các loại hình doanh nghiệp không phân biệt tính chất sở
hữu và thành phần kinh tế, nguồn gốc vốn đầu t, doanh nghiệp nhà nớc, doanh
nghiệp có vốn trong nớc hay có vốn nớc ngoài khi thành lập doanh nghiệp đều
tuân theo quy định của Điều 15 Luật doanh nghiệp năm 2005. Đây là một trong
những điểm mới cơ bản của pháp luật về doanh nghiệp, chấm dứt quy trình phức
tạp khi thành lập doanh nghiệp nhà nớc hay doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
Biểu hiện cụ thể của sự phức tạp đó là:
Về quy trình thành lập mới công ty nhà nớc, đầu tiên ngời có thẩm quyền
đề xuất thành lập phải lập đề án thành lập công ty nhà nớc và hồ sơ thành lập mới
công ty nhà nớc gửi cho ngời có thẩm quyền. Trớc khi ra quyết định thành lập mới
công ty nhà nớc, ngời có thẩm quyền phải lập hội đồng thẩm định đề án thành lập

ký kinh doanh áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp tơng tự nh thủ tục quy định
trong Luật doanh nghiệp năm 1999. Đó là quy trình, thủ tục thể hiện một bớc phát
triển so với Luật công ty và Luật doanh nghiệp t nhân khi đã bãi bỏ thủ tục xin
phép đầu t thành lập doanh nghiệp gây rất nhiều phiền hà cho nhà đầu t. Theo đó,
nhà đầu t gửi hồ sơ đăng ký kinh doanh đến các cơ quan có thẩm quyền là phòng
đăng ký kinh doanh cấp tỉnh. Trong hồ sơ còn phải có thêm văn bản xác nhận vốn
pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với doanh nghiệp kinh doanh
ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ
hành nghề của Giám đốc và cá nhân khác đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành,
nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề. Cơ quan đăng
ký kinh doanh sẽ dựa trên những điều kiện pháp luật quy định để xem xét việc cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp. Đồng thời, cơ quan này sẽ
chịu trách nhiệm về tính hợp lệ trong khi ngời thành lập doanh nghiệp sẽ phải chịu
trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của hồ sơ đăng ký kinh doanh. Ngời
thành lập doanh nghiệp chỉ bị từ chối cấp giấy chứng nhận kinh doanh trong trờng
hợp ngời đó không có đủ điều kiện theo luật định. Trong trờng hợp đó, cơ quan
đăng ký kinh doanh sẽ phải gửi thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do từ chối cho
ngời thành lập doanh nghiệp. Sau khi đợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, doanh nghiệp đợc ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh và kể từ thời điểm đó,

Trích đoạn Kiến nghị nhằm thống nhất quy định về quản trị doanh nghiệp Kiến nghị nhằm thống nhất quy định về tổ chức lại doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status