tiểu luận đặc trưng văn hoá kinh doanh của việt nam so với trung quốc - Pdf 15

Ngô Thị Kiều Diểm
Tiểu luận
Đặc trưng văn hoá kinh
doanh của Việt Nam so với
Trung Quốc
1 | 17 P a g e
Ngô Thị Kiều Diểm
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA KINH DOANH 5
1.1 Khái niệm về văn hóa kinh doanh 5
1.2 quan hệ giữa kinh doanh và văn hóa 6
1.3 Văn hoá kinh doanh - Yếu tố quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế 6
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VHKD HIỆN NAY CỦA VN VÀ TQ 8
2.1 Đặc điểm VHKD VN và TQ 8
2.1.1 Đặc điểm của Việt Nam 8
2.1.2 Đặc điểm của Trung Quốc 10
2.2 Những thành tựu đạt được 10
2.3 Những hạn chế của VHKD VN với TQ 10
2.3.2 Nhẹ chữ Tín 11
2.3.3 Cung cách làm ăn nhỏ lẻ, thói quen tùy tiện 11
2.3.4 Tầm nhìn hạn hẹp, tư duy ngắn hạn 12
2.3.5 Nặng về “quan hệ”, “chạy chọt ”, dựa dẫm 12
2.4 nguyên nhân 13
CHƯƠNG 3:
NHỮNG BIỆN PHÁP CHO NHỮNG BẤT CẬP HIỆN NAY 14

3. Lịch sử vấn đề
Đã có rất nhiều người nghiên cứu về VHKD nhưng chỉ riêng từng quốc
gia. Còn về sự so sánh giữa hai quốc gia thì ít gặp hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 | 17 P a g e
Ngô Thị Kiều Diểm
Là VHKD. Phạm vi nghiên cứu là VN và TQ ở đây cụ thể là người hoa ở tp
HCM
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Rút ra bài học cho việc kinh doanh có văn hóa của các doanh nghiệp, sinh
viên kinh tế
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, lịch sử,
so sánh, tổng hợp, để từ đó đề ra giải pháp thực tiễn. các nguồn tư liệu được
chọn lọc trên các bài viết riêng lẻ về VHKD của từng quốc gia
7. Bố cục của tiểu luận
Gồm 3 chương: chương 1 là khái niệm chung và những đặc điểm cơ bản.
Chương 2 là thực tiễn , những thành tựu, nhược điểm hiện có. Chương 3 là
những biện pháp khách quan và chủ quan
4 | 17 P a g e
Ngô Thị Kiều Diểm
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA KINH DOANH
1.1 Khái niệm về văn hóa kinh doanh
Chúng ta đều biết văn hoá là biểu hiện hành vi, tư duy và tình cảm đã ăn
sâu hay bị ảnh hưởng qua học hỏi và là điểm đặc thù của một nhóm người chứ
không phải của một cá nhân. Hành vi thể hiện ở các hành động, trong khi tư duy
và tình cảm thể hiện nội tâm và tri thức của con người. Ở một mức độ nhất định,
văn hoá có liên quan đến các quy chuẩn hay phong cách xử sự truyền thống của
một nhóm người hình thành qua thời gian. Ở mức độ sâu sắc hơn, văn hoá là

Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là thừa nhận “tính nhiều chiều, nhiều cạnh của
sự phát triển”, trong đó cạnh, chiều văn hoá có vai trò quan trọng. Nếu văn hoá
là nền tảng tinh thần đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, thì văn hóa
kinh doanh chính là nền tảng tinh thần, là linh hồn cho hoạt động kinh doanh của
một quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay, trong một thế giới
cạnh tranh đầy sôi động như ngày nay, muốn đảm bảo sự phát triển bền vững
cho hoạt động kinh doanh của quốc gia, hơn lúc nào hết, chúng ta phải có khả
năng thích ứng, tự hoàn thiện để hợp tác, hội nhập và nắm bắt thời cơ một cách
kịp thời. Muốn vậy, mỗi doanh nghiệp nói riêng và cộng đồng các doanh nghiệp
nói chung cần phải ý thức tạo dựng cho mình một nền tảng văn hoá kinh doanh.
Tham gia hội nhập, mục tiêu của các doanh nghiệp sẽ là đạt được những lợi thế
cạnh tranh trên cơ sở khả năng đổi mới và thích ứng nhanh chóng với môi
trường kinh doanh và giành được phần thắng trong cạnh tranh. Văn hóa kinh
doanh sẽ đóng vai trò then chốt trong việc giúp cho doanh nghiệp, doanh nhân
đạt được mục tiêu. Khi hội nhập, chúng ta khó có thể cạnh tranh với các doanh
nghiệp tầm cỡ về vốn, công nghệ, giá thành, nhân
6 | 17 P a g e
Ngô Thị Kiều Diểm
tài,…Vậy làm thế nào để chúng ta xây dựng được lợi thế cạnh tranh của riêng
mình? Làm thế nào để ta nổi bật hẳn lên được so với họ? Chính văn hoá kinh
doanh là đầu mối quan trọng làm nên sự khác biệt của doanh nghiệp Việt, tạo uy
tín, danh tiếng và sức sống cho doanh nghiệp, phát huy tối đa năng lực của các
cá nhân và hướng họ về mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, giúp chúng ta
vươn tới thành công nhờ vào nguồn nội lực của chính mình. Khi đã tham gia hội
nhập cạnh tranh thị trường thì sự cạnh tranh của các doanh nghiệp lúc này về
thực chất là cạnh tranh về văn hóa kinh doanh. Con đường cải tiến và đổi mới
công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm là rất cần thiết và
tất yếu. Song điều quan trọng hơn là việc tạo dựng văn hóa kinh doanh mang
sắc thái Việt Nam mới
chính là con đường ngắn, hiệu quả phù hợp với xu thế và phát triển chung trong

lập, nhà nước đã xoá bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất tức là loại bỏ kinh tế
tư nhân. Sai lầm này đã để lại hậu quả trên nhiều mặt của đời sống xã hội mà
trước tiên là nền kinh tế. Việc loại bỏ sở hữu tư nhân đã kéo theo sự phát triển
phi tự nhiên của nền kinh tế. Khu vực kinh tế tư nhân là môi trường thuận lợi cho
các khuynh hướng đa dạng của cuộc sống sinh sôi và phát triển. Kinh tế tư nhân
Việt Nam tồn tại trong những điều kiện bất lợi như vậy đã không có cơ hội phát
8 | 17 P a g e
Ngô Thị Kiều Diểm
triển. Một khi kinh tế cá nhân không có cơ hội để phát triển thì các giá trị cá nhân
hầu như tan biến, con người sẽ trở nên mờ nhạt trong mọi khía cạnh của đời
sống vật chất cũng như tinh thần. Sự phát triển lệch lạc của nền kinh tế đã
tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển tự nhiên của văn hóa
kinh doanh.
Có thể thấy một trong những nhược điểm của văn hóa kinh doanh Việt
Nam là chúng ta không có truyền thống kinh doanh, một lợi thế của cộng
đồng kinh doanh ở bất kỳ quốc gia nào. Xuất phát từ sự phát triển không liên tục
của nền kinh tế do chịu nhiều tác động chủ quan, hoạt động kinh doanh đã
không tạo ra được chuỗi thành tựu liên tục để có thể hình thành truyền thống
kinh doanh. Các giá trị văn hóa trong kinh doanh do chịu nhiều tác động đã
không thể hình thành một cách tự nhiên. Tâm lý kinh doanh cũng chịu nhiều sự
tác động và trở thành một thứ tâm lý hỗn hợp. Hiện nay, khi ra phố, chúng ta có
thể thấy người Việt Nam buôn bán rất nhộn nhịp, nhưng đấy là tâm lý kiếm lời
chứ không phải tâm lý kinh doanh. Nếu chỉ có tâm lý kiếm lời một cách nhanh
chóng thì không thể có nền kinh tế chuyên nghiệp được và nền kinh tế đó sẽ
giống như một cái chợ mà người ta mang hàng hóa từ chỗ khác đến bán chứ
không phải là nơi sản sinh ra các sản phẩm.
Trong quá trình hình thành, ngoài những đặc điểm kinh tế, văn hoá kinh
doanh còn chịu sự tác động của các đặc điểm văn hóa. Nền văn hóa khép
kín và chưa được giải phóng ra khỏi các định kiến chính trị ấy không được tiếp
nhận một cách tự nhiên các yếu tố mới và do đó không thể đóng góp nghĩa vụ

thành công với thị trường trong nước.
2.3 Những hạn chế của VHKD VN với TQ
2.3.1Thiếu tính liên kết, cộng đồng
Trong khi doanh nghiệp TQ có sức mạnh và tiềm lực rất lớn, lại hơn chúng
ta cả trăm năm kinh nghiệm họ còn thông qua các hoạt đọng của hội quán, bản
thân của chủ doanh nghiệp cùng hội quán của họ đóng góp khá tốt cho hoạt
10 | 17 P a g e
Ngô Thị Kiều Diểm
động của chính quyền địa phương nơi doanh nghiệp trú đóng…, trong khi vốn
liếng chưa nhiều, năng lực cạnh tranh chưa cao thì chúng ta lại thiếu sự liên kết,
đoàn kết.
Ví dụ như: Một mình cà phê Trung Nguyên với hoài bão xây dựng thương
hiệu cho nông sản Việt Nam mà không có sự tiếp sức của những doanh nghiệp
cùng ngành nghề thì biết đến chừng nào mới thực hiện được
Hiện nay, không ít doanh nghiệp lại không thể cởi mở, liên kết với nhau,
thậm chí có khi còn chơi xấu, cạnh tranh không lành mạnh với nhau. Hệ quả là
không những không nâng cao sức cạnh tranh mà còn yếu đi vì sự tranh mua,
tranh bán, thậm chí hạ uy tín của nhau.
2.3.2 Nhẹ chữ Tín
Giữ chữ tín là điều kiện của thành công, sự thất bại đối với doanh nghiệp,
doanh nhân không giữ chữ tín là sự thất bại báo trước, thời gian chỉ có thể là
sớm hay muộn mà thôi. Theo nhiều nhà kinh doanh nước ngoài, các nhà kinh
doanh Việt Nam không coi trọng chữ tín, hay viện dẫn các lý do khách quan để
khước từ việc thực hiện cam kết, gây nhiều phiền toái trong quan hệ với các đối
tác nước ngoài. Từ cá nhân đến cơ chế, phải đau lòng nhận ra là người Việt
chưa tin người Việt. trong khi đó người TQ lại rất coi trọng chữ tín
2.3.3 Cung cách làm ăn nhỏ lẻ, thói quen tùy tiện
Các doanh nghiệp Việt Nam vốn bị kém thế cạnh tranh trên thương trường
quốc tế do cung cách làm ăn manh mún, chạy theo lợi nhuận trước mắt mà ít
nghĩ đến cục diện chung. Việc liên kết để đáp ứng những đơn đặt hàng lớn chỉ

đã có những kế hoạch dài hạn cho kinh doanh
2.3.5 Nặng về “quan hệ”, “chạy chọt ”, dựa dẫm
Ở nước ta đặc tính coi trọng quan hệ cá nhân, xu hướng cá nhân hóa các
mối quan hệ kinh doanh, ỷ lại vào bảo hộ của nhà nước vẫn tồn tại khá phổ biến.
Nhiều doanh nghiệp tập trung thời gian và tiền bạc cho một hoặc một số nhân
vật quan trọng của đối tác, cho các mối quan hệ cá nhân giữa người kinh doanh
12 | 17 P a g e
Ngô Thị Kiều Diểm
mà cụ thể hơn là người bán hoặc mua với người có thẩm quyền quyết định của
bên đối tác mua hoặc bán Một số lại câu kết với những người xấu trong bộ máy
Nhà nước. Nhiều doanh nghiệp thành công nhờ vào mối quan hệ rộng hơn là
nhờ vào năng lực. Xu hướng dựa vào quan hệ rộng như là một chủ bài - mạnh
hơn cả năng lực, và xu hướng nhờ vả, chạy chọt hiện đang tồn tại ở mức đáng
kể. Lợi ích quá nhiều
từ quan hệ cá nhân, tranh giành đất đai, dùng quan hệ để thắng thầu bất chính,
thậm chí dùng cả quyền lực chính sách để bóp méo lực lượng thị trường như
phân phối quota xuất nhập khẩu chính là những hiện tượng phổ biến, gây bức
xúc trong toàn xã hội. người TQ rất coi trọng mối quan hệ nhưn họ không dựa
dẫm vào nó để chuột lợi mà dựa vào nó để tìm hiểu đói tác, nhân viên, đối thủ…
của mình. Song thực tế ở họ cũng tồn tại một số ít trường hợp như VN
2.4 nguyên nhân
vì có các đặc điểm (mục 2.1) nên tình trạng này là điều tất yếu phải sảy ra.
13 | 17 P a g e
Ngô Thị Kiều Diểm
CHƯƠNG 3:
NHỮNG BIỆN PHÁP CHO NHỮNG BẤT CẬP HIỆN NAY
3.1 Ý nghĩa của việc so sánh
Chỉ rõ được những sai lầm, cũng như những thói quen không tốt ảnh
hưởng đến văn hóa của bản thân doanh nghiệp cũng như văn hóa kinh doanh
của VN nói chung. Vì vậy chúng ta càn đưa ra biện pháp nhằm khắc phục

thái độ cần có của Đảng và Nhà nước đối với giới doanh nhân. Thậm chí, không
ít người còn cho rằng, sự thể hiện ấy là thái quá, giống như sự sám hối đối với
sự miệt thị các hoạt động kinh doanh trước kia, hay nói cách khác, đó chỉ là
những động thái chính trị nhằm khích lệ doanh nhân. Thực ra, cái mà doanh
nhân đi tìm không phải là địa vị chính trị mà là địa vị xã hội. Doanh nhân là
những người ý thức đầy đủ và tỉnh táo về sự gia tăng các giá trị thông qua hành
vi của mình vì gia tăng các giá trị là mục tiêu của kinh doanh. Xét theo quan điểm
kinh tế của Adam Smith, sự gia tăng giá trị kinh doanh đó thậm chí còn mang lại
những giá trị xã hội lớn hơn và đó là giá trị xã hội của nhà kinh doanh. Sự thừa
nhận giá trị xã hội của nhà kinh doanh, do đó, là động lực vô cùng to lớn cho sự
phát triển của kinh tế.
Cần nhận thức lại về chủ nghĩa yêu nước. Nếu như trước đây, yêu
nước gắn liền với lòng căm thù giặc sâu sắc hay sự hy sinh để bảo vệ tổ quốc
thì trong thời đại hiện nay, khi đất nước đã độc lập và thống nhất, yêu nước cần
phải được hiểu là làm cho "dân giầu nước mạnh" như khẩu hiệu mà Đảng ta đã
đề ra. Doanh nhân là những con người như thế bởi chính họ đem đến sự giàu
có cho dân tộc, lợi ích của họ cũng chính là lợi ích của xã hội. Chúng ta hoàn
toàn có thể coi doanh nhân thành đạt là nhân tài của đất nước. Điều đáng mừng
là thế hệ trẻ ngày nay đã phần nào hiểu được sự tụt hậu của đất nước, họ khát
khao đóng góp và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Cần phải
15 | 17 P a g e
Ngô Thị Kiều Diểm
khuyến khích và tạo không gian tự do cho sự phát triển năng lực sáng tạo của
mỗi cá nhân, đặc biệt là những nhân tố như thế.
3.2.2 Biện pháp rút ra từ sự so sánh
Trên đây là những biện pháp bên ngoài tác động vào doanh nghiệp,
nhưng quan trọng nhất vẫn là do bản thân của mỗi doanh nhân- chủ thể của kinh
doanh. Doanh nhân cần phải học tập những phong cách làm việc chuyên nghiệp
của những người di trước ta( doanh nhân TQ). Từ bỏ dần những thói quen xấu
ở những bất cập đã nêu.

4. “tín” đặc trưng văn hóa kinh doanh của người Hoa (Trần Thị Anh Vũ)
5. Các website: www.svhanhchinh.com.vn; www.vietbao.com.vn …
18 | 17 P a g e


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status