luận văn Hình thức chuyển tải thông tin tiêu biểu trên báo Tết - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Dân tộc Việt Nam có một nền văn hoá lâu đời và quý báu. Đó là
những giá trị tư tưởng, đạo đức, các công trình kiến trúc, các tác phẩm văn
học nghệ thuật, những phong tục tập quán, lễ hội đã được hình thành trong
suốt mấy nghìn năm lịch sử. Trong đó, các phong tục cổ truyền mang đậm nét
bản sắc của từng vùng, miền cũng như của toàn dân tộc Việt Nam. Mét trong
những phong tục thiêng liêng nhất, gần gũi nhất đối với mỗi người Việt Nam
vẫn tồn tại đến ngày nay, là Tết Nguyên đán cổ truyền.
Việt Nam là nước phương Đông có nền văn minh lúa nước lâu đời.
Công việc đồng áng vất vả suốt năm, chỉ khi mùa xuân về, cũng là lúc công
việc đã xong xuôi. Tết Nguyên đán là dịp để nghỉ ngơi, gia đình sum họp, con
cháu tưởng nhớ về ông bà, tổ tiên. Người ta quên đi những lo lắng thường
ngày để hưởng trọn niềm vui trong những ngày Tết và mong một năm mới tốt
đẹp. Tết Nguyên đán là cái Tết mở đầu cho năm mới, có ý nghĩa thiêng liêng
trong tâm thức mỗi người Việt Nam.
Là mét Ên phẩm xuất bản định kỳ, nhằm chuyển tải tất cả các thông
tin từ chính trị, kinh tế đến văn hoá, xã hội đến người đọc, báo chí đã và đang
phát huy vai trò của mình trong đời sống tinh thần của xã hội. Đã thành thông
lệ, cứ vào dịp Tết hằng năm, các báo, tạp chí đều cho ra những số chuyên san,
đặc san về Tết Nguyên đán. Số báo này được chuẩn bị rất công phu, lựa chọn
bài vở kỹ càng từ hàng tháng trước nên chất lượng cao. Báo Tết, về nội dung
và hình thức đều có những nét khác biệt đáng kể so với những số báo thường
ngày. Báo Tết còn được trưng bày, triển lãm tại Hội Báo Xuân, một sinh hoạt
văn hoá đã trở thành thường niên mỗi dịp Tết đến. Báo Tết dần dần đã trở
thành món quà Tết, quà xuân đầy ý nghĩa cho mọi nhà.
Báo Tết có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần, song
từ trước đến nay hầu như chưa có một công trình khoa học đi sâu nghiên cứu,
về nã. Một số bài viết về báo Tết đăng trên tạp chí Người làm báo, báo Nhà
báo và công luận chỉ mang tính chất giới thiệu, chưa đi sâu tìm hiểu cả về
nội dung lẫn hình thức của báo Tết, rót ra đặc trưng, bản sắc riêng của báo Tết

3.1 Mục đích:
Đi sâu nghiên cứu đặc điểm về nội dung và hình thức của báo Tết, cố
gắng đưa ra một cái nhìn tổng quát về báo Tết, qua đó rót ra được những nét
đặc trưng, kể cả những ưu nhược điểm và bản sắc riêng của từng tờ báo. Mặt
khác, qua đề tài nghiên cứu tác giả cố gắng rót ra một số kinh nghiệm nhằm
áp dụng vào thực tiễn làm và trình bày báo Tết.
3.2 Nhiệm vô:
- Sưu tầm, phân loại, khảo sát, phân tích nội dung của các bài viết trên
8 tờ báo: Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam, Giáo dục và
Thời đại, Nông thôn ngày nay, Hà Nội mới và Bắc Ninh số Tết 1999, 2000,
2001.
- Tìm hiểu những đặc điểm nội dung khu biệt của các tờ báo khảo sát.
- Tìm hiểu hình thức chuyển tải thông tin của các bài báo đó, chỉ ra
phong cách, bản sắc riêng của từng tờ báo trong hình thức chuyển tải thông
tin.
- Trên cơ sở phân tích ưu, nhược điểm của các tờ báo Tết khảo sát,
dựa trên những kiến thức báo chí đã học, đề xuất một số ý kiến trong việc thể
hiện nội dung và hình thức các bài viết trên số báo Tết.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử; phương pháp chọn lọc, thống kê; phương pháp
quy nạp, diễn dịch và ngược lại; phương pháp so sánh, đối chiếu.
5. CẤU TRÚC KHOÁ LUẬN.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần chính của khoá luận chia làm 3
chương:
3
Chương 1: Vai trò, ý nghĩa của báo chí nói chung và báo Tết nói
riêng trong đời sống văn hoá tinh thần.
Chương này chủ yếu là phần dẫn luận về Tết Nguyên đán, và các
phong tục, lễ hội trong ngày Tết, về vai trò của báo chí nói chung, ý nghĩa của

nhất, năng động nhất mà hiếm một hình thái ý thức xã hội nào có được.
Hiện thực được tái hiện trên báo chí phải là một hiện thực sôi động, tiêu
biểu và luôn luôn đổi mới, những điều vừa xảy ra, đang xảy ra và chắc chắn
sẽ xảy ra. Tuy nhiên không vì thế mà hiện thực được phản ánh trên báo chí
chỉ có ý nghĩa và giá trị thông tin tức thời. “Khi cuộc đời không lặp lại, sự
kiện không tự nảy sinh hai lần thì tác phẩm nào miêu tả được chân thực nhất,
sinh động nhất cái thời điểm thiên tải nhất thì và hiện tượng có một không hai
sẽ trở thành bất tử” [14; 80]. Nhiều bài báo do đề cập tới những vấn đề thực
sự tiêu biểu, điển hình của đời sống, lại được thể hiện dưới ngòi bút của các
nhà báo tài năng, nên có sức sống lâu bền. Tác phẩm của các nhà báo nổi
tiếng trong lịch sử báo chí Việt Nam như: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tam
Lang, Trường Chinh, Hồng Hà, Thép Mới và những nhà báo nước ngoài có
5
tên tuổi như Giôn-rit, Bớc-sét, B. Pô-lê-vôi, I. Ê-ren-bua vẫn còn nguyên
giá trị cho tới ngày nay.
Có thể nói báo chí là phương tiện thông tin đại chúng quan trọng và thiết
yếu đối với đời sống xã hội “nó từng ngày, từng giờ đi vào mỗi gia đình, thôn
xóm, phố phường như là một người bạn, người đồng chí, người cố vấn, người
đưa đường chỉ lối cho mỗi người bất kể già trẻ, lớn bé trong cuộc sống
thường nhật cũng như giữa những biến cố lớn lao của đất nước và thế giới”
[19; 7]. Báo chí là loại hình hoạt động thông tin mang tính chính trị, xã hội.
Báo chí bao giờ cũng là công cụ, phương tiện, vũ khí sắc bén của một giai
cấp, để truyền bá tư tưởng, bảo vệ lợi Ých và duy trì địa vị thống trị của chế
độ trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Các lãnh tụ cách mạng, các nhà
kinh điển như Các Mác, Ănghen, Lênin, Hồ Chí Minh đồng thời là những
nhà báo lỗi lạc. Họ đã sử dụng báo chí như một vũ khí đấu tranh sắc bén. Báo
chí là phương tiện thông tin phản ánh, bình luận, giải thích một cách nhanh
chóng, rộng rãi, hiệu quả nhất cho công chúng về tất cả các sự kiện, hiện
tượng, quá trình, con người xảy ra hàng ngày trong nước và trên thế giới. Báo
chí cũng là công cụ tạo dựng và định hướng dư luận xã hội một cách mạnh

trị - xã hội là một điều kiện tất yếu.
Báo chí là một nhân tố, một phương tiện có sức mạnh đặc biệt to lớn
trong việc hướng dẫn nhận thức, hình thành dư luận xã hội tích cực. Dư luận
xã hội tích cực là tiền đề quan trọng cho trạng thái chính trị - xã hội ổn định.
Khi báo chí tự đánh mất niềm tin, đánh mất định hướng chính trị, trở thành
lực lượng tiêu cực, nó sẽ là lực cản phá hoại ghê gớm đối với sự ổn định của
chế độ. Hàng ngày, hàng giờ, từng tờ báo, tạp chí tác động vào tâm thức con
người. Những thông tin lặp đi lặp lại liên tục sẽ ngấm ngầm điều chỉnh hoặc
hình thành những hành vi của các thành viên xã hội. Đẩy những hành vi Êy đi
theo hướng nào, tích cực hay tiêu cực là tuỳ thuộc vào liều lượng, quy mô,
tính chất của dòng thông tin mà báo chí cung cấp cho xã hội.
7
Ngày nay, tuy xu hướng của thế giới đã chuyển từ thời kỳ đối đầu sang
thời kỳ hợp tác phát triển, nhưng sẽ rất sai lầm nếu quên rằng một khi còn có
sự đối nghịch về lợi Ých giai cấp, quốc gia, dân tộc thì kẻ thù còn tìm mọi
cách để phá hại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của ta, để áp đặt những
quan điểm có lợi cho chúng. Mặt khác, sự quốc tế hoá thông tin báo chí làm
cho nguồn tin của từng quốc gia trở thành đối tượng của báo chí mọi quốc
gia. Trong điều kiện Êy, vấn đề bảo đảm định hướng tư tưởng, phát hiện và
đấu tranh làm thất bại những âm mưu thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, giữ vững
ổn định chính trị - xã hội càng trở thành một vấn đề phức tạp, một trách
nhiệm nặng nề của báo chí.
Thứ hai, báo chí có vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội, quản lý
đất nước. Nói cách khác, nó thực hiện “vai trò báo chí như cầu nối giữa
Đảng và Nhà nước với nhân dân; như phương tiện bảo đảm dòng thông tin
hai chiều để tạo ra sự hài hoà giữa ý Đảng với lòng dân; như cơ quan tham
mưu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong việc sửa chữa những chính sách
không phù hợp, hình thành những chính sách mới đúng đắn, kịp thời” [22;
11]. Khả năng của báo chí trong lĩnh vực quản lý xã hội được triển khai theo
các hướng: “cung cấp kịp thời thông tin về hiện trạng kinh tế - xã hội; tuyên

cư dân nông thôn, việc nâng cao dân trí không chỉ đơn thuần là trang bị những
tri thức phổ thông, mà làm sao nhanh chóng nâng cao tri thức của nhân dân,
bắt kịp trình độ các nước phát triển. Có thể nói báo chí đã và đang đóng vai
trò to lớn trong việc nâng cao dân trí cho mọi người, là “trường đại học của
nhân dân”.
Cuối cùng, mét vai trò quan trọng khác của báo chí không thể không
nhắc tới là giải trí. Trước đây, vai trò này Ýt được chú ý trong báo chí cũng
như trong văn học, nghệ thuật. Khi cuộc sống vật chất đầy đủ hơn, xuất hiện
nhu cầu giải trí, nhất là trong cuộc sống hiện đại. Báo chí là sản phẩm văn hoá
tinh thần mang tính giải trí cao do chất lượng thông tin cao, được chuyển tải
sinh động, hấp dẫn. Không chỉ thực hiện vai trò giải trí đơn thuần mà trên
9
thực tế, vai trò giải trí gắn liền với vai trò thông tin, nâng cao dân trí, phát
triển văn hoá của báo chí. Báo chí còn thông qua giải trí để giáo dục chính trị
tư tưởng, giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho công chúng. Ngày nay, báo chí được
coi là loại hình giải trí mang tính “tri thức”, là “món ăn” không thể thiếu trong
đời sống tinh thần.
1.2 Ý NGHĨA CỦA BÁO TẾT TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ
TINH THẦN.
1.2.1 Tết Nguyên đán trong đời sống văn hoá tâm linh người Việt.
Tết Nguyên đán cổ truyền là một nét đẹp truyền thống của dân tộc ta.
Bản sắc văn hoá Việt Nam biểu hiện rõ nhất qua những ngày Tết. Tết là mốc
khởi đầu sinh hoạt văn hoá dân tộc trong một năm, phản ánh sâu đậm những
triết lý nhân văn, đời sống tinh thần phong phú của người Việt. Ngày Tết,
người ta quên đi những lo toan thường nhật để sống vui vẻ hơn. “Bao nhiêu
những điều không tốt đẹp đã lui trở lại với năm cũ để cho năm mới được tinh
hảo, đem lại cho con người toàn những điều hy vọng” [1; 48]. Với tinh thần
“chín bỏ làm mười”, ngày Tết xoá đi mọi điều xích mích, mọi người khoan
dung, hiểu biết , gắn bó với nhau hơn. Ngày Tết trở thành dịp để tình cảm tốt
đẹp của con người được củng cố và nâng cao.

nhẹ văn hoá truyền thống, mà xuất phát từ quan niệm: báo thuần tuý là báo, là
thông tin chứ không “lấn” sang sân của các Ên phẩm văn hoá khác. Hơn nữa
báo Tết Việt Nam gắn liền với Tết Nguyên đán cổ truyền, tục lệ chỉ có ở vài
nước châu Á, trong đó có Việt Nam. “Báo Tết có lẽ là một đặc trưng duy nhất
của báo chí Việt Nam, giàu bản sắc riêng, một bản sắc rất Việt Nam” [25;
60].
Ở Việt Nam, báo Tết phát triển mạnh từ khi báo giới thực hiện “đổi mới
báo chí vì sự nghiệp đổi mới của đất nước”. Những năm 80, báo Tết phải in
trên giấy chất lượng xấu, màu sắc đơn điệu, Ýt tranh ảnh, nội dung, hình thức
không được đa dạng, phong phú và hấp dẫn như hiện nay. Sau đổi mới, nhất
là từ những năm 90 trở lại đây, báo chí Việt Nam ngày càng khởi sắc. Nằm
11
trong sự khởi sắc chung của toàn bộ nền báo chí, báo Tết cũng có những tiến
bộ đáng kể, phát triển vượt bậc, nội dung phong phú hơn, hình thức thể hiện
đa dạng, hấp dẫn hơn. Có thể nói, báo Tết ngày càng có ý nghĩa quan trọng
trong đời sống tinh thần của mỗi người dân khi Tết đến, xuân về.
Trước hết, báo Tết đã trở thành một “món ăn” tinh thần lành mạnh, bổ
Ých không thể thiếu bên cạnh những lịch, tranh, câu đối trong dịp Tết
Nguyên đán cổ truyền. “Mỗi năm khi mùa xuân về, ngoài “Thịt mỡ dưa hành
câu đối đỏ, cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”, người Việt Nam đã quen
không thể thiếu một tờ báo Tết, coi đó là món ăn tinh thần độc đáo trong dịp
đón năm mới” [21; 15]. Việc xuất bản và thưởng thức báo Tết đã thành một
yếu tố của phong tục ngày Tết, được “phong tục hoá”. Có thể nói giờ đây báo
Tết đã biến thành một “tục lệ” mà nếu không có không được.
Mức sống của nhân dân ngày càng cao. Đời sống vật chất đầy đủ tạo
điều kiện cho đời sống tinh thần phát triển, nhu cầu thưởng thức văn hoá ngày
càng lớn. Trong những ngày Tết, con người no đủ không chỉ vật chất mà cả
tinh thần: “Đói ba tháng hè, no ba ngày Tết”. Ngay cả khi còn khó khăn,
thiếu thốn thì trong ngày Tết, người ta cũng cố gắng khắc phục để lo cho đầy
đủ: “Ta còn nghèo phố chợ nhà gianh, Nhưng cũng đủ vài tranh treo Tết” (Tố

Sự phát triển của báo Tết Việt Nam những năm gần đây được đánh dấu
bằng các Hội Báo Xuân. Tất nhiên, ở đây nên hiểu “Hội Báo Xuân” không
phải chỉ có “báo Xuân” mà còn bao hàm cả “báo Tết”, thậm chí còn có nghĩa
là “hội báo Tết”. Hội Báo Xuân cần hiểu là hội báo tổ chức vào ngày xuân,
mùa xuân. Hội Báo Xuân, ngày hội trưng bày các tờ báo Tết được xem là
món quà quý giá nhất của giới báo chí Việt Nam mừng Đảng, mừng đất nước
vào xuân. Những gì báo Tết thể hiện chính là thực tế phát triển đất nước về
kinh tế, văn hoá, xã hội như lời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “Báo Xuân, Báo
Tết đã phản ánh rất đủ, rất trung thực đời sống vật chất và tinh thần của dân
tộc ta” [7; 12]. Qua Hội Báo Xuân, nhân dân thấy đất nước mình đang khát
khao, nỗ lực vươn lên; chứng kiến những nét độc đáo của quê hương cũng
13
như những thành tựu chúng ta đạt được. Hội Báo Xuân cũng thể hiện rõ sự
khởi sắc của báo chí, giúp người xem hình dung được sự phát triển mới của
các loại hình báo chí Việt Nam. Hội Báo Xuân là vườn hoa báo Tết đầy
hương sắc, là “bữa tiệc lớn” mà suốt một năm những người làm báo đã nỗ lực
để đến ngày “treo đèn kết hoa” trưng bày “món ăn tinh thần” mời mọi người
cùng thưởng thức.
Hơn mười năm nay, năm nào chúng ta cũng tổ chức Hội Báo Xuân, và
năm sau quy mô lại lớn hơn, nội dung phong phú hơn nhiều so với năm trước.
Số cơ quan báo chí tham dự cũng như số người đến xem đông đảo hơn, từ 2
vạn, lên đến 7 vạn, 10 vạn người Việc tổ chức Hội Báo Xuân toàn quốc ở
Trung tâm hội chợ triển lãm; hình thành một khu liên hoàn giữa Hội chợ xuân
và Hội Báo Xuân, gắn thành tựu kinh tế - kỹ thuật với thành tựu phát triển
báo chí, tạo thuận lợi cho nhân dân chuẩn bị những sản phẩm vật chất và tinh
thần cho gia đình đón Tết. Nhiều cuộc thi được tổ chức trong Hội Báo Xuân
như thi bìa, thi ảnh, câu đối Tết trên báo Tết, báo xuân, thi trình bày, lựa chọn
những tờ báo hay và đẹp nhất. Toàn bộ số báo tham gia trưng bày, theo truyền
thống từ nhiều năm nay, lại được gửi tặng các chiến sĩ trên biên giới, đảo xa -
việc làm vô cùng ý nghĩa với những người đang ngày đêm canh giữ cho mùa

dân
Lao
đ

n
g
Tiền
phong
Phụ nữ
Việt
Nam
Giáo dục
và Thời
đại
Nông
thôn
ngày nay
Hà Nội
mới
Bắc Ninh
Tổng số (bài)
255 447 318 162 234 216 237 177
Chính trị
57
(22,35%)
24
(5,36%)
18
(5,66%)
9

210
(46,97%)
111
(34,9%)
114
(70,37%)
162
(69,23%)
108
(50%)
159
(67,08%)
129
(76,27%)
Tất nhiên, việc chia thành 3 chủ đề lớn : chính trị, kinh tế - xã hội, văn
hoá - thể thao chỉ mang tính tương đối để tiện thống kê, phân tích. Thực tế,
trong từng bài viết có sự đan xen, giao thoa giữa các chủ đề khác nhau, nhiều
khi khó phân biệt rách ròi.
2.1 CHỦ ĐỀ CHÍNH TRỊ.
Chủ đề chính trị xuất hiện trên báo Tết không nhiều. Khảo sát số lượng
các bài viết theo chủ đề này trên 8 tờ báo Tết trong 3 năm, chúng tôi thu được
kết quả như sau:
Nhân
dân
Lao
động
Tiền
phong
Phụ nữ
Việt

(4,16%)
24
(10,12%)
12
(6,7%)
Như vậy, có thể thấy, chỉ Nhân dân là tờ có tỷ lệ bài viết về chủ đề
chính trị tương đối cao (22,35%) vì đây là tờ báo ngôn luận của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, nên các thông tin chính trị vẫn là chủ đạo, mang tính
định hướng chính trị, tư tưởng.
Mùa xuân, ngày Tết, cũng là thời gian chóng ta kỷ niệm ngày thành lập
Đảng. Các số báo Tết đều dành những bài viết trang trọng ở trang nhất với ý
nghĩa “Mừng Đảng, mừng xuân”, đánh giá, tổng kết vai trò của Đảng với mỗi
chặng đường mà dân tộc ta đã trải qua. Trong bài “Đảng 70 mùa xuân”
(Nhân dân Tết Canh thìn 2000), tác giả Hải Đường đã ôn lại những chặng
17
đường vinh quang và thử thách của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.
“Suốt 70 năm qua, mỗi bước đi của Đảng luôn nhịp cùng bước đi của dân
tộc. Có sự thử thách nào không có sự chia lửa, nhường cơm sẻ áo của người
dân với Đảng. Có chiến công nào không kết tinh trí tuệ, mồ hôi và máu Đảng
ta, dân ta”. Bước vào mùa xuân này là mùa xuân thứ 70 của Đảng, năm đổi
mới thứ 15, năm giao thừa thế kỷ, giao thừa thiên niên kỷ. Đất nước đã
chuyển mình vào xuân, qua một năm mới nhiều hoa thơm trái ngọt, nhưng
cũng không Ýt chông gai. Khó khăn, thử thách lớn nhất, và cũng là sứ mạng
mà lịch sử giao phó cho Đảng ta là “mở cửa, hội nhập khu vực và quốc tê trên
cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, vươn tới mục
tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vững bước tiến lên chủ
nghĩa xã hội”.
“70 năm một quá trình sáng tạo” (Giáo dục và Thời đại Tết Canh thìn
2000) là sự khẳng định của T.S Ngô Đăng Tri: “cách mạng Việt Nam giành
được những thắng lợi như ngày nay là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố,

hành cuộc chiến tranh nhân dân chống xâm lược, nhân dân ta là lực lượng
quyết định thắng lợi. Nhờ đó mà ba lần làm thất bại âm mưu đồng hoá dân tộc
của giặc ngoại xâm. Sức mạnh truyền thống của dân tộc không phải là vốn
quý trời cho, lúc nào cũng được phát huy. “Khi lòng người được quy tụ, thì có
thể lấp biển dời non, trái lại khi bị ly tán, thì suy yếu, thậm chí mất nước.
Thăng trầm không phải là một quy luật tạo hoá mà do con người tạo nên”. Ba
lần mất nước đều bắt nguồn từ một nguyên nhân trực tiếp: để mất lòng người,
dẫn đến ly tán. Từ đó tác giả khẳng định bài học lịch sử của ta, nói cho cùng
là “việc đại nghĩa cốt ở yên dân, giữ được đạo lý Êy thì thành công. Làm trái
lại ắt phải thất bại”. Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp lúc đầu thất bại vì
chưa ai tập hợp được toàn dân tộc vào cuộc chiến đấu. Chỉ từ khi Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, nổi dậy đánh
đổ chế độ thực dân, chế độ phong kiến. Để bảo vệ nền độc lập, tự do đã giành
19
được, Đảng lại dựa vào Nhà nước của nhân dân tổ chức, lãnh đạo hai cuộc
chiến tranh trường kỳ của toàn dân đánh thắng những thế lực đầu sỏ. Một lần
nữa chúng ta lại chứng minh chân lý “yếu có thể chuyển thành mạnh, nhỏ có
thể đánh thắng lớn nếu mọi người đoàn kết thành một khối”.
Nhà báo Hữu Thọ trong bài viết “Lịch sử và huyền thoại” (Nhân dân
Tết Tân Tỵ 2001) đã bày tỏ cảm nhận đất nước ta “có những huyền thoại trở
thành lịch sử, có những sự kiện lịch sử như huyền thoại”. Đó là những huyền
thoại đã ăn sâu vào tâm hồn người Việt Nam về tinh thần cố kết cộng đồng, là
nghĩa đồng bào, ý chí bảo vệ Tổ quốc, quyết tâm chống thiên tai của người
Việt vì sự trường tồn của đất nước. Có những sự kiện lịch sử trở thành huyền
thoại là: dân tộc vốn đất không rộng, dân không đông, nhưng đã kiên cường
đánh bại những tên đế quốc sừng sỏ, hùng mạnh nhất trên thế giới, từ đế quốc
Nguyên Mông thời phong kiến cho tới thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thế kỷ 20;
đứng vững và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong thoái trào của
chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Tác giả khẳng định, có được những thành công
lịch sử mang tính huyền thoại Êy là do sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn

Người cũng đều làm cho chóng ta xúc động, đều là những lời dạy bảo ân cần
của Người. Các bài viết xuất hiện trên báo Tết cũng là dịp để nhân dân cả
nước báo công với Bác về những thành tựu của đất nước đạt được trong năm
qua.
Trong bài viết “50 xuân trước Bác Hồ nói về Đảng” (Nhân dân Tết Tân
tỵ 2000), đồng chí Vũ Kỳ ôn lại lời dặn của Bác cách đây đúng nửa thế kỷ về
xây dựng Đảng, nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Bài viết vừa nêu cảm
nghĩ: “Nhớ lại những sự kiện lịch sử đã qua, trong tôi vẫn còn bồi hồi xúc
động”; vừa đánh giá: những lời dạy của Bác Hồ cách đây đúng 50 năm,
nhưng vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa thực tiễn, “vẫn là tư tưởng chỉ đạo
thiết thực, bảo đảm cho Đại hội IX thành công, dẫn dắt toàn dân ta đi vào
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như Bác Hồ hằng mong muốn”.
21
Bài viết “Bác nhắc lại tám lần” (Nhân dân Tết Canh thìn 2000) của nhà
báo Hữu Thọ là một phát hiện bất ngờ, lý thú của tác giả khi dọc lại bản Di
chóc của Bác Hồ. “Đêm khuya đọc lại Di chúc của Bác Hồ giật mình thấy
trong hơn một nghìn từ để lại “muôn vàn tình thân yêu” cho con cháu muôn
đời sau, tám lần Bác nhắc tới từ “đoàn kết”. Tác giả đã chỉ ra cụ thể tám
trường hợp Bác Hồ nhắc đến từ “đoàn kết” trong Di chúc và ôn lại những lời
dặn ân cần - cũng là những bài học quý báu của Bác về đoàn kết: đoàn kết
trong Đảng và đoàn kết dân tộc, “muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải
thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê
bình”. Phải đoàn kết thì mới thực hiện được mong muốn của toàn Đảng, toàn
dân ta.
Các số báo Tết cũng xuất hiện nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu
phân tích, đánh giá quan điểm, tư tưởng của Bác về Đảng, về cách mạng, về
dân tộc, dân vận như: “Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây
dựng và phát triển văn hoá Việt Nam” (Hà Nội mới Tết Kỷ Mão 1999) và
“Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới” (Hà Nội

động
Tiền
phong
Phụ nữ
Việt
Nam
Giáo dục
và Thời
đại
Nông
thôn
ngày nay
Hà Nội
mới
Bắc
Ninh
Tổng
số (bài)
255 447 318 162 234 216 237 177
Kinh tế
- xã hội
72
(28,23%)
177
(39,59%)
150
(47,16%)
24
(14,81%)
48

“Năm mới tính sổ làm ăn” (Vũ Khoan - Nhân dân Tết Tân Tỵ 2001) là
bài viết khá độc đáo, lý thú. Tác giả là quan chức trong Bộ Thương mại,
nhưng bài viết không hề mang tính chất khuôn mẫu, khô cứng mà rất tự
nhiên, sinh động. Dường như tác giả đang nói chuyện, tâm tình thân mật với
người đọc về chuyện làm ăn, hơn là đang bàn đến vấn đề kinh tế của một đất
nước. Mở đầu bài viết là lời tâm sự: “Mỗi khi năm hết Tết đến, các nhà kinh
doanh đều tính sổ xem trong năm làm ăn lỗ lãi ra sao. Ngoảnh nhìn lại một
năm hoặc cả thập kỷ, theo chiều hướng nào chúng ta cũng đều có thể hài
lòng: hầu hết những dự kiến đề ra đều đạt được, thậm chí trên một số mặt
còn vượt trội”. Tiếp đó tác giả đã nêu những thuận lợi và khó khăn của năm
mới, phân tích, dự đoán nền kinh tế Việt Nam trong năm 2001 kèm theo
những tình cảm, suy nghĩ của mình một cách tự nhiên: “Hài lòng với những
gì đã làm được, chúng ta vẫn chưa thể yên lòng. So với bản thân mình thì
nhiều tiến bộ nhưng so với thiên hạ thì chưa là bao”. Giọng điệu thân mật tâm
tình, cộng với việc dùng nhiều thành ngữ, khẩu ngữ tự nhiên như: “cỡ xèng
xèng bậc trung”, “tháng giêng là tháng ăn chơi”, “năng nhặt chặt bị”, “trái
gió trở trời” tạo nên thành công cho bài viết.
24
Bên cạnh những bài viết đánh giá, tổng kết lại nền kinh tế Việt Nam
trong một năm hay mét giai đoạn lớn hơn, còn nhiều bài viết đánh giá, tổng
kết lại từng lĩnh vực kinh tế cụ thể như: xuất nhập khẩu, đầu tư nước
ngoài hay các ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải,
thương mại, dịch vụ
Về vấn đề xuất khẩu, báo Tiền phong Tết Canh thìn 2000 có bài “Xuất
khẩu 1999: Bước tạo đà tốt đẹp cho năm 2000” (Đình Nguyên). Tình hình
xuất khẩu của nước ta năm 1999 được tổng kết qua những con số cụ thể:
“xuất khẩu đạt 11,5 tỷ USD, tăng khoảng 20%, vượt kế hoạch 12%…” Các
mặt hàng chủ lực xuất khẩu giá trị cao là gạo, dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ
sản, cà phê với những số liệu cụ thể về số lượng, doanh thu, tỷ lệ tăng. Một
thành công nữa là: “ta đã xuất siêu và lần đầu tiên Việt Nam có xuất siêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status