LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống Ngân hàng Việt Nam cần có những bước đổi mới mạnh mẽ trên tất
cả các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vấn đề phòng ngừa và
hạn chế rủi ro tín dụng, vì hoạt động tín dụng là một hoạt động cơ bản và đặc thù
trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
Với tầm quan trọng của hoạt động tín dụng và mối tương quan của hoạt động
này với các hoạt động kinh doanh khác tại Ngân hàng Liên doanh Lào –Việt Chi
nhánh Hà Nội, việc nghiên cứu, đo lường và đưa ra các giải pháp phòng ngừa và
hạn chế rủi ro tín dụng là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cho
công cuộc xây dựng phát triển bền vững của Ngân hàng Liên doanh Lào –Việt Chi
nhánh Hà Nội.
Sau một thời gian thực tập và nghiên cứu tại NHNNo & PTNT chi nhánh Mỹ
Đức kết hợp giữa thực tế và lý thuyết, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
trên, em đã chọn đề tài “Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Liên doanh Lào –Việt Chi nhánh Hà Nội” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại
Chương 2 : Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Liên doanh Lào –
Việt Chi nhánh Hà Nội
Chương 3 : Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Liên
doanh Lào –Việt Chi nhánh Hà Nội
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ RUI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại
1.1.1.Khái niệm và tắc tín dụng
* Khái niệm NHTM: Theo luật các TCTD năm 2004 định nghĩa: ”NHTM là
ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Tùy theo mỗi quốc gia khác nhau mà quy định
thời hạn tín dụng có thể khác nhau. Theo cách phân loại này, ở Việt nam có thể chia
tín dụng thành 3 loại:
+ Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, nhằm đáp ứng
các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến
hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Đặc điểm: Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh,
tránh được các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế
vĩ mô. Vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác.
+ Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại TD
này thường được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật,
mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này
thường được sử dụng để phát triển quá trình tái sản xuất theo chiều rộng hoặc theo
chiều sâu và kết quả là tăng mức sản xuất và của cải xã hội.
Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn: Vì thời hạn dài và hiệu quả đầu tư
thường là dự tính nên loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá
biệt và rủi ro hệ thống. Mức rủi ro tăng và do đó lãi suất tăng lên cùng thời hạn vay.
- Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay
+ Tín dụng đầu tư: Là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để
tiến hành sản xuất và kinh doanh.
+ Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng cấp phát cho các cá nhân để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng.
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng
+ Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn
lưu động của các tổ chức kinh tế. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ
hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình
thức chiết khấu.
+ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản
cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và
một quy trình tín dụng chặt chẽ để hướng dẫn các nhân viên tín dụng và các bộ
phận có liên quan thực hiện việc cho vay đạt được hiệu quả cao nhất. Cho nên việc
thiết lập một quy trình tín dụng là một bộ phận căn bản của công tác quản lý tín
dụng, quy trính tín dụng của NHTM thường có 5 bước cơ bản sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình tín dụng chung của Ngân hàng thương mại
Bước 1- Thiết lập hồ sơ tín dụng
Hồ sơ tín dụng của một ngân hàng là tài liệu văn bản, biểu hiện mối quan hệ tổng
thể của ngân hàng với khách hàng. Bộ hồ sơ thường bao gồm các loại sau:
- Hồ sơ do khách hàng lập và cung cấp cho ngân hàng bao gồm: Hồ sơ pháp
lý, quyết định thành lập, điều lệ doanh nghiệp, phương án vay vốn, hồ sơ đảm bảo
TD
- Hồ sơ do ngân hàng lập: Các báo cáo thẩm định, các báo cáo khác
Thiết lập
hồ sơ tín
dụng
Phân tích
tín dụng
Quyết định
cấp tín
dụng
Giám sát
thu nợ và
thanh lý
HĐTD
Giải
ngân
- Hồ sơ do ngân hàng và khách hàng cùng lập: Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng
bảo đảm tiền vay
Bước 2 - Phân tích tín dụng
Bất kỳ một khoản tín dụng nào được cấp ra đều phải tuân thủ theo hai nguyên
tắc: khoản tín dụng đó phải được sử dụng đúng mục đích và có hiêu quả, khoản tín
dụng đó phải được hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng kỳ hạn đã cam kết. Nếu tất cả
các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì
ngân hàng không chịu bất cứ RRTD nào.Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vốn
vay, vì một lý do nào đó có thể người vay tiền phá sản, thì việc thu hồi gốc và lãi
TD đầy đủ là không chắc chắn, khoản tín dụng đó không được hoàn trả đúng kỳ hạn
đã cam kết. Điều này làm cho ngân hàng phải chịu một khoản tổn thất như thiếu
vốn khả dụng, mất khả năng thanh toán Những tổn thất này được gọi là RRTD.
Như vậy RRTD phát sinh trong trường hợp Ngân hàng không thu được đầy đủ gốc
và/hoặc lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán gốc và/hoặc lãi không đúng kỳ
hạn.
Rủi ro tín dụng là khả năng một khách hàng vay hoặc một đối tác không
thể thực hiện nghĩa vụ đã thoả thuận dẫn đến việc các khoản cho vay hay các khoản
phải thu của ngân hàng giảm giá trị hoặc không thu hồi được.
Theo Quyết định 493/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 22 tháng 04 năm
2007 của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro
thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách
hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo
cam kết.
Có thể nói, rủi ro tín dụng là rủi ro gắn liền với hoạt động ngân hàng. Rủi ro
tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động
mang tính chất tín dụng khác như: hoạt động bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ
thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, những chứng khoán có giá (trái
phiếu, cổ phiếu…), trái quyền, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ…
1.2.2.Các hình thức rui ro tín dụng
1.2.2.1 Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là khoản nợ mà ngân hàng chấp thuận điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ cho khách hàng do ngân hàng đánh giá khách
hàng suy giảm khả năng trả nợ gốc hoặc lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng tín
Sơ đồ mô hình rủi ro tín dụng của Ngân hàng
Rñi ro tÝn dông
Kh«ng thu ®
îc vèn ®óng
h¹n
Kh«ng
thu ®ñ l·i
Kh«ng thu ®ñ
vèn cho vay
(mÊt vèn)
Kh«ng thu ®
îc l·i ®óng
h¹n
L·i treo
ph¸t sinh
Nî qu¸ h¹n
ph¸t sinh
1. L·i treo ®ãng
b¨ng
2. MiÔn gi¶m l·i
Nî kh«ng
cã kh¶
n¨ng thu
1.2.3.Nguyờn nhõn gõy ri ro tớn dng
Cú ba nhúm nguyờn nhõn c bn gõy nờn ri ro tớn dng. ú l cỏc nguyờn
nhõn khỏch quan t mụi trng bờn ngoi, nguyờn nhõn t phớa khỏch hng, v
nguyờn nhõn t chớnh ngõn hng to nờn.
1.2.3.1 Nguyờn nhõn khỏch quan
Thiờn tai, chin tranh, ho hon, dch bnh gõy thit hi lm cho khỏch hng
vay vn khụng cũn kh nng tr c n ngõn hng. Ri ro cng cú th xy ra do
năng thu
nguồn thu trả nợ ngân hàng. Nhưng trong thời kỳ suy thoái, hàng hoá không bán
được, doanh thu bị giảm sút, doanh nghiệp không có lợi nhuận để trả nợ, ngân hàng
không thu được gốc và lãi đúng hạn. Tuỳ vào mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng
hoảng mà việc ảnh hưởng lên cá nhân và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
cũng như lên khả năng thanh toán các khoản nợ của họ ở mức độ khác nhau: mức
độ khủng hoảng càng cao, sức mua của người tiêu dùng càng giảm sút làm cho hàng
hoá bán ra càng giảm mạnh, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Lạm phát cũng ảnh hưởng bất lợi đến công việc kinh doanh: chi phí đầu
vào tăng làm cho các doanh nghiệp khó khăn về tài chính dẫn đến nhu cầu tín
dụng tăng. Nợ không thay đổi tương ứng với sức mua đồng tiền, vì vậy đã trở
nên gánh nặng đối với doanh nghiệp, kết quả là không trả được nợ.
Chính sách kinh tế của Chính phủ: Chính phủ dùng các chính sách tài khoá,
tiền tệ cùng các công cụ của hệ thống chính sách này tác động vào tổng sản phẩm
quốc dân, việc làm, lạm phát, tỷ giá hối đoái, nhằm giảm bớt những giao động của
chu kỳ kinh tế trong mỗi thời kỳ. Bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách kinh tế
của Chính phủ đều dẫn đến sự thay đổi của lãi suất, tỷ giá hối đoái, điều kiện mở
rộng hay thu hẹp hoạt động tín dụng. Đây là những nhân tố gây nên sự không ổn
định trong kinh doanh tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của Ngân hàng
thương mại. Thực tế đã chứng minh rằng sự thành bại trong việc điều hành chính
sách kinh tế vĩ mô, trong khuôn khổ định hướng phát triển kinh tế quốc gia, phụ
thuộc rất nhiều vào sự điều chỉnh của từng giai đoạn đối với hoạt động của nền kinh
tế nói chung và hệ thống tài chính ngân hàng nói riêng. Vấn đề cần thiết là phải giải
quyết trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế, song có lúc cũng
không tránh khỏi việc đưa các Ngân hàng thương mại vào tình huống bị động. Và
rủi ro, tổn thất đối với các Ngân hàng thương mại là điều không thể tránh khỏi.
Trong điều kiện kinh tế mở cửa hội nhập với thế giới, những biến động lớn
về kinh tế, chính trị trên thế giới có ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế đối ngoại của
một nước mà biểu hiện là cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái, sự biến động của giá
cả hàng hoá xuất nhập khẩu, lãi suất Đây là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới
b. Đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
Có rất nhiều nguyên nhân có thể là do tình hình tài chính, khả năng điều hành
của chủ doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.
Do trình độ năng lực quản lý yếu kém của người điều hành, sử dụng vốn vay
sai mục đích, không có hiệu quả, lãng phí dẫn đến rủi ro.
Do trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp gặp những thiệt hại về
thị trường cung cấp nguyên vật liệu, thiệt hại về giá cả. Cũng có thể doanh nghiệp
gặp thiệt hại trên thị trường tiêu thụ sản phẩm: giá cao, chất lượng kém, hoặc sản
xuất loại sản phẩm không được thị trường chấp nhận.
Do tình trạng tài chính của doanh nghiệp yếu kém, cơ cấu vốn không hợp lý;
vốn tự có ít, vốn để sản xuất kinh doanh hầu hết là vốn tín dụng Ngân hàng, nợ nần
dây dưa.
Do cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp lạc hậu không thể sản
xuất ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Cũng không ít khách hàng lập hồ sơ vay vốn, khi nhận tiền vay không sử
dụng đúng mục đích, dùng tiền vay Ngân hàng để chơi đề, chơi hụi, cờ bạc, buôn
bán hàng cấm, hàng lậu, hàng giả bị lừa đảo dẫn đến mất vốn, không trả được nợ
vay Ngân hàng. Bên cạnh đó cũng xảy ra tình trạng người vay có khả năng tài
chính, nhưng chây ỳ không trả nợ, hoặc tìm cách lừa đảo, chiếm đoạt vốn vay Ngân
hàng.
1.2.3.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Do cán bộ làm công tác tín dụng năng lực chuyên môn yếu, thiếu kiến thức
về thị trường, không am hiểu pháp luật, thiếu thông tin về khách hàng nên tính toán
mức cho vay và nguồn trả nợ không chính xác. Do cán bộ làm sai quy trình nghiệp
vụ, làm trái điều lệ, chế độ, thậm chí thoái hoá, biến chất thông đồng với khách
hàng để tham ô.
Do lạm dụng quyền hạn: Nguyên nhân này gây ra một số lượng rủi ro lớn
trong Ngân hàng. Nó thường biểu hiện ở dạng cho vay không dựa trên nguyên tắc,
điều kiện nào cả, thường là do thân quen, do áp lực của cấp trên. Trường hợp này,
nguyên nhân rủi ro do phát sinh ngay trong Ngân hàng.
biểu hiện mờ nhạt nhưng cũng có dấu hiệu biểu hiện rất rõ ràng. Đó là:
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng
- Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi.
- Thường xuyên yêu cầu Ngân hàng cho gia hạn nợ, giãn nợ, điều chỉnh kỳ
hạn nợ.
- Yêu cầu các khoản vay mới vượt quá nhu cầu dự kiến.
- Sử dụng vốn ngắn hạn cho đầu tư dài hạn.
- Các khoản phải trả giảm, các khoản phải thu tăng lên.
- Các hệ số thanh toán xấu đi.
- Có biểu hiện giảm vốn điều lệ.
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc Ban điều hành.
- Hệ thống Quản trị hoặc Ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản trị,
điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán.
- Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, cạnh tranh kém, thị trường bị thu
hẹp.
- Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất; thay đổi thị hiếu; cập nhật kỹ thuật
mới; mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn; thêm đối thủ cạnh tranh.
- Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp các báo
cáo tài chính, số liệu không chính xác, trung thực
1.2.5.Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Rủi ro hoạt động tín dụng rất đa dạng và phức tạp. Khi xem xét rủi ro tín
dụng thì nợ quá hạn là chỉ tiêu chính để phân cấp rủi ro. Bởi vì nợ quá hạn
phản ánh rõ nhất và trực tiếp nhất tới sự an toàn tín dụng của ngân hàng.
Để đo lường rủi ro các ngân hàng thương mại thường sử dụng các chỉ
tiêu sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn
trên tổng dư nợ
=
Nợ quá hạn
x 100%
1.2.6.Hậu quả của rủi ro tín dụng
1.2.6.1 Đối với Ngân hàng thương mại
Rủi ro tín dụng luôn được coi như mối nguy hiểm lớn nhất đối với hoạt động
của các NHTM. Theo thống kê của Uỷ ban Basel, rủi ro tín dụng là nguyên nhân
gây ra 70% thua lỗ của các ngân hàng trên thế giới.
Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng tài
sản nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề là đã ảnh hưởng lớn đến
thu nhập của ngân hàng, đến khả năng cạnh tranh và uy tín của ngân hàng hoặc
trong trường hợp xấu nhất, làm cho ngân hàng có nguy cơ phá sản.
1.2.6.2 Đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế
Rủi ro tín dụng không chỉ thiệt hại cho ngân hàng mà còn gây thiệt hại cho
toàn xã hội vì nguồn vốn ngân hàng sử dụng chủ yếu được huy động từ vốn nhàn
rỗi trong xã hội. Vì vậy, rủi ro tín dụng có thể làm giảm niềm tin của người gửi tiền,
thậm chí ở mức độ rất nghiêm trọng, có thể xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt.
Nếu không có đủ dự phòng và sự xử lý kịp thời, ngân hàng có thể sụp đổ và có thể
gây hiệu ứng lan truyền đặc trưng của hệ thống ngân hàng, đe doạ sự ổn định của hệ
thống ngân hàng, ảnh hưởng xấu một cách sâu rộng đến nền kinh tế.
Ở khía cạnh hiệu quả đầu tư xã hội, rủi ro tín dụng xảy ra có thể đồng nghĩa
với khoản đầu tư của người vay tiền không có hiệu quả. Nghĩa là lợi ích đầu tư đối
với cả ngân hàng, người vay tiền và xã hội là không có. Mặt khác, tại Việt Nam, giả
sử một NHTMNN gặp khó khăn tài chính do rủi ro tín dụng xảy ra ngoài mong đợi,
ngân hàng đó có thể nhận được sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Khi ngân sách nhà
nước tăng chi cho khoản mục này thì đồng thời phải cắt giảm chi cho khoản mục
khác. Như vậy, điều này ít nhiều ảnh hưởng đến các mục tiêu ổn định và phát triển
của nhà nước.
1.3.Hạn chế của rủi ro tín dụng
1.3.1.Quan niệm về hạn chế rủi ro tín dụng
Hạn chế rủi ro tín dụng là sự ngăn ngừa khả năng xảy ra những tổn thất do
hoạt động tín dụng đưa lại và nếu RRTD xảy ra thì giảm thiểu tổn thất cho ngân
hàng. Là tổ hợp các biện pháp ngân hàng áp dụng nhằm giảm thiểu tối đa những rủi
dựng, trình ngân hàng nhà nước phê duyệt, trên cơ sở đó NHTM sẽ thực hiện phân
loại nợ và trích dự phòng rủi ro theo quyết định 493/2007/QĐ-NHNN và thông tư
15/2010/TT-NHNN ngày 16/6/2010 của NHNN.
1.3.3.Các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng
- Bộ mày quản lý RRTD tại các NHTM nhằm mục đích hoạt động trong
khuôn khổ một qui trình cấp tín dụng lành mạnh; Duy trì công tác quản lý tín dụng,
đo lường và giám sát rủi ro phù hợp; Đảm bảo các biện pháp kiểm soát đầy đủ các
RRTD. Thông thường các NHTM thường cơ cấu bộ máy quản lý RRTD như sau:
Sơ đồ 1.2: Bộ máy quản lý tín dụng
+ Trưởng ban Quản lý rủi ro tại hội sở: Là một trong những thành viên của Uỷ
ban Quản lý rủi ro tại Hội sở. Nhiệm vụ chính là đạt được tầm nhìn, sứ mệnh và
mục đích của công tác quản lý rủi ro của ngân hàng một cách liên tục không gián
đoạn, xây dựng chiến lược về quản lý rủi ro cho Ngân hàng, chủ trì UBTD. Mục
tiêu là quản lý tất cả mọi loại rủi ro trong khuôn khổ giới hạn và điều kiện cho phép.
+ Trưởng phòng QLRR tại chi nhánh: Nhiệm vụ chính là lãnh đạo và giám sát
hiệu quả công tác quản lý rủi ro của chi nhánh, giám sát cán bộ thẩm định tín dụng,
Uỷ ban quản lý rủi ro
Bộ phận quản lý rủi ro tại hội sở
Bộ phận quản lý rủi ro tại chi nhánh
cán bộ theo dõi và quản lý tín dụng, quản lý danh mục vay, đảm bảo hiệu quả của
hệ thống xếp hạng rủi ro tín dụng nội bộ.
Phòng QLRR: Nghiên cứu, phân tích, quản lý rủi ro nhằm đảm bảo phát triển
tín dụng, mở rộng hoạt động một cách an toàn, hiệu quả.
Nhiệm vụ chính của Phòng quản lý RRTD là: Xây dựng chính sách quản lý
RRTD, quản lý danh mục đầu tư, trực tiếp thẩm định rủi ro đối với từng khoản cấp
tín dụng đến khách hàng, tham gia phê duyệt tín dụng, tham gia và giám sát quá
trình thực hiện các quyết định đã được phê duyệt, tham gia xử lý các khoản cấp tín
dụng có vấn đề. Lập báo cáo đánh giá rủi ro. Phân loại nợ, trích lập và dự phòng rủi
ro cho toàn chi nhánh. Đưa ra các thông tin cảnh báo nhằm đảm bảo hoạt động tín
dụng an toàn hiệu quả. Theo dõi hỗ trợ Phòng kinh doanh đánh giá danh mục tín
đích xin vay đã rõ ràng, cán bộ tín dụng phải xác định xem có phù hợp với chính
sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không? và phải xác định xem người vay
có tỏ thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay hay không? có thiện chí và nỗ
lực hết sức để hoàn trả nợ vay khi đến hạn không?. Nếu phát hiện thấy người vay
giả dối trong kế hoạch sử dụng vốn vay và trả nợ như đã thỏa thuận, thì cán bộ tín
dụng phải từ chối cho vay, nếu không rủi ro tín dụng sẽ phát sinh cho ngân hàng.
Năng lực của người vay: Người xin vay phải có đầy đủ năng lực hành vi
và năng lực pháp lý để ký kết hợp động tín dụng. Đối với cá nhân, ở hầu hết các
nước đều quy định người dưới 18 tuổi không đủ tư cách pháp lý để ký hợp đồng tín
dụng. Đối với người đại diện cho công ty khi ký kết hợp đồng tín dụng phải được
ủy quyền hợp pháp của công ty. Trường hợp nếu công ty có đối tác kinh doanh, thì
cán bộ tín dụng phải thỏa thuận với đối tác kinh doanh để xem ai là người được ủy
quyền ký kết hợp đồng tín dụng cho công ty để đảm bảo trách nhiệm thực hiện hợp
đồng.
Thu nhập của người vay: Tiêu chí thu nhập của người vay tập trung vào
câu hỏi: Người vay có đủ khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ hay không? có thể là từ
thu nhập hàng tháng, hay từ doanh thu bán hàng, hoặc từ thanh lý tài sản, hoặc có
thể từ khả năng phát hành chứng khoán. Ngân hàng thường ưu tiên khả năng tạo
tiền từ thu nhập hoặc từ doanh thu bán hàng.
Bảo đảm tiền vay: Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín
dụng phải biết được người vay có sở hữu một tài sản nào có chất lượng để hỗ trợ
khoản vay? Cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như
tính thị trường, tuổi thọ, điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản đảm bảo.
Khía cạnh công nghệ cũng phải đặc biệt chú ý bởi vì nếu tài sản của người vay có
công nghệ lạc hậu, thì giá trị giảm rất nhiều và rất khó tìm được người mua trong
khi công nghệ lại thay đổi hàng ngày.
Các điều kiện: Cán bộ tín dụng cần phải biết được xu hướng hiện hành về
công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế
thay đổi, sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến khoản tín dụng.
Kiểm soát: Tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trong luật pháp
ngân hàng và tổ chức tài chính cho vay dưới chuẩn đã không đánh giá được khách
hàng của mình, đã không giảm thiểu các rủi ro liên quan tới việc cấp vốn cho các
khách hàng và cuối cũng đã phải nhận hậu quả khi các khách hàng này không thanh
toán được nợ.
Việc cho vay mua nhà dưới chuẩn đã tăng 300% từ năm 2003 đến năm 2007,
việc cho vay này nở rộ do 2 nguyên nhân chủ yếu: bong bóng bất động sản tại Mỹ
và sự phát triển của thị trường tài chính khiến cho các khoản vay này dễ dàng được
chứng khoán hóa và buôn bán trên mọi thị trường.
Bong bóng bất động sản tại Mỹ:
Bong bóng bất động sản tại Mỹ khiến cho nhiều người dân chấp vay tiền của
ngân hàng để mua nhà do tin vào giá nhà sẽ tiếp tục tăng cũng như tin vào khả năng
trả nợ của mình. Tuy vậy khi bong bóng này vỡ, giá nhà giảm đi kèm với lãi suất trả
nợ tăng làm cho nhiều người mất khả năng thanh toán nợ. Về phía các ngân hàng,
họ cũng tin rằng giá nhà sẽ tăng nên chấp nhận cung cấp nhiều khoản vay dưới
chuẩn cho khách hàng. Các điều kiện cho vay ban đầu được nới lỏng để kèm theo
một loạt các gói cho vay với thời gian trả lãi dài hạn khiến cho một lượng lớn các
khoản vay dưới hạn được cung ra thị trường. Khoản vay mua nhà dưới chuẩn tăng
gần 300% từ năm 2003 đến năm 2007 và vào tháng 3 năm 2007 đại 1.3 triệu tỉ USD
chiếm hơn 9% GDP. Việc cho vay – đi vay thái quá của cả ngân hàng và người dân
tạo ra rất nhiều các khoản vay không lành mạnh, không dựa trên khả năng trả nợ
thực sự của khách hàng mà lại dựa chủ yếu vào việc tăng giá của bất động sản.
Phát triển của công cụ tài chính, đặc biệt là chứng khoán hóa .
Về mặt lí thuyết, chứng khoán hóa các khoản nợ mua nhà dưới chuẩn thành
các công cụ tài chính rồi thực hiện mua bán trên toàn cầu làm rủi ro được chia nhỏ
cho nhiều bên tham gia. Nhưng trên thực tế, khi được mua đi bán lại nhiều lần trên
thị trường, việc đánh giá đúng mức độ rủi ro của các loại chứng khoán này là vô
cùng khó khăn, rủi ro bây giờ gần như không thể đo lường được. Do mức độ phát
triển của thị trường tài chính toàn cầu, việc một người Nhật Bản hay Singapore sở
hữu các chứng khoán được thế chấp bằng bất động sản (Mortgage Backed
Securities) trong khi người trực tiếp trả nợ lại là một người dân Mỹ là hoàn toàn
Sau 10 năm xây dựng và trưởng thành,đến nay ,Chi nhánh ngân hàng Liên
doanh Lào Việt tại hà nội đã có những bước phát triển mạnh mẽ về quy mô,chất